Mục lục nhân vật
Tôn giả Mettagū – Top 80 đệ tử của Phật ( nhóm bên trái – thanh niên đệ tử của a Bà-la-môn khổ hạnh Bāvari.)
Một trong mười sáu đệ tử của Bāvarī đến thăm Đức Phật. Câu hỏi của ông (pucchā) đối với Đức Phật là làm thế nào các tệ nạn khác nhau bắt nguồn trên thế giới, và câu trả lời của Đức Phật, rằng đó là nhờ upadhi . Vào cuối bài thuyết pháp, Mettagū và hàng nghìn tín đồ của ông đã đạt được quả vị A-la-hán (SN.vss.1006, 1049 60; SNA.ii.592).
Dữ liệu nhân vật
- Giới tính
- Nam
- Mã dữ liệu
- #543
- Khởi tạo
- 22/03/2023
- Cập nhật gần nhất
- 18/11/2025 21:12
- Lượt xem
- 645
- Trạng thái nội dung
- Có nội dung chính
Một trong mười sáu đệ tử của Bāvarī đến thăm Đức Phật. Câu hỏi của ông (pucchā) đối với Đức Phật là làm thế nào các tệ nạn khác nhau bắt nguồn trên thế giới, và câu trả lời của Đức Phật, rằng đó là nhờ upadhi . Vào cuối bài thuyết pháp, Mettagū và hàng nghìn tín đồ của ông đã đạt được quả vị A-la-hán (SN.vss.1006, 1049 60; SNA.ii.592).
Tôn giả Mettagū – Top 80 đệ tử của Phật ( nhóm bên trái – thanh niên đệ tử của a Bà-la-môn khổ hạnh Bāvari.) Tôn giả Mettagū – thanh niên đệ tử của Bà-la-môn khổ hạnh Bāvari. https://www.palikanon.com/english/pali_names/me_mu/mettagu_th.htm One of the sixteen disciples of Bāvarī who visited the Buddha. His question (pucchā) to the Buddha was as to how various ills originated in the world, and the Buddha’s answer, that it was through upadhi. At the end of the sermon Mettagū and his thousand followers attained arahantship (SN.vss.1006, 1049 60; SNA.ii.592). According to the Apadāna (ii.342f), he gave away alms worth sixty crores of gold before joining Bāvarī. In the time of Sumedha Buddha he was an ascetic living near Mount Asoka in Himavā, in a hermitage built for him by Vissakamma. There the Buddha visited him, and the ascetic gave him a bowl filled with ghee and oil. As a result, he was eighteen times king of the gods and fifty-one times king of men. Một trong mười sáu đệ tử của Bāvarī đến thăm Đức Phật. Câu hỏi của ông (pucchā) đối với Đức Phật là làm thế nào các tệ nạn khác nhau bắt nguồn trên thế giới, và câu trả lời của Đức Phật, rằng đó là nhờ upadhi . Vào cuối bài thuyết pháp, Mettagū và hàng nghìn tín đồ của ông đã đạt được quả vị A-la-hán (SN.vss.1006, 1049 60; SNA.ii.592). Theo Apadāna (ii.342f), ông đã bố thí sáu mươi xu vàng trước khi gia nhập Bāvarī. Vào thời Đức Phật Sumedha, ông là một nhà tu khổ hạnh sống gần núi Asoka ở Himavā, trong một ẩn thất do Vissakamma xây dựng cho ông. Ở đó, Đức Phật đến thăm anh ta, và một nhà tu khổ hạnh đã đưa cho anh ta một cái bát chứa đầy bơ và dầu. Kết quả là, ông đã mười tám lần làm vua của các vị thần và năm mươi mốt lần vua của loài người. (V) Câu hỏi của thanh niên Mettagu (Sn 201) Mettagu: 1049. Tôn giả Mêt-ta-gu: Con xin hỏi Thế Tôn, Mong Thế Tôn trả lời, Vấn đề con đã hỏi, Con nghĩ Ngài hiền trí, Tự ngã đã tu tập, Từ đâu, ở trong đời, Ðau khổ này khởi lên, Với nhiều loại như vậy? Thế Tôn: 1050. Thế Tôn trả lời rằng: Hỡi này Mêt-ta-gu, Ông hỏi ta vấn đề, Sanh khởi của khổ đau, Ta sẽ nói cho Ông, Như Ta đã được biết, Chính do duyên sanh y, Nên khổ được khởi lên, Với nhiều loại như vậy, Khác biệt ở trong đời. 1051. Những ai vì vô minh, Tác thành các sanh y, Kẻ ngu tạo đau khổ, Tiếp tục được sanh khởi, Do vậy kẻ hiểu biết, Không nên tạo sanh y, Vì thấy sự sanh khởi, Của sanh và đau khổ. Mettagu: 1052. Ðiều chúng con đã hỏi, Ngài đã đáp chúng rồi, Nay xin hỏi câu khác, Mong Ngài giải đáp cho, Thế nào bậc Hiền trí, Vượt khỏi dòng nước mạnh, Vượt khỏi sanh và già, Cùng sầu muộn than khóc, Mong rằng bậc ẩn sĩ, Hãy khéo trả lời con, Ðúng như Ngài đã biết, Pháp nhĩ là như vậy? Thế Tôn: 1053. Thế Tôn trả lời rằng: Hỡi này Mêt-ta-gu, Ta sẽ nói cho Ông, Pháp thiết thực hiện tại, Không do trao truyền lại, Sau khi biết pháp ấy, Vị ấy sống chánh niệm, Vượt tham ái ở đời. Mettagu: 1054. Thưa bậc Ðại ẩn sĩ, Con hết sức hoan hỷ, Chánh pháp vô thượng ấy, Sau khi biết pháp ấy, Sống gìn giữ chánh niệm, Vượt tham ái ở đời. Thế Tôn: 1055. Thế Tôn đáp lại rằng: Hỡi này Mêt-ta-gu, Phàm Ông rõ biết gì, Trên dưới, ngang ở giữa, Hãy từ bỏ hoan hỷ, Hãy từ bỏ trú xứ, Chớ để cho ý thức, An trú trên sanh hữu. 1056. An