Ambalaṭṭhikā
Cấp 1
Ambalaṭṭhikā
DN 16: chặng sau Rājagaha, trước Nāḷandā.

- 10/07/2026 13:00:38- 4590 Lượt xem
- 10/07/2026 13:00:38- 1391 Lượt xem
- 10/07/2026 13:00:38- 1381 Lượt xem
- 10/07/2026 13:00:38- 1164 Lượt xem
- 10/07/2026 13:00:38- 1158 Lượt xem
⌖
Magadha hay còn gọi là Ma Kiệt Đà
Magadha hay còn gọi là Ma Kiệt Đà
45 địa danh trực tiếp và nhiều tầng trong cơ sở dữ liệu.
Ambalaṭṭhikā
Cấp 1
DN 16: chặng sau Rājagaha, trước Nāḷandā.
Ambasaṇḍa
Cấp 1
DN 21 trực tiếp đặt làng Bà-la-môn Ambasaṇḍa tại Magadha, phía đông Rājagaha.
Pāṭaligāma
Cấp 1
Pāṭaligāma xuất hiện trong hành trình cuối của Đức Phật; về sau phát triển thành Pāṭaliputta.
Thành Vương Xá (Rājagaha)
Cấp 1
Thành Vương Xá (Rājagaha) là kinh đô của nước Ma Kiệt Đà (Magadha), một kinh thành cổ xưa nhất Ấn Độ, rất trù phú, nguy nga nhưng lại hiểm trở vì núi...
Ambalaṭṭhikā – nhà nghỉ hoàng gia tuyến Rājagaha–Nāḷandā
Cấp 1
Điểm dừng giữa Rājagaha và Nāḷandā; DN 16 trực tiếp kể Đức Phật từ Rājagaha đến Ambalaṭṭhikā, trú tại nhà nghỉ hoàng gia, rồi đi Nāḷandā.
Andhakavinda
Cấp 1
Địa danh thuộc Magadha được chứng thực trực tiếp trong SN 6.13 và AN 5.114: Đức Phật trú giữa người Magadha tại Andhakavinda.
Dakkhiṇāgiri (Nam Sơn / Southern Hills)
Cấp 1
Vùng đồi phía nam thuộc Magadha. SN 7.11/Snp 1.4 trực tiếp đặt Đức Phật ở Magadha, tại Dakkhiṇāgiri, gần làng Bà-la-môn Ekanāḷa.
Khāṇumata
Cấp 1
Làng Bà-la-môn thuộc Magadha; DN 5 trực tiếp nói Đức Phật du hành trong Magadha và đến Khāṇumata. Đây là brahmadeyya/vương địa do vua Bimbisāra ban ch...
Kê Túc sơn (Kukkutapadagiri), nơi nhập diệt của thánh Ca Diếp
Cấp 1
Kê Túc sơn là điểm lịch sử rất quan trọng, nơi nhập diệt của Ngài Ma Ha Ca Diếp, người được phó chúc giữ kim y của đức Phật, đợi đến khi Ngài Di Lặc r...
Nālakagāma (Nālaka)
Cấp 1
Làng Nālakagāma ở Magadha; SN 47.13 ghi Sāriputta viên tịch tại đây.
Bodh Gaya ( Bồ Đề Đạo Tràng )
Cấp 1
Đối với Phật Giáo, Bồ Đề Đạo Tràng là nơi quan trọng nhất trong cuộc đời của Phật Thích Ca. Bodh Gaya (Bồ Đề Đạo Tràng) là thị trấn nhỏ, nằm phía đ...
Ambalaṭṭhikā tại Khāṇumata
Cấp 2
Khu vườn/nơi trú tại Khāṇumata nơi Đức Phật ở trong DN 5. Phải phân biệt với Ambalaṭṭhikā trên tuyến Rājagaha–Nāḷandā của DN 1/DN 16 và Ambalaṭṭhikā c...
Bến Gotama (Gotamatittha)
Cấp 2
DN 16 ghi địa điểm vượt sông được gọi là Gotama Ford/Gotamatittha sau khi Đức Phật vượt Gaṅgā.
Corapapāta (Vách đá Kẻ Trộm)
Cấp 2
DN 16 trực tiếp ghi Đức Phật từng trú tại Corapapāta ở Rājagaha; đây là một cliff/precipice trong cụm địa hình Rājagaha.
Ekanāḷa
Cấp 2
Làng Bà-la-môn thuộc vùng Dakkhiṇāgiri của Magadha; bối cảnh trực tiếp của bài kinh với Kasibhāradvāja.
Gotama Gorge (Khe núi Gotama)
Cấp 2
Vinaya lists Gotama Gorge among the Rājagaha lodging places assigned by Dabba Mallaputta.
Gotamanigrodha (Cây đa Gotama)
Cấp 2
DN 16 trực tiếp ghi Đức Phật từng trú tại Gotamanigrodha ở Rājagaha và gọi nơi này là khả ái.
Hang Pipphali (Pipphaliguhā)
Cấp 2
SN 46.14 trực tiếp ghi Tôn giả Mahākassapa trú tại hang Pipphali khi lâm bệnh; Đức Phật từ Veḷuvana đến thăm.
Hang Thất Diệp (Sattapanni), nơi kết tập kinh điển lần thứ nhất
Cấp 2
Quang cảnh phía trước hang Thất Diệp Để được tham quan hang Thất Diệp (Sattapanni), mọi người trong đoàn phải nghỉ ngơi qua đêm chờ sáng hôm sau đủ...
Khổ hạnh lâm
Cấp 2
Khổ hạnh lâm Khổ Hạnh Lâm - nơi ghi dấu hành trình gian nan của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni trong quá trình tìm kiếm chân lý. Nằm gần làng Urubela (nay...
Kālasilā (Hắc Thạch)
Cấp 2
Kālasilā là Hắc Thạch ở sườn Isigili trong truyền thống kinh/Vinaya; V19 giữ quan hệ phụ thuộc Isigili và chưa gán GPS.
Laṭṭhivana (Rừng Trúc/Cane Grove)
Cấp 2
Khu rừng tại Rājagaha nơi Đức Phật trú khi đến gặp vua Bimbisāra; Vinaya Kd 1 đặt Suppatiṭṭha Cetiya bên trong Laṭṭhivana.
Moranivāpa (Khổng Tước Viên)
Cấp 2
Khu nuôi/cho chim công ăn gần Rājagaha, nơi có tu viện của các du sĩ; MN 77 và AN 11.10 chứng thực trực tiếp.
Ngục khám vua Tần Bà Sa La (Bimbīsara)
Cấp 2
Trên quãng đường đi đến Linh Thứu sơn khoảng 2 km từ tinh xá Trúc Lâm có một bờ tường đá dày 2m, nằm bên trái cách con đường chính chừng 30 m, hình ch...
Núi Isigili
Cấp 2
MN 116 places the Buddha at Rājagaha on Mount Isigili and explains the mountain's name.
Núi Linh Thứu (Grdhrakuta)
Cấp 2
Tương truyền núi Linh Thứu là nơi bế quan tu luyện của Nhiên Đăng Cổ Phật, sau khi thành đạo rồi Ngài mới đến núi Nga Mi, cho nên có câu “trước có Lin...
Núi Paṇḍava
Cấp 2
MN 116 trực tiếp liệt kê Paṇḍava trong các núi bao quanh Rājagaha.
Núi Vebhāra
Cấp 2
MN 116 trực tiếp liệt kê Vebhāra trong các núi bao quanh Rājagaha.
Núi Vediya
Cấp 2
DN 21 đặt núi Vediya ở phía bắc làng Ambasaṇḍa; đây là parent tự nhiên của hang Indasāla.
Núi Vepulla
Cấp 2
MN 116 trực tiếp liệt kê Vepulla; SN 15.20 cũng có bài kinh riêng về núi này trong bối cảnh Rājagaha.
Pippaliguhā (Hang Pippali)
Cấp 2
Ud 1.6 và Ud 3.7 ghi Mahākassapa trú tại Pippali Cave trong bối cảnh Rājagaha.
Rừng Sītavana (Cool Grove)
Cấp 2
SN 10.8 trực tiếp đặt Đức Phật tại Sītavana/Cool Grove gần Rājagaha; đây là nơi Anāthapiṇḍika lần đầu gặp Đức Phật.
Sappasoṇḍikapabbhāra (Hang Vòm Đầu Rắn)
Cấp 2
SN 35.69 đặt Sāriputta và Upasena tại Rājagaha, trong Sītavana/Cool Grove, ở Sappasoṇḍikapabbhāra; DN 16 cũng liệt kê địa điểm này trong Sītavana.
Senānigama (Senānīnigama)
Cấp 2
Làng/thị trấn tại Uruvelā trong Magadha. MN 26 trực tiếp kể Bồ-tát đi qua xứ Magadha và đến Uruvelā, Senānigama; Vinaya Mahāvagga cũng gọi Uruvelā, Se...
Sông Ni Liên Thiền (Niranjana)
Cấp 2
Sông Ni Liên Thiền (Naranjana) cách tháp Đại Tháp khoảng 200 mét về phía Đông. Ngày nay sông này có tên là Lilajan, sông rộng trên 1 cây số, vào mùa n...
Tapoda Gorge (Khe núi Tapoda)
Cấp 2
Vinaya lodging-place list distinguishes Tapoda Gorge from Tapoda Grove/Tapodārāma in the Rājagaha cluster.
