Chuyện tiền thân Đức Phật P018 : CHUYỆN ÐỒ ĂN CÚNG NGƯỜI CHẾT (Tiền thân Matakabhatta)
Khi Đức Phật trú tại Kỳ Viên, nhiều người đương thời thường giết dê, cừu và các loài vật để làm đồ ăn cúng cho người thân đã qua đời. Thấy việc sát sinh ấy, các Tỷ-kheo hỏi Đức Phật rằng việc giết vật để cúng người chết có đem lại hạnh phúc hay lợi ích gì không. Đức Phật dạy rằng việc cúng tế bằng cách sát hại sinh mạng hoàn toàn không đem lại lợi ích. Một hành động được xây dựng trên sự giết hại không thể tạo ra quả lành. Ngài cho biết trong quá khứ, các bậc hiền trí từng giảng rõ hậu quả của tục lệ này, khiến dân chúng từ bỏ việc sát sinh để tế lễ. Sau đó, Đức Phật kể câu chuyện tiền thân.
ID:599
Các tên gọi khác
General Information
Ngày khởi tạo : 2023-11-12 19:00:45
Edit time : 07/23/2026 12:17:57 - Số lần chỉnh sửa : 4
| Danh sách | : | Liên quan |
|---|---|---|
| : |
1454.008_ch-01-p-gioi-chuyen-18-19-20
Duyên khởi:khi ở tại Kỳ Viên, bậc Ðạo Sư đã kể về đồ ăn cúng người chết.
Đức Phật là : vị thần cây
Nhóm tiền thân :Ta là vị thần cây.
Mục lục, bài liên quan & media
Chuyện tiền thân Đức Phật P018 : CHUYỆN ÐỒ ĂN CÚNG NGƯỜI CHẾT (Tiền thân Matakabhatta)
18. CHUYỆN ÐỒ ĂN CÚNG NGƯỜI CHẾT (Tiền thân Matakabhatta)
Nếu chúng sanh biết được…,
Câu chuyện này, khi ở tại Kỳ