trú vậy, chánh niệm, Tỷ-kheo không phóng dật, Sau khi bỏ sở hành, Ðưa đến ngã, sở hữu. Ðối với sanh và già, Sầu muộn và than khóc, Ở đây, biết được vậy, Hãy từ bỏ đau khổ. Mettagu: 1057. Con cảm thấy hoan hỉ, Lời nói bậc Ðại sĩ; Ðoạn tận được sanh y, Ðược Ngài khéo tuyên thuyết. Chắc chắn đức Thế Tôn, Ðã đoạn tận đau khổ, Vì pháp này được Ngài, Rõ biết là như vậy. 1058. Những vị ấy hãy đoạn, Hãy từ bỏ đau khổ, Những người ấy được Ngài Thường thường dạy, giáo hóa. Con xin đảnh lễ Ngài, Hãy đến, bậc Long tượng, Mong Thế Tôn thường hằng, Giáo hóa dạy dỗ con. Thế Tôn: 1059. Vị Bà-la-môn nào, Ðược thắng tri, có trí, Không có sở hữu gì, Không ái luyến dục hữu, Chắc chắn vị như vậy, Vượt qua bộc lưu này, Ðã đến được bờ kia, Không cứng cỏi không nghỉ. 1060. Người ấy sau khi biết, Thông suốt được Thánh điển, Không dính ái triền này, Về hữu và phi hữu, Vị ấy ly tham ái, Không phiền lụy không cầu, Ta nói rằng vị ấy, Ðã vượt khỏi sanh già. Questions of the young man Mettagu. 1049. Venerable Mettagu said: “Thinking the Blessed One is perfectly developed, I ask. How does unpleasantness arise in the world for varied matter.” 1050. The Blessed One said: “Mettagu asks how unpleasantness arises, I will tell as I know. On account of endearments arise unpleasantness in the world of varied matter. 1051. He who makes endearments unknowingly, comes to unpleasantness again and again… 1052. Venerabe Mettagu said: 1053. The Blessed One said: 1054. Venerabe Mettagu said: 1055. The Blessed Oe said: 1056. The bhikkhu who abides mindful and diligent to give up selfish clingings, 1057 Venerable Mettagu said: 1058. If it was not for your essential advice, I would not have dispelled unpleasantness 1059. The Blessed One said: 1060. He is a man perfected knowing, giving up attachments ’to be’ and ṅot to be’Tôn giả Mettagū – Top 80 đệ tử của Phật ( nhóm bên trái – thanh niên đệ tử của a Bà-la-môn khổ hạnh Bāvari.)
I. Giới thiệu khái quát
II. Xuất hiện trong Kinh Tập chương 5 – Tiểu bộ kinh
Đoạn đối thoại giữa tôn giả Mettagu với Thế Tôn trong Kinh tập chương 5 – Tiểu bộ kinh ( Tiếng Anh)
Therefore the wise do not make endearments, seeing it as the birth and development of unpleasantness.”
“All our questions were answered, we have something more to ask,
How do the wise cross the flood of birth,decay,grief and lament,
May it be told as the Blessed One experienced.”
“I honour that Teaching which is here and now, and not hearsay,
Those who abide mindfully knowing the Teaching
Overcome the attachments to the world”
“I too take pleasure in the sage’s noble Teaching
Knowing which if one abides, would overcome the attachments to the world”
“Dispel interests and settlements in whatever you know,
Above, below, across or even in the middle and do not think of them.
Overcomes birth, decay,grief and lament and knowing ends unpleasantness here and now”.
“I delight in the words of the great sage, Gotama without substratum for being, is perfected
That the Blessed One knows this Teaching, shows he has dispelled unplasantness
Great Man I worship you for giving the profitable advice”
“If a perfected brahmin is completely detached from sensual thoughts
He indeed has crossed the floods,pulled out the arrow and is free of doubts
Free of greed, unconfused, and desireless, I say he has crossed birth and decay”
Xuất hiện ở nikaya khác ( tiểu bộ kinh )
Các bài kinh A Hàm có liên hệ với nhân vật
Báo lỗi nội dung
Chọn vấn đề bạn phát hiện. Quản trị viên sẽ nhận báo cáo kèm đúng trang hiện tại.
Mạng liên kết nội dung
Liên kết bên dưới được dựng phía server từ các quan hệ đang có trong cơ sở dữ liệu Nikaya Tâm Học.
Địa danh của nhân vật
1 mụcQuan hệ Nhân vật ↔ Địa danh đang có trong database.
Nhóm nhân vật
1 mụcMở danh sách nhân vật cùng nhóm hiện hữu.
Nhân vật thường xuất hiện cùng
12 mụcTính từ bài chung và địa danh chung ở backend.

Mốc I : Hoàn cảnh trước khi Phật ra đời
Mốc II : Sự kiện Phật đản sanh
Mốc III: Giai đoạn tuổi thơ của Bồ tát Tất Đạt Đa
Mốc IV : Giai đoạn trưởng thành - xuất gia
Mốc V : Tầm đạo
Mốc VI : Thành đạo
Mốc VII: Những vị đệ tử đầu tiên
Mốc VIII : Tăng đoàn lớn mạnh
Mốc IX: Mười ba năm cuối cuộc đời Đức Phật
Mốc X : Đức Phật nhập niết bàn