Tapodārāma
Cấp 2
DN 16 trực tiếp liệt kê Tapodārāma trong các nơi Đức Phật từng trú tại Rājagaha.
Tinduka Gorge (Khe núi Tinduka)
Cấp 2
Vinaya lists Tinduka Gorge among the Rājagaha lodging places assigned by Dabba Mallaputta.
Vườn nai Maddakucchi
Cấp 2
SN 1.38 và SN 4.13 trực tiếp đặt Đức Phật tại Maddakucchi Deer Park gần Rājagaha trong sự kiện bị mảnh đá làm đau chân.
Tịnh xá Kỳ Hoàn (Jivaka Vihara)
Cấp 2
Tịnh xá Kỳ Hoàn (Jivaka Vihara): - Còn được gọi là Tịnh xá Kỳ Viên Cấp Cô Độc, cũng nằm tại thành Xá Vệ. - Được xây dựng bởi trưởng giả Cấp Cô Đ...
Veḷuvana (Trúc Lâm Tịnh Xá)
Cấp 2
Trúc Lâm Tịnh Xá được xem là ngôi chùa đầu tiên của Phật Giáo. Nơi đây khi Đức Phật còn sống đã ở lại tịnh xá nhiều tháng trời và cũng là nơi ngài Huy...
Vườn xoài Jīvaka (Jīvakambavana)
Cấp 2
Vườn xoài của Jīvaka Komārabhacca tại Rājagaha; đây không phải Jetavana/Kỳ Viên ở Sāvatthī.
Hang Indasāla
Cấp 3
DN 21 trực tiếp đặt Đức Phật trong hang Indasāla trên núi Vediya, phía bắc Ambasaṇḍa.
Kalandakanivāpa (Nơi cho sóc ăn)
Cấp 3
DN 16 phân biệt Kalandakanivāpa như một địa điểm bên trong Veḷuvana tại Rājagaha.
Suppatiṭṭha Cetiya
Cấp 3
Điện/thánh địa Suppatiṭṭha nằm trong Laṭṭhivana tại Rājagaha; Vinaya Kd 1 ghi Đức Phật trú tại đây khi vua Bimbisāra đến yết kiến.
Magadha còn được gọi là Vương quốc Magadha hoặc Đế chế Magadha , là một vương quốc và đế chế , và là một trong mười sáu Mahajanapadas , 'Vương quốc vĩ đại' của Đô thị hóa lần thứ hai , có trụ sở tại miền nam Bihar ở phía đông Đồng bằng sông Hằng , ở Ấn Độ cổ đại . Magadha được cai trị bởi triều đại Brihadratha (1700-682 TCN), triều đại Pradyota (682-544 TCN), triều đại Haryanka (544–413 TCN), triều đại Shaishunaga (413–345 TCN), triều đại Nanda (345–322 TCN), triều đại Mauryan (322–184 TCN), triều đại Shunga (184–73 TCN), triều đại Kanva (73–28 TCN) và Đế chế Gupta (240-550 CN). Triều đại Kanva đã mất phần lớn lãnh thổ sau khi bị Satavahanas của Deccan đánh bại vào năm 28 TCN và bị thu hẹp thành một công quốc nhỏ xung quanh Pataliputra . [2] [3] Tuy nhiên, với sự cai trị của Đế chế Gupta (240-550 CN), Đế chế Gupta đã giành lại Vinh quang của Magadh. Dưới thời Mauryas , Magadh trở thành một đế chế toàn Ấn Độ, bao phủ các vùng rộng lớn của tiểu lục địa Ấn Độ và Afghanistan . Magadh dưới thời Đế chế Gupta nổi lên như Vương quốc thịnh vượng nhất trong Lịch sử Ấn Độ cổ đại.
Magadha đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển của đạo Jain và Phật giáo . [4] Đó là cốt lõi của bốn đế chế vĩ đại nhất miền bắc Ấn Độ, Đế chế Nanda ( c. 345 – c. 322 BCE ), Đế chế Maurya ( c. 322 –185 BCE), Đế chế Shunga ( c. 185 –78 BCE) và Đế quốc Gupta ( c. 240 –550 CN). Đế chế Pala cũng cai trị Magadha và duy trì một trại hoàng gia ở Pataliputra . [5] [6]
Người Pithipatis ở Bodh Gaya tự gọi mình là Magadhādipati và cai trị một số vùng của Magadha cho đến thế kỷ 13. [7]
Lãnh thổ của vương quốc Magadha ngay trước khi mở rộng được giới hạn lần lượt ở phía bắc, phía tây và phía đông bởi các con sông Gangā , Son và Campā , và các nhánh phía đông của dãy núi Vindhya hình thành nên biên giới phía nam của vương quốc này. Do đó, lãnh thổ của vương quốc Magadha ban đầu tương ứng với các quận Patna và Gaya ngày nay của bang Bihar , Ấn Độ . [số 8]
Vùng Magadha Lớn cũng bao gồm các vùng lân cận ở đồng bằng sông Hằng phía đông và có nền văn hóa và tín ngưỡng riêng biệt. Phần lớn quá trình Đô thị hóa lần thứ hai diễn ra ở đây từ ( khoảng năm 500 TCN ) trở đi và chính tại đây, Kỳ Na giáo và Phật giáo đã xuất hiện. [[[Wikipedia:Citing_sources|page needed]]]_10-0" style="line-height:1; unicode-bidi:isolate; white-space:nowrap; font-weight:normal; font-style:normal; font-size:12.8px">[9] [ xác minh không thành công ]
Một số học giả đã xác định bộ tộc Kīkaṭa —được đề cập trong Rigveda (3.53.14) với người cai trị Pramaganda của họ—là tổ tiên của Magadhas vì Kikata được sử dụng như từ đồng nghĩa với Magadha trong các văn bản sau này; [10] Giống như Magadhas trong Atharvaveda, Rigveda nói về Kikatas như một bộ tộc thù địch, sống trên biên giới của Ấn Độ theo đạo Bà la môn, những người không thực hiện các nghi lễ Vệ Đà. [11]
Tài liệu tham khảo sớm nhất về người Magadha xuất hiện trong Atharvaveda , nơi họ được liệt kê cùng với Angas , Gandharis và Mujavats. Trung tâm của vương quốc là khu vực Bihar ở phía nam sông Hằng ; thủ đô đầu tiên của nó là Rajagriha ( ngày nay là Rajgir ), sau đó là Pataliputra (ngày nay là Patna ). Rajagriha ban đầu được gọi là 'Girivrijja' và sau đó được gọi như vậy trong thời trị vì của Ajatashatru . Magadha mở rộng để bao gồm hầu hết Bihar và Bengal với cuộc chinh phục của Liên minh Vajjika và Anga . [12] Vương quốc Magadha cuối cùng đã bao gồm Bihar , Jharkhand, Orissa , Tây Bengal, phía đông Uttar Pradesh và các khu vực ngày nay là các quốc gia Bangladesh và Nepal . [13]
Vương quốc cổ đại Magadha được nhắc đến nhiều trong các văn bản của đạo Jain và Phật giáo . Nó cũng được nhắc đến trong Ramayana , Mahabharata và Puranas .
Có rất ít thông tin nhất định về những người cai trị ban đầu của Magadha. Các nguồn quan trọng nhất là Kinh điển Pāli của Phật giáo , Agama của đạo Jain và Purana của đạo Hindu . Dựa trên những nguồn này, có vẻ như Magadha đã được cai trị bởi triều đại Haryanka trong khoảng 200 năm, c. 543 đến 413 TCN. [14]
Đức Phật Gautama , người sáng lập ra Phật giáo , đã sống phần lớn cuộc đời mình ở vương quốc Magadha. Ngài đã đạt được giác ngộ ở Bodh Gaya , đã thuyết giảng lần đầu tiên ở Sarnath và hội đồng Phật giáo đầu tiên được tổ chức ở Rajgriha . [15]
Mahabharata của Ấn Độ giáo gọi Brihadratha là người cai trị đầu tiên của Magadha. Ripunjaya, vị vua cuối cùng của triều đại Brihadratha, đã bị bộ trưởng Pulika giết chết, người đã lập con trai mình là Pradyota làm vua mới. Triều đại Pradyota được kế vị bởi triều đại Haryanka do Bimbisara sáng lập . Bimbisara đã lãnh đạo một chính sách tích cực và mở rộng, chinh phục Vương quốc Anga ở nơi hiện là Tây Bengal . Vua Bimbisara đã bị con trai mình là Ajatashatru giết chết . Pasenadi , vua của Kosala lân cận và là anh rể của Bimbisara, đã nhanh chóng chiếm lại tỉnh Kashi.
Các tài khoản hơi khác nhau về nguyên nhân cuộc chiến của Vua Ajatashatru với Licchavi , một bộ tộc hùng mạnh ở phía bắc sông Hằng . Có vẻ như Ajatashatru đã cử một bộ trưởng đến khu vực này, người đã làm việc trong ba năm để phá hoại sự đoàn kết của người Licchavis. Để tiến hành cuộc tấn công qua sông Hằng, Ajatashatru đã xây dựng một pháo đài tại thị trấn Pataliputra . Bị giằng xé bởi những bất đồng, người Licchavis đã chiến đấu với Ajatashatru . Phải mất mười lăm năm Ajatashatru mới đánh bại được họ. Các văn bản của đạo Jain kể về cách Ajatashatru sử dụng hai loại vũ khí mới: máy phóng và một cỗ xe có mái che với chùy đung đưa được so sánh với một chiếc xe tăng hiện đại. Pataliputra bắt đầu phát triển thành một trung tâm thương mại và trở thành thủ đô của Magadha sau cái chết của Ajatashatru.
Triều đại Haryanka bị lật đổ bởi triều đại Shishunaga . Người cai trị cuối cùng của Shishunaga, Mahanandin , bị Mahapadma Nanda ám sát vào năm 345 TCN, người đầu tiên trong số những người được gọi là "Chín Nanda", tức là Mahapadma và tám người con trai của ông, người cuối cùng là Dhana Nanda .
Vào năm 326 TCN, quân đội của Alexander đã tiến đến ranh giới phía tây của Magadha. Quân đội, kiệt sức và sợ hãi trước viễn cảnh phải đối mặt với một đội quân Ấn Độ khổng lồ khác tại sông Hằng, đã nổi loạn tại Hyphasis ( sông Beas hiện đại ) và từ chối tiến xa hơn về phía đông. Alexander, sau cuộc gặp với sĩ quan Coenus của mình , đã bị thuyết phục rằng tốt hơn là nên quay trở lại và quay về phía nam, chinh phục con đường của mình xuống sông Indus đến Đại dương.
Khoảng năm 321 TCN, Triều đại Nanda kết thúc với thất bại của Dhana Nanda trước tay Chandragupta Maurya , người đã trở thành vị vua đầu tiên của Đế chế Maurya với sự giúp đỡ của người cố vấn Chanakya . Đế chế sau đó mở rộng ra hầu hết Ấn Độ dưới thời Vua Ashoka Đại đế , lúc đầu được gọi là 'Ashoka tàn bạo' nhưng sau đó trở thành đệ tử của Phật giáo và được gọi là ' Dharma Ashoka'. [16] [17] Sau đó, Đế chế Maurya kết thúc, cũng như các đế chế Shunga và Khārabēḷa , được thay thế bằng Đế chế Gupta . Thủ đô của Đế chế Gupta vẫn là Pataliputra ở Magadha.
Trong thời kỳ Pala ở Magadha từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 13 sau Công nguyên, một triều đại Phật giáo địa phương được gọi là Pithipatis của Bodh Gaya đã cai trị như là các chư hầu của Đế chế Pala. [7]
Một số phong trào Śramaṇic đã tồn tại trước thế kỷ thứ 6 trước Công nguyên, và những phong trào này đã ảnh hưởng đến cả truyền thống āstika và nāstika của triết học Ấn Độ. [18] Phong trào Śramaṇa đã làm nảy sinh nhiều niềm tin không chính thống, từ chấp nhận hoặc phủ nhận khái niệm linh hồn, thuyết nguyên tử, đạo đức phản luật học, chủ nghĩa duy vật, thuyết vô thần, thuyết bất khả tri, thuyết định mệnh cho đến ý chí tự do, lý tưởng hóa chủ nghĩa khổ hạnh cực đoan cho đến cuộc sống gia đình. , ahimsa nghiêm ngặt (bất bạo động) và ăn chay đối với việc cho phép bạo lực và ăn thịt. [19] Vương quốc Magadha là trung tâm đầu não của cuộc cách mạng này.
Kỳ Na giáo được hồi sinh và tái lập sau Mahavira , vị Tirthankara cuối cùng và thứ 24 , người đã tổng hợp và hồi sinh các triết lý và truyền bá của các truyền thống Śramaṇic cổ đại do vị tirthankara Kỳ Na giáo đầu tiên Rishabhanatha đặt ra hàng triệu năm trước. [20] Đức Phật đã sáng lập ra Phật giáo và nhận được sự bảo trợ của hoàng gia trong vương quốc.
Theo nhà Ấn Độ học Johannes Bronkhorst , văn hóa Magadha về cơ bản khác với các vương quốc Vệ Đà của người Ấn Độ-Aryan . Theo Bronkhorst, văn hóa śramana nảy sinh ở " Greater Magadha ", là văn hóa Indo-Aryan, nhưng không phải Vệ Đà . Trong nền văn hóa này, Kshatriyas được đặt cao hơn Bà La Môn , và nó bác bỏ thẩm quyền và nghi lễ Vệ Đà . [[[Wikipedia:Citing_sources|page needed]]]_10-1" style="line-height:1; unicode-bidi:isolate; white-space:nowrap; font-weight:normal; font-style:normal; font-size:12.8px">[9] [21] Ông lập luận về một khu vực văn hóa được gọi là " Greater Magadha ", được định nghĩa đại khái là khu vực địa lý nơi Đức Phật và Mahavira đã sống và giảng dạy. [[[Wikipedia:Citing_sources|page needed]]]_10-2" style="line-height:1; unicode-bidi:isolate; white-space:nowrap; font-weight:normal; font-style:normal; font-size:12.8px">[9] [22]
Về Đức Phật, khu vực này trải dài từ Śrāvastī , thủ đô của Kosala , ở phía tây bắc đến Rājagṛha , thủ đô của Magadha, ở phía đông nam". [23] Theo Bronkhorst "thực sự có một nền văn hóa của Đại Magadha vẫn có thể nhận ra được sự khác biệt so với nền văn hóa Vệ Đà cho đến thời của nhà ngữ pháp Patañjali (khoảng năm 150 TCN) và sau đó". [24] Nhà Phật học Alexander Wynne viết rằng có "một lượng bằng chứng áp đảo" cho thấy nền văn hóa đối thủ này với người Aryan Vệ Đà đã thống trị đồng bằng sông Hằng phía đông trong thời kỳ Phật giáo đầu. Do đó, những người Bà la môn Vệ Đà chính thống là thiểu số ở Magadha trong thời kỳ đầu này. [25]
Các tôn giáo Magadhan được gọi là các truyền thống sramana và bao gồm Kỳ Na giáo , Phật giáo và Ājīvika . Phật giáo và Kỳ Na giáo là những tôn giáo được các vị vua đầu tiên của Magadhan thúc đẩy, chẳng hạn như Srenika, Bimbisara và Ajatashatru , và Triều đại Nanda (345–321 TCN) sau đó chủ yếu là Kỳ Na giáo. Các tôn giáo Sramana này không thờ các vị thần Vệ Đà , thực hành một số hình thức khổ hạnh và thiền định ( jhana ) và có xu hướng xây dựng các gò chôn cất tròn (gọi là stupa trong Phật giáo). [24] Các tôn giáo này cũng tìm kiếm một số loại giải thoát khỏi các vòng luân hồi tái sinh và quả báo nghiệp chướng thông qua kiến thức tâm linh.
Trong số các địa điểm Phật giáo hiện có ở vùng Magadha bao gồm hai Di sản Thế giới của UNESCO như đền Mahabodhi ở Bodh Gaya [26] và tu viện Nalanda . [27] Đền Mahabodhi là một trong những địa điểm hành hương quan trọng nhất trong thế giới Phật giáo và được cho là đánh dấu địa điểm mà Đức Phật đạt được giác ngộ. [28]
Bắt đầu từ các bài bình luận Nguyên thủy, ngôn ngữ Pali đã được đồng nhất với Magahi , ngôn ngữ của vương quốc Magadha, và đây cũng được coi là ngôn ngữ mà Đức Phật đã sử dụng trong suốt cuộc đời của Ngài. Vào thế kỷ 19, nhà Đông phương học người Anh Robert Caesar Childers lập luận rằng tên thật hoặc tên địa lý của ngôn ngữ Pali là Magadhi Prakrit , và bởi vì pāḷi có nghĩa là "dòng, hàng, chuỗi", những Phật tử đầu tiên đã mở rộng ý nghĩa của thuật ngữ này thành "một loạt sách", vì vậy pāḷibhāsā có nghĩa là "ngôn ngữ của văn bản". [29] Tuy nhiên, tiếng Pali vẫn giữ lại một số đặc điểm phương đông được gọi là Māgadhiism . [30]
Magadhi Prakrit là một trong ba prakrits kịch tính xuất hiện sau sự suy tàn của tiếng Phạn. Nó được nói ở Magadha và các vùng lân cận và sau đó phát triển thành các ngôn ngữ Ấn-Aryan phía đông hiện đại như Magahi , Maithili và Bhojpuri . [31]
Lịch sử của vùng Magadha rất rộng lớn, có thể chia thành nhiều thời kỳ như sau:
Có nhiều điều không chắc chắn về sự kế vị của các vị vua và niên đại chính xác của Magadha trước Mahapadma Nanda; lời kể của nhiều văn bản cổ khác nhau (tất cả đều được viết muộn hơn nhiều thế kỷ so với thời đại được đề cập) mâu thuẫn với nhau ở nhiều điểm.
Hai nhà cai trị đáng chú ý của Magadha là Bimbisara (còn được gọi là Shrenika ) và con trai của ông là Ajatashatru (còn được gọi là Kunika ), được nhắc đến trong văn học Phật giáo và Jain là những người cùng thời với Đức Phật và Mahavira. Sau đó, ngai vàng của Magadha đã bị Mahapadma Nanda , người sáng lập ra Triều đại Nanda ( khoảng năm 345 – khoảng năm 322 TCN ), người đã chinh phục phần lớn miền bắc Ấn Độ, cướp ngôi. Triều đại Nanda đã bị lật đổ bởi Chandragupta Maurya , người sáng lập ra Đế chế Maurya ( khoảng năm 322 –185 TCN).
Hơn nữa, có một "Niên đại dài" và một "Niên đại ngắn" tương phản được một số học giả ưa thích, một vấn đề gắn bó chặt chẽ với niên đại không chắc chắn của Đức Phật và Mahavira . [32] Theo nhà sử học KTS Sarao , người đề xuất Niên đại ngắn trong đó Đức Phật thọ khoảng 477–397 TCN, có thể ước tính rằng Bimbisara trị vì khoảng 457–405 TCN, và Ajatashatru trị vì khoảng 405– 373 TCN. [33] Theo nhà sử học John Keay , một người đề xướng "Niên đại dài", Bimbisara chắc hẳn đã trị vì vào cuối thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên, [34] và Ajatashatru vào đầu thế kỷ thứ 4 trước Công nguyên. [35] Keay nói rằng có sự không chắc chắn lớn về sự kế vị của hoàng gia sau cái chết của Ajatashatru, có lẽ bởi vì đã có một thời kỳ xảy ra "những âm mưu và vụ giết người trong triều đình", trong đó "rõ ràng là ngai vàng đã được đổi chủ thường xuyên, có lẽ có nhiều hơn một người đương nhiệm tuyên bố giành quyền kế vị." chiếm giữ nó cùng lúc" cho đến khi Mahapadma Nanda có thể giành được ngai vàng. [35]
“Niên đại dài” sau đây là theo kinh Phật Mahavamsa : [36]
| Cái thước kẻ | Triều đại (trước Công nguyên) |
|---|---|
| Bimbisara | 544–491 TCN |
| Ajatashatru | 491–461 TCN |
| Udayin | 461–428 TCN |
| Anirudha | 428–419 TCN |
| Munda | 419–417 TCN |
| Darshaka | 417–415 TCN |
| Nāgadāsaka | 415–413 TCN |
| Cái thước kẻ | Triều đại (trước Công nguyên) |
|---|---|
| Shishunaga | 413–395 TCN |
| Kalashoka | 395–377 TCN |
| Kshemadharman | 377–365 TCN |
| Kshatraujas | 365–355 TCN |
| Nandivardhana | 355–349 TCN |
| Mahanandin | 349–345 TCN |
| Cái thước kẻ | Triều đại (trước Công nguyên) |
|---|---|
| Mahapadma Nanda | 345–340 TCN |
| Pandhukananda | 340–339 TCN |
| PanghupatiẾnanda | 339–338 TCN |
| Bhutapalananda | 338–337 TCN |
| Rashtrapalananada | 337–336 TCN |
| Govishanakananda | 336–335 TCN |
| Dashasidkhakananda | 335–334 TCN |
| Kaivartananda | 334–333 TCN |
| Karvinathanand | 333–330 TCN |
| Dhana Nanda | 330–322 TCN |
Văn học Ấn Độ giáo chủ yếu là Purana đưa ra một trình tự khác: [37]
Một danh sách ngắn hơn xuất hiện trong truyền thống Jain, chỉ liệt kê Shrenika (Bimbisara), Kunika (Ajatashatru), Udayin, tiếp theo là triều đại Nanda. [37]
Những người quan trọng từ vùng Magadha bao gồm:
Magadha (Pāli: Magadha; Hán-Việt thường gọi Ma-kiệt-đà, Ma-yết-đà) là một trong mười sáu Mahājanapada – mười sáu đại quốc của Ấn Độ cổ đại và là một trong những vùng đất quan trọng nhất đối với cuộc đời Đức Phật Gotama cũng như sự hình thành của Phật giáo sơ kỳ.
Trong thời Đức Phật, trung tâm chính trị của Magadha là Rājagaha (Vương Xá). Vua Bimbisāra (Bình-sa) là một trong những vị vua bảo trợ nổi bật cho Đức Phật và Tăng đoàn. Sau Bimbisāra, con trai ông là Ajātasattu (A-xà-thế) trở thành vua Magadha.
Magadha đặc biệt quan trọng vì trong lãnh thổ này có nhiều địa danh gắn trực tiếp với cuộc đời Đức Phật như Uruvelā/Bodhgayā, Rājagaha, Veḷuvana, Gijjhakūṭa, Nāḷandā và nhiều địa điểm khác.
Nếu phải chọn một vùng đất có ảnh hưởng sâu rộng nhất đối với lịch sử Phật giáo sơ kỳ, Magadha chắc chắn thuộc nhóm trung tâm hàng đầu.
Magadha được kinh điển Pāli ghi nhận trong danh sách mười sáu Mahājanapada.
Vào thời Đức Phật, đây không chỉ là một quốc gia lớn mà còn đang trong quá trình mở rộng quyền lực.
Dưới thời Bimbisāra và Ajātasattu, Magadha ngày càng trở thành một thế lực chính trị quan trọng ở miền đông lưu vực sông Hằng.
Sau thời Đức Phật, Magadha tiếp tục phát triển và trở thành trung tâm của nhiều đế chế lớn. Tuy nhiên, đối với hồ sơ Địa danh Phật học, giai đoạn cần ưu tiên là Magadha trong thế kỷ của Đức Phật và những năm ngay sau khi Ngài nhập Parinibbāna.
Rājagaha (Sanskrit: Rājagṛha; Hán-Việt: Vương Xá) là kinh đô của Magadha trong phần lớn thời Đức Phật.
Thành phố nằm giữa các dãy núi và xuất hiện rất nhiều lần trong kinh điển Pāli.
Đức Phật nhiều lần cư trú tại Rājagaha và vùng phụ cận. Nhiều bài kinh quan trọng được thuyết tại đây.
Rājagaha vì vậy cần được xem là một record địa danh riêng nhưng có quan hệ trực tiếp:
Magadha → Rājagaha → Veḷuvana / Gijjhakūṭa / các địa điểm Phật giáo quanh Vương Xá.
Ngày nay Rājagaha thường được xác định với Rajgir, Bihar, Ấn Độ.
Bimbisāra là vua Magadha trong giai đoạn đầu cuộc đời hoằng pháp của Đức Phật.
Truyền thống Phật giáo kể rằng Bimbisāra đã gặp vị Bồ-tát Siddhattha trước khi Ngài giác ngộ. Sau khi Đức Phật thành đạo và trở lại Rājagaha, nhà vua trở thành một người bảo trợ quan trọng của Đức Phật và Tăng đoàn.
Tên tuổi Bimbisāra đặc biệt gắn với Veḷuvana – Trúc Lâm.
Nhà vua cúng dường khu vườn này để Đức Phật và Tăng đoàn sử dụng làm nơi cư trú.
Sự kiện này đánh dấu một giai đoạn quan trọng trong quá trình Tăng đoàn chuyển từ đời sống du hành sang sử dụng những khu cư trú được cư sĩ và hoàng gia cúng dường.
Veḷuvana (Trúc Lâm) tại Rājagaha là một trong những địa điểm Phật giáo nổi tiếng nhất của Magadha.
Đây là khu vườn được vua Bimbisāra cúng dường cho Đức Phật và Tăng đoàn.
Rất nhiều bài kinh có công thức mở đầu cho biết Đức Phật đang trú:
tại Rājagaha, ở Veḷuvana, nơi cho sóc ăn (Kalandakanivāpa).
Do đó nên tạo quan hệ dữ liệu:
Magadha → Rājagaha → Veḷuvana → Kalandakanivāpa.
Veḷuvana không nên chỉ được ghi như một thắng tích du lịch mà cần được xem là một trong những trung tâm sinh hoạt quan trọng nhất của Tăng đoàn thời kỳ đầu.
Một địa điểm đặc biệt quan trọng khác của Magadha là Gijjhakūṭa – núi Linh Thứu (Vulture Peak), nằm gần Rājagaha.
Đức Phật nhiều lần cư trú tại đây.
Nhiều bài kinh trong các Nikāya đặt bối cảnh Đức Phật ở Gijjhakūṭa.
Đặc biệt, phần mở đầu Mahāparinibbāna Sutta (DN 16) đặt Đức Phật tại Rājagaha, trên núi Gijjhakūṭa, trong thời điểm vua Ajātasattu đang có ý định tiến đánh người Vajji.
Do đó Gijjhakūṭa là một trong những địa điểm có chứng cứ kinh điển trực tiếp và rất mạnh.
Ý nghĩa của Magadha đối với Phật giáo còn sâu sắc hơn vì vùng Uruvelā nằm trong không gian lịch sử của Magadha.
Sau nhiều năm tìm đạo và thực hành khổ hạnh, Bồ-tát Siddhattha đến Uruvelā.
Tại vùng này, bên bờ sông Nerañjarā, Ngài ngồi thiền dưới một cây assattha và chứng đạt Vô thượng Chánh đẳng giác, trở thành Đức Phật.
Địa điểm giác ngộ về sau được gọi là Bodhgayā, còn cây được gọi là Bodhi – Bồ-đề.
Vì vậy có thể thiết lập chuỗi quan hệ:
Magadha → Uruvelā → Nerañjarā → Bodhi → Bodhgayā → Đức Phật thành đạo.
Đây là một trong những mối quan hệ địa danh quan trọng nhất của toàn bộ database Nikaya Tâm Học.
Magadha là một trong những vùng hoạt động chính của Tăng đoàn trong những năm đầu sau khi Đức Phật giác ngộ.
Rājagaha trở thành một trung tâm quan trọng để Đức Phật và các đệ tử cư trú, thuyết pháp và tiếp xúc với nhiều tầng lớp xã hội.
Nhiều đại đệ tử nổi tiếng của Đức Phật có những mối liên hệ đặc biệt với khu vực này.
Trong vùng Magadha và các khu vực lân cận, những nhân vật như Sāriputta, Mahāmoggallāna, Mahākassapa và nhiều vị khác xuất hiện trong các sự kiện quan trọng của Phật giáo sơ kỳ.
Do đó Magadha không chỉ là một quốc gia bảo trợ Phật giáo mà còn là một trong những môi trường quan trọng nhất trong quá trình hình thành cộng đồng Tăng đoàn.
Hai vị đại đệ tử Sāriputta (Xá-lợi-phất) và Mahāmoggallāna (Đại Mục-kiền-liên) có quan hệ đặc biệt với khu vực Magadha.
Trước khi trở thành đệ tử Đức Phật, hai vị cùng theo đạo sư Sañjaya.
Sau khi Sāriputta gặp Tôn giả Assaji và nghe bài kệ nổi tiếng về các pháp do duyên sinh, hai người tìm đến Đức Phật và gia nhập Tăng đoàn.
Sự kiện này thuộc giai đoạn đầu phát triển của Tăng đoàn và gắn chặt với môi trường Rājagaha.
Sau Bimbisāra, Ajātasattu trở thành vua Magadha.
Nhân vật này có một lịch sử phức tạp trong kinh điển Phật giáo.
Ajātasattu đã gây trọng tội đối với vua cha Bimbisāra, nhưng về sau tìm đến Đức Phật.
Một trong những bài kinh nổi tiếng nhất liên quan đến nhà vua là Sāmaññaphala Sutta – Kinh Sa-môn quả (DN 2).
Trong bài kinh, Ajātasattu đến gặp Đức Phật và hỏi về kết quả thiết thực của đời sống xuất gia.
Cuộc đối thoại trở thành một trong những bài kinh quan trọng mô tả tiến trình tu tập của một vị sa-môn.
Jīvaka Komārabhacca là danh y nổi tiếng có quan hệ với triều đình Magadha và Tăng đoàn.
Khu vườn xoài của Jīvaka – Jīvakambavana – tại Rājagaha cũng trở thành một địa điểm Đức Phật cư trú.
Sāmaññaphala Sutta đặt cuộc gặp giữa vua Ajātasattu và Đức Phật tại vườn xoài của Jīvaka.
Vì vậy database nên liên kết:
Magadha → Rājagaha → Jīvakambavana → Jīvaka → Ajātasattu → DN 2.
Nāḷandā cũng nằm trong vùng Magadha và xuất hiện trong kinh điển thời Đức Phật.
Đức Phật nhiều lần đi qua hoặc cư trú tại Nāḷandā.
Cần phân biệt rõ:
Nāḷandā trong Nikāya thời Đức Phật
với
Đại học/đại tu viện Nālandā nổi tiếng của nhiều thế kỷ sau.
Địa danh đã tồn tại trong thời Đức Phật, nhưng trung tâm đại học Phật giáo khổng lồ mà lịch sử biết đến thuộc thời kỳ muộn hơn.
Không nên nhập hai giai đoạn thành một.
Trong những năm cuối đời Đức Phật, kinh điển ghi lại Pāṭaligāma, một địa điểm đang được các đại thần Magadha xây dựng và củng cố.
Đức Phật được truyền thống DN 16 ghi nhận đã tiên đoán rằng nơi này sẽ trở thành một đô thị quan trọng.
Pāṭaligāma về sau phát triển thành Pāṭaliputta, một trong những thành phố quan trọng nhất của lịch sử Ấn Độ và trở thành kinh đô của Magadha trong thời kỳ sau.
Vì vậy cần phân biệt:
Thời Đức Phật: Rājagaha là kinh đô Magadha.
Giai đoạn về sau: Pāṭaliputta trở thành trung tâm chính trị lớn và kinh đô.
Không nên trình bày Pāṭaliputta như kinh đô chính của Magadha trong toàn bộ thời Đức Phật.
Trong những năm cuối đời Đức Phật, vua Ajātasattu có ý định tiến đánh liên minh Vajji.
Mahāparinibbāna Sutta ghi rằng nhà vua sai Bà-la-môn Vassakāra, đại thần Magadha, đến hỏi ý Đức Phật.
Đức Phật không đưa ra chiến lược quân sự mà hỏi Tôn giả Ānanda về những nguyên tắc giúp người Vajji duy trì sự cường thịnh.
Sự kiện này cung cấp một bức tranh quan trọng về quan hệ giữa chế độ quân chủ Magadha và liên minh cộng hòa Vajji.
Sau khi Đức Phật nhập Parinibbāna tại Kusinārā, Rājagaha thuộc Magadha trở thành địa điểm gắn với cuộc kết tập Phật giáo đầu tiên theo truyền thống.
Cuộc kết tập được tổ chức dưới sự lãnh đạo của Mahākassapa.
Ānanda tụng lại phần giáo pháp và Upāli tụng lại giới luật theo truyền thống được bảo tồn trong Luật tạng.
Địa điểm thường được truyền thống xác định là khu vực Sattapaṇṇi Cave – hang Sattapaṇṇi, gần Rājagaha.
Điều này khiến Magadha có vai trò đặc biệt không chỉ trong cuộc đời Đức Phật mà cả trong việc bảo tồn giáo pháp ngay sau khi Ngài nhập diệt.
Magadha nằm ở miền đông của đồng bằng sông Hằng.
Lãnh thổ cốt lõi thời kỳ đầu thường được đối chiếu với khu vực nam Bihar, Ấn Độ ngày nay, đặc biệt quanh Rajgir và Gaya.
Các ranh giới truyền thống thường được mô tả liên hệ với:
sông Gaṅgā ở phía bắc;
vùng Aṅga về phía đông;
sông Soṇa và các khu vực phía tây;
những vùng đồi núi phía nam.
Tuy nhiên, lãnh thổ Magadha thay đổi đáng kể theo từng thời kỳ.
Vì vậy trên bản đồ Nikaya Tâm Học nên thể hiện phạm vi Magadha thời Đức Phật, không sử dụng lãnh thổ của đế chế Maurya hoặc các đế chế Magadha hậu kỳ để minh họa cho thế kỷ của Đức Phật.
Một số nghiên cứu hiện đại sử dụng khái niệm “Greater Magadha – Đại Magadha” để chỉ một vùng văn hóa rộng hơn miền đông Bắc Ấn, nơi các truyền thống śramaṇa như Phật giáo, Jain và Ājīvika phát triển.
Khái niệm này hữu ích cho nghiên cứu lịch sử tư tưởng.
Tuy nhiên:
Greater Magadha không đồng nghĩa với Vương quốc Magadha.
Trong database địa danh, hai khái niệm này không nên nhập làm một.
Record hiện tại nên mô tả Magadha với tư cách một Mahājanapada/chính thể lịch sử, còn “Greater Magadha” nếu cần nên được giải thích riêng như một khái niệm nghiên cứu hiện đại.
Truyền thống Theravāda đôi khi gọi ngôn ngữ kinh điển là Māgadhī.
Tuy nhiên, không nên đơn giản khẳng định rằng Pāli chính là ngôn ngữ nói của Magadha thời Đức Phật.
Pāli là ngôn ngữ kinh điển có nhiều đặc điểm ngôn ngữ khác nhau và mối quan hệ chính xác giữa Pāli, Māgadhī cổ và các phương ngữ Trung Ấn thời Đức Phật là vấn đề nghiên cứu phức tạp.
Do đó nên ghi thận trọng:
Truyền thống Theravāda liên hệ ngôn ngữ kinh điển với Māgadhī, nhưng Pāli không thể đơn giản đồng nhất với Magadhi Prakrit lịch sử được biết đến từ các giai đoạn sau.
Rājagaha – kinh đô thời Đức Phật;
Veḷuvana – Trúc Lâm;
Kalandakanivāpa – nơi cho sóc ăn tại Veḷuvana;
Gijjhakūṭa – núi Linh Thứu;
Jīvakambavana – vườn xoài của Jīvaka;
Uruvelā – vùng Đức Phật tu tập trước khi giác ngộ;
Bodhgayā – khu vực Bồ-đề đạo tràng;
Nerañjarā – con sông gắn với Uruvelā;
Nāḷandā;
Pāṭaligāma – tiền thân của Pāṭaliputta;
Sattapaṇṇi – địa điểm truyền thống của cuộc kết tập thứ nhất.
Đức Phật Gotama;
vua Bimbisāra;
vua Ajātasattu;
Sāriputta;
Mahāmoggallāna;
Mahākassapa;
Ānanda;
Upāli;
Jīvaka Komārabhacca;
Vassakāra;
Assaji.
DN 2 – Sāmaññaphala Sutta (Kinh Sa-môn quả)
DN 16 – Mahāparinibbāna Sutta (Kinh Đại Bát-niết-bàn)
Các bài kinh có bối cảnh Rājagaha – Veḷuvana
Các bài kinh có bối cảnh Gijjhakūṭa
Các kinh liên quan Nāḷandā
Các phần Vinaya/Mahāvagga liên quan Bimbisāra, Veḷuvana và Tăng đoàn thời kỳ đầu
Các phần Vinaya/Cullavagga liên quan cuộc kết tập thứ nhất
Khó có thể hiểu lịch sử Phật giáo sơ kỳ nếu tách khỏi Magadha.
Tại vùng đất này:
Bồ-tát Siddhattha đạt giác ngộ tại Uruvelā/Bodhgayā.
Bimbisāra trở thành một trong những vị vua bảo trợ quan trọng của Tăng đoàn.
Veḷuvana trở thành một trung tâm cư trú lớn của Đức Phật và chư Tăng.
Rājagaha và Gijjhakūṭa trở thành bối cảnh của nhiều bài kinh.
Ajātasattu xuất hiện trong nhiều sự kiện quan trọng những năm cuối đời Đức Phật.
Rājagaha trở thành địa điểm của cuộc kết tập đầu tiên theo truyền thống sau khi Đức Phật nhập Parinibbāna.
Vì thế, Magadha có thể được xem là một trong những trung tâm địa lý quan trọng nhất của Phật giáo thời kỳ đầu.
Record hiện tại dành quá nhiều dung lượng cho lịch sử Magadha từ thời Vệ Đà đến Nanda, Maurya, Śuṅga, Gupta và thời trung cổ.
Những dữ liệu đó có giá trị đối với lịch sử Ấn Độ nhưng không nên chiếm phần chính của hồ sơ Địa danh Phật học thời Đức Phật.
Đặc biệt cần tránh:
dùng lãnh thổ đế chế Maurya để minh họa Magadha thời Đức Phật;
đồng nhất Pāli một cách tuyệt đối với Magadhi Prakrit;
trình bày niên đại Bimbisāra/Ajātasattu như hoàn toàn chắc chắn;
trộn Nāḷandā thời Đức Phật với đại tu viện Nālandā nhiều thế kỷ sau;
gọi Pāṭaliputta là kinh đô chính của Magadha trong toàn bộ thời Đức Phật;
trộn “Greater Magadha” với chính thể Magadha.
“Magadha (Ma-kiệt-đà) là một trong mười sáu Mahājanapada và là một trung tâm quan trọng bậc nhất của Phật giáo thời Đức Phật. Kinh đô thời ấy là Rājagaha; vua Bimbisāra là người bảo trợ lớn của Tăng đoàn và cúng dường Veḷuvana. Magadha cũng bao gồm nhiều địa danh trọng yếu như Uruvelā/Bodhgayā, nơi Đức Phật thành đạo, cùng Gijjhakūṭa, Nāḷandā và các địa điểm quanh Rājagaha.”
Tên: Magadha
Tên Việt/Hán-Việt: Ma-kiệt-đà / Ma-yết-đà
Loại: Mahājanapada – đại quốc thời Phật
Kinh đô thời Đức Phật: Rājagaha
Kinh đô về sau: Pāṭaliputta
Vua tiêu biểu thời Đức Phật: Bimbisāra, Ajātasattu
Vị trí: Nam Bihar, Ấn Độ ngày nay (ước định)
Địa danh Phật học nổi bật: Rājagaha, Veḷuvana, Gijjhakūṭa, Uruvelā/Bodhgayā, Nāḷandā, Pāṭaligāma
Vai trò: Một trong những trung tâm chính của cuộc đời Đức Phật và Tăng đoàn sơ kỳ
Chứng cứ Nikāya: Rất cao
Độ chắc chắn của đường biên hiện đại: Trung bình/thấp
RẤT CAO – Magadha là một Mahājanapada và Rājagaha là trung tâm chính trị quan trọng của nước này trong thời Đức Phật.
RẤT CAO – Đức Phật nhiều lần cư trú tại Rājagaha, Veḷuvana và Gijjhakūṭa.
RẤT CAO – Bimbisāra và Ajātasattu là những vua Magadha có vai trò lớn trong kinh điển Phật giáo.
RẤT CAO – khu vực Uruvelā/Bodhgayā thuộc không gian Magadha và gắn với sự giác ngộ của Đức Phật.
CAO – Pāṭaligāma phát triển thành Pāṭaliputta và trở thành trung tâm chính trị quan trọng sau này.
CAO – theo truyền thống Luật tạng – cuộc kết tập thứ nhất được tổ chức tại Rājagaha sau Parinibbāna.
TRUNG BÌNH/THẤP – việc dựng chính xác đường biên Magadha thời Đức Phật trên bản đồ hiện đại.
Magadha còn được gọi là Vương quốc Magadha hoặc Đế chế Magadha , là một vương quốc và đế chế , và là một trong mười sáu Mahajanapadas , 'Vương quốc vĩ đại' của Đô thị hóa lần thứ hai , có trụ sở tại miền nam Bihar ở phía đông Đồng bằng sông Hằng , ở Ấn Độ cổ đại . Magadha được cai trị bởi triều đại Brihadratha (1700-682 TCN), triều đại Pradyota (682-544 TCN), triều đại Haryanka (544–413 TCN), triều đại Shaishunaga (413–345 TCN), triều đại Nanda (345–322 TCN), triều đại Mauryan (322–184 TCN), triều đại Shunga (184–73 TCN), triều đại Kanva (73–28 TCN) và Đế chế Gupta (240-550 CN). Triều đại Kanva đã mất phần lớn lãnh thổ sau khi bị Satavahanas của Deccan đánh bại vào năm 28 TCN và bị thu hẹp thành một công quốc nhỏ xung quanh Pataliputra . [2] [3] Tuy nhiên, với sự cai trị của Đế chế Gupta (240-550 CN), Đế chế Gupta đã giành lại Vinh quang của Magadh. Dưới thời Mauryas , Magadh trở thành một đế chế toàn Ấn Độ, bao phủ các vùng rộng lớn của tiểu lục địa Ấn Độ và Afghanistan . Magadh dưới thời Đế chế Gupta nổi lên như Vương quốc thịnh vượng nhất trong Lịch sử Ấn Độ cổ đại.
Magadha đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển của đạo Jain và Phật giáo . [4] Đó là cốt lõi của bốn đế chế vĩ đại nhất miền bắc Ấn Độ, Đế chế Nanda ( c. 345 – c. 322 BCE ), Đế chế Maurya ( c. 322 –185 BCE), Đế chế Shunga ( c. 185 –78 BCE) và Đế quốc Gupta ( c. 240 –550 CN). Đế chế Pala cũng cai trị Magadha và duy trì một trại hoàng gia ở Pataliputra . [5] [6]
Người Pithipatis ở Bodh Gaya tự gọi mình là Magadhādipati và cai trị một số vùng của Magadha cho đến thế kỷ 13. [7]
Magadha còn được gọi là Vương quốc Magadha hoặc Đế chế Magadha (Hán-Việt: Ma Kiệt Đà, Ma Yết Đà hay Ma Già Đà)
Ma Kiệt Đà thời Phật do Bimbisara ( Bình Sa vương ) cai trị ; tại đây nhà vua đã cúng dường Tịnh xá Trúc Lâm cho Phật... Thời gian đầu Đức Phật và tăng đoàn chủ yếu ở đây. Sau đó , A Xà Thế ( Ajatashatru ) cướp ngôi vua cha ; thống trị Ma Kiệt Đà .
Thủ đô Ma Kiệt Đà là thành Vương Xá (Rājagaha)
45 năm hạ của Đức Phật
Hạ 2-4 (527-525 TCN)
Ở tại Vương-xá (Rajagaha), kinh đô của xứ Ma-kiệt-đà (Magadha): cảm hóa vua Bình-sa-vương (Bimbisara), và vua cúng dường khu rừng Trúc Lâm (Veluvana), ngoài cửa Bắc của thành Vương-xá, làm nơi trú ngụ của Ðức Phật và chư tăng. Ngài thường đến núi Linh Thứu (Gijjhakuta) để giảng đạo.Trong thời gian nầy, Ngài hóa độ Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên, y sĩ Kỳ-bạt (Jivaka) và trưởng giả Tu-đạt Cấp-cô-độc (Sudatta Anathapindika). Y sĩ Kỳ-bạt cúng dường khu vườn xoài làm tinh xá, và trưởng giả Cấp-cô-độc cúng dường tinh xá Kỳ Viên (Jetavana). Ngài trở về thăm phụ vương Tịnh-phạn (Suddhodana), và nhận hoàng tử La-hầu-la (Rahula) vào hàng sa di.
Hạ 11 (518 TCN)
Ngụ tại làng Ekanala, phía nam thành Vương-xá: hóa độ vị chủ điền Kasibharadvaja.
Hạ 12 (517 TCN)
Ngụ tại Veranja, phía nam thành Xá-vệ: Ðức Phật dạy tôn giả Xá-lợi-phất rằng Ngài sẽ thiết chế giới luật khi nào có hoen ố phát sanh trong tăng chúng, nếu không thì Giáo Pháp sẽ không tồn tại lâu dài.
Hạ 17 (512 TCN)
Ngụ tại tinh xá Trúc Lâm, thành Vương-xá.
Hạ 20 (509 TCN)
Ngụ tại tinh xá Trúc Lâm, thành Vương-xá: hóa độ tên cướp Vô Não (Angulimala). Ðức Phật bị ngoại đạo vu cáo là đã mưu sát bà Sundari.
Hạ 21 (508 TCN)
Ngụ tại tinh xá Trúc Lâm, thành Vương-xá: tôn giả A-nan chính thức nhận lời làm thị giả hầu cận Ðức Phật.
Những địa điểm chiêm bái
Trong số các địa danh được xác định có thể kể đến Veluvana (Trúc Lâm tịnh xá), ngôi nhà đá Pippala, hang động Sattapanni, ngục tù Bimbisara, vườn xoài Jivaka, núi Gijjhakuta (Linh Thứu), Maddakucchi…
Tịnh xá Trúc Lâm (Veluvana)
Trúc Lâm là một trong số những ngôi tịnh xá nổi tiếng vào thời Đức Phật. Tịnh xá này do vua Bimbisara cúng dường Đức Phật nhân lần đầu Ngài viếng thăm Vương Xá sau khi giác ngộ. Tại nơi đây, Đức Phật đã thuyết giảng nhiều bài kinh và cũng thâu nhận nhiều đệ tử xuất gia cũng như tại gia. Trúc Lâm được mô tả là một nơi lý tưởng cho việc tu tập, nhưng cũng thuận tiện cho các hàng đệ tử đến nghe pháp. Thời Đức Phật, trước cổng tịnh xá có hai ngôi tháp thờ Tôn giả Mục Kiền Liên và Kiều Trần Như. Vị trí ngôi tịnh xá này được xác định là nằm giữa thành Vương Xá mới và những ngọn đồi bao quanh thung lũng. Ngày nay nó cách các suối nước nóng vào khoảng 150m về hướng Bắc, gần những ngôi đền của Hindu và Hồi giáo. Trong tịnh xá có một hồ nước có tên là Kalandanivāpa (hay Karaṇḍa kanivāpa) từng được nhắc đến trong kinh điển Phật giáo, là nơi Đức Phật thường tắm rửa. Ngài Huyền Trang có nhắc đến hồ nước này trong ký sự của mình. Cách hồ nước này không xa về hướng Nam có một gò đất lớn, xung quanh có một số ngôi mộ của người Hồi giáo, được cho là khu tịnh xá Trúc Lâm cũ. Toàn cảnh khu vườn này không có gì đặc biệt ngoài cây xanh và trúc, nhưng nhìn chung nó được chăm sóc và bảo quản tốt, có người quét tước cũng như canh giữ.
Hang động Sattapanni
Hang động Sattapanni là nơi diễn ra kỳ kiết tập kinh điển lần thứ nhất, bốn tháng sau khi Đức Phật nhập Niết-bàn. Hang động này nằm trên một ngọn đồi. Chúng tôi chiêm bái nơi này vào một sáng sớm đầy gió và se lạnh. Ở dưới chân đồi, dù còn sớm nhưng đã thấy rất đông người, nhưng hầu hết họ đến đây để tắm và lấy nước ở những con suối nước nóng ở chân đồi chứ chẳng có ai trèo lên núi để chiêm bái hang động này. Đường lên động, sẽ đi qua một nền đá hình chữ nhật cao khoảng 7 đến 8m với chiều dài 29m và chiều rộng 25m, được cho là nhà Pippala, nơi Tôn giả Ca Diếp đã từng cư trú như được đề cập trong kinh điển Pāli. Theo Đại phẩm, Tương ưng bộ kinh V, tại nơi đây nhân một lần Tôn giả Ca Diếp bị bệnh nặng, vào một buổi chiều Đức Thế Tôn sau khi xả thiền đã đến thăm tôn giả và thuyết giảng về Thất giác chi, và sau khi nghe giáo lý này Tôn giả Ca Diếp đã thoát khỏi bệnh.
Hang động Sattapanni như được mô tả trong sách sử là chứa đến năm trăm vị A-la-hán, nhưng diện tích hiện nay trông hết sức khiêm tốn. Tôi không rõ chiều sâu của hang động bao nhiêu, vì quá tối mà không có dụng cụ chiếu sáng nên không thể vào được, nhưng nghe nói là sâu khoảng 36m. Một số nhà khảo cổ vẫn còn nghi ngờ về địa điểm này, và không biết có phải vì lý do này hay không mà ở đây người ta không cắm bảng như ở những nơi khác, và cũng chẳng thấy có sự đầu tư nào cho địa danh này. Nó chỉ là một hang động nhỏ nép mình hiu hắt bên vách núi đá quay mặt xuống thung lũng. Nhưng dù chưa được xác quyết một cách chắc chắn và không được bảo quản thì động núi này vẫn thu hút các Phật tử chiêm bái khi họ đến Vương Xá. Ở đó có bệ thờ để cho khách hành hương dâng hương hoa, và cũng có cả người bán hoa ở đó. Và cũng có cả người dẫn đường nếu người nào chưa biết đường lên hang động này.
Linh Thứu (Gijjhakuta)
Linh Thứu được xem là một địa điểm quan trọng tại Vương Xá. Địa điểm này là nơi Đức Phật nhiều lần đến thuyết giảng.Đường lên núi tuy khá cao nhưng tương đối dễ đi vì đã được lát đá. Con đường này từng được gọi là đường Bimbisara, bởi vì vào thời Đức Phật, nhà vua đã cho xây nó để ông được thuận tiện mỗi khi thăm viếng Đức Phật lúc Ngài trú trên Linh Thứu. Con đường ngày nay hẳn nhiên là mới xây lại sau này. Đến gần đỉnh núi, có hai hang động nhỏ, được cho là nơi hai Tôn giả Xá Lợi Phất và A-nan đã từng trú ngụ. Trên đỉnh núi có một nền gạch, được xác nhận là hương thất của Đức Phật. Và có lẽ điểm quan trọng nhất đối với khách chiêm bái Linh Thứu là nơi này. Ở nơi đây, người hành hương có thể tụng kinh hay kinh hành quanh hương thất.
Theo văn học Đại thừa thì Linh Thứu chính là nơi Đức Phật đã thuyết kinh Pháp hoa (Saddharmapundarika Sutra), kinh Thủ lăng nghiêm tam muội (Surangama Samadhi Sutra), Kinh Bát-nhã (Prajna-paramita Sutras). Và vì vậy địa điểm này rất đặc biệt đối với những Phật tử theo truyền thống Đại thừa, trong đó phải nói đến Nhật Bản, nơi mà Liên hoa tông rất thịnh hành. Một bên đỉnh núi này, có ngôi tháp Vishwa Shanti rất lớn và một ngôi chùa của Nhật Bản. Để lên tháp, khách hành hương có thể trèo núi nhưng cũng có thể đi bằng cáp treo, một công trình do chính người Nhật đầu tư. Trong các nước theo Phật giáo Bắc truyền, có thể nói Nhật Bản là quốc gia có đóng góp rất lớn trong việc khảo cổ cũng như kiến tạo lại các thánh tích ở Ấn Độ.
Vườn xoài Jivaka
Jivaka (Kỳ-bà) là một vị y sĩ danh tiếng vào thời Đức Phật. Ông là con trai của Sālavatī, một kỹ nữ nổi tiếng tại Vương Xá. Bà Sālavatī sau khi sanh nở, đã đem con mình bỏ tại một đống rác. Và cậu bé này được Thái tử Abhayarājakumāra nhìn thấy và mang về nuôi. Khi lớn lên, ông rời hoàng gia và ra đi học nghề thuốc. Sau bảy năm học tập, ông trở thành một thầy thuốc tài giỏi, đi khắp nước trị bệnh cho mọi người, và ông rất được vua Bimbisara và Ajatasatru trọng dụng. Ông cũng là một đệ tử thân tín của Đức Phật. Sự kiện ông trở thành đệ tử của Đức Phật được mô tả trong bài kinh số 55, Trung bộ kinh II. Bài kinh này thuật rằng, khi nghe Đức Phật thuyết giảng một số vấn đề liên quan đến việc thực hành hạnh ly tham, sân, si, thực tập từ bi và thọ nhận thực phẩm, Jivaka đã phát tâm quy y theo Ngài. Sau đó, ông đã cúng dường vườn xoài của mình lên Đức Phật để Ngài làm nơi cư trú cho Tăng chúng. Ông cũng là người đã điều trị vết thương nơi chân Đức Phật khi bị Đề-bà-đạt-đa lăn đá ở núi Linh Thứu.
Theo kinh Samannaphala, Trường bộ kinh, thì Jivaka cũng là người đã thuyết phục vua Ajatasatru đến viếng thăm Đức Phật; và sau khi nghe Đức Phật thuyết giảng, nhà vua đã chứng đắc được quả Dự lưu. Jivaka cũng cho xây dựng một tịnh xá nơi đây. Trong các kinh điển hệ Pāli, khu vườn này được mô tả nằm giữa cổng thành hướng Đông và núi Linh Thứu. Khi Huyền Trang viếng thăm nơi này thì ngài thấy ở đây có một bảo tháp; và nền tịnh xá cũng như nhà của Jivaka vẫn còn. Việc xác định khu vườn xoài của Jivaka ngày nay chủ yếu vẫn dựa theo cuốn ký sự này.
Ngục giam Bimbisara
Ngục giam Bimbisara, chỉ còn là một nền đá rộng vài chục mét vuông. Chính tại đây vua Bimbisara đã bị người con của mình là Ajatasatru giam giữ. Theo kinh sách, từ nơi ngục giam này vua Bimbisara có thể nhìn thấy Đức Phật khi Ngài ở Linh Thứu.Và nhà vua đã qua đời ở tại chính ngục giam này. Về sau, Ajatasatru khi nghe Đức Phật thuyết giảng, nhận ra được tình thương và công lao của cha mẹ đối với con cái, ông đã quy y theo Phật, sám hối lỗi lầm xưa bằng những việc làm thiện của mình.
Maddhakucchi
Maddhakucchi nằm dưới chân Linh Thứu. Chính nơi đây, Hoàng hậu Vedehi khi được tiên đoán rằng thai nhi mà bà đang mang trong mình sau này sẽ là một kẻ giết cha, nên đã cố phá bỏ bào thai đó. Nhưng khi vua Bimbisara biết được sự việc, ông đã can ngăn bà. Theo kinh điển Pāli thì thời Đức Phật, nơi đây có một khu vườn nuôi nai và một tu viện. Và cũng chính tại đây, Đức Phật đã bị Đề-bà-đạt-đa lăn đá và bị thương nơi chân.
Cách đến Rājagaha
Sân bay gần nhất là Patna Airport, nằmở thủ phủ của bang Bihar, cách Rājagaha (Rajgir) khoảng 115km. Mặc dù cũng có ga tàu ở Rājagaha, nhưng có lẽ tiện lợi hơn là nên đến ga Gaya và sau đó đi xe đến địa danh này. Rājagaha cách ga Gaya vào khoảng 78km. Về đường bộ, Rājagaha có những tuyến đường nối kết với các thành phố lớn của tiểu bang Bihar như Patana và Gaya . Nhưng thông thường đối với những người chiêm bái là Phật tử, việc đi đến Rājagaha thường được thực hiện sau khi đã đến Bodhgaya, do đó hầu như các chuyến đi đến địa danh này được khởi từ Bodhgaya bằng xe. Về thời điểm chiêm bái, cũng như việc chiêm bái các Phật tích khác ở Ấn, thích hợp nhất là từ đầu tháng mười đến tháng Ba.
Vương Xá (Rājagaha) thuộc quận Nalanda, tiểu bang Bihar, cách Boddhagaya khoảng 46km và thủ phủ Patna 60km về hướng Đông nam.
Magadha là một trong 16 đại quốc và là một trung tâm chính trị - Phật giáo đặc biệt quan trọng trong các nguồn sớm. Rājagaha, Veḷuvana và Gijjhakūṭa là các nút địa danh quan trọng gắn với hoạt động của Đức Phật.
Giữ Magadha trong nhóm 16 mahājanapada. Cần tách rõ dữ kiện kinh điển thời Đức Phật với các giai đoạn đế quốc Magadha/Maurya về sau; không nên gom toàn bộ lịch sử nhiều thế kỷ vào một lớp thời gian.
Liên kết chuẩn nên là Magadha → Rājagaha → Veḷuvana → Gijjhakūṭa → Bimbisāra → Ajātasattu; Pāṭaligāma/Pāṭaliputta nên được trình bày với chronology riêng.
Thời Đức Phật: Rājagaha nổi bật. Giai đoạn sau: Pāṭaliputta trở thành trung tâm lớn; thời Aśoka thuộc lớp lịch sử hậu Phật vài thế kỷ.
AN 3.70 và AN 8.43 liệt kê Magadha trong 16 đại quốc. DN 18 cũng nhắc cư dân Aṅga-Magadha trong bối cảnh các cộng đồng Phật tử.
Các truyền thống kết tập, Aśoka và đế quốc Maurya phải gắn nhãn hậu kỳ so với đời Đức Phật.
Rajgir/Rājagaha có tàn tích cổ quan trọng, nhưng từng điểm hành hương cần được kiểm chứng độc lập.
Magadha cổ tập trung ở vùng Bihar ngày nay; không nên đồng nhất biên giới của một thời kỳ với toàn bộ lịch sử Magadha.
Chưa có bài viết liên kết trực tiếp với địa danh này.
Trưởng Lão Mahāpaṇṭhaka - ( Đại Bàn Đặc)625 lượt xem
Trưởng Lão Tiểu Bần Đặc ( Cūḷapanthaka) – 4 tháng không thuộc nổi 1 bài kệ586 lượt xem
Trưởng lão Mahācunda (em ngài Xá Lợi Phất )– top 80 đệ tử Phật ( 40 vị bên phải)719 lượt xem
Tôn giả Ajita – top 80 đệ tử Phật ( nhóm bên trái)616 lượt xem
Tôn giả Tissametteyya – top 80 đệ tử Phật ( nhóm bên trái)561 lượt xem
Tôn giả Puṇṇaka – Top 80 đệ tử Phật ( nhóm bên trái – đệ tử cũ của Bà-la-môn khổ hạnh Bāvari)595 lượt xem
Tôn giả Mettagū – Top 80 đệ tử của Phật ( nhóm bên trái – thanh niên đệ tử của a Bà-la-môn khổ hạnh Bāvari.)646 lượt xem
Tôn giả Dhotaka – Top 80 đệ tử Phật ( nhóm bên trái -đệ tử của Bà-la-môn khổ hạnh Bāvari)568 lượt xem
Tôn giả Upasīva – Top 80 trưởng lão đệ tử Phât ( nhóm bên trái -thanh niên đệ tử của Bà-la-môn khổ hạnh Bāvari)582 lượt xem
Tôn giả Nanda – Top 80 trưởng lão ( nhóm bên trái đệ tử cũ của khổ hạnh Bāvari )595 lượt xem
Tôn giả Hemaka – Top 80 đệ tử Phật ( nhóm bên trái – từng là đệ tử khổ hạnh Bāvari)568 lượt xem
Tôn giả Todeyya – top 80 đệ tử Phật ( nhóm bên trái -từng là đệ tử khổ hạnh Bāvari)539 lượt xem
Tôn giả Kappa – Top 80 đệ tử Phật ( nhóm trái từng là đệ tử của khổ hạnh Bāvari)578 lượt xem
Tôn giả Bhadrāvudha – Top 80 trưởng lão ( nhóm bên trái – từng là đệ tử của khổ hạnh Bāvari)541 lượt xem
Tôn giả Udaya – Top 80 trưởng lão ( nhóm bên trái từng là đệ tử củakhổ hạnh Bāvari)568 lượt xem
Tôn giả Posāla – Top 80 trưởng lão ( nhóm bên trái từng là đệ tử của khổ hạnh Bāvari)549 lượt xem
Tôn giả Piṅgiya – Top 80 trưởng lão ( nhóm trái từng là đệ tử của khổ hạnh Bāvari)584 lượt xem
ĐẠI TRƯỞNG LÃO MOGHARĀJA -đệ nhất về hạnh mang y thô515 lượt xem
Hoàng hậu Vi Đề Hy và pháp Môn niệm Phật ( mẹ của vua A Xà Thế)612 lượt xem
ĐẠI TRƯỞNG LÃO BĀHIYA DĀRUCĪRIYA525 lượt xem
Tôn giả Nadīkassapa – người anh giữa trong nhóm ba vị đạo sĩ thờ lửa ( top 80 trưởng lão – nhóm phải)537 lượt xem
Tôn giả Gayākassapa – người em út trong nhóm ba vị đạo sĩ thờ lửa( top 80 trưởng lão nhóm phải)596 lượt xem
Mẹ ngài Sariputa ( Rūpasārī)634 lượt xem
Bà Thanh Đề (mẹ ngài Đại Mục Kiền Liên )586 lượt xem
Chọn vấn đề bạn phát hiện. Quản trị viên sẽ nhận báo cáo kèm đúng trang hiện tại.
Liên kết bên dưới được dựng phía server từ các quan hệ đang có trong cơ sở dữ liệu Nikaya Tâm Học.
Quan hệ Địa danh ↔ Nhân vật đang có trong database.
Nhân vật liên hệ với địa danh qua dữ liệu meta hiện hữu.
- 10/07/2026 13:00:38- 899 Lượt xem
- 10/07/2026 13:00:38- 899 Lượt xem
- 10/07/2026 13:00:38- 899 Lượt xem
- 10/07/2026 13:00:38- 773 Lượt xem
- 10/07/2026 13:00:38- 773 Lượt xem
- 10/07/2026 13:00:38- 1120 Lượt xem
- 10/07/2026 13:00:38- 979 Lượt xem
- 10/07/2026 13:00:38- 1269 Lượt xem
- 10/07/2026 13:00:38- 1017 Lượt xem
- 10/07/2026 13:00:38- 922 Lượt xem
- 07/24/2026 20:48:16- 523 Lượt xem
- 07/24/2026 20:48:04- 529 Lượt xem
- 07/24/2026 20:47:51- 537 Lượt xem
- 07/24/2026 20:43:50- 454 Lượt xem
- 07/24/2026 20:43:37- 470 Lượt xem
- 07/24/2026 20:42:49- 513 Lượt xem
- 07/24/2026 20:42:36- 464 Lượt xem
- 07/24/2026 20:42:19- 500 Lượt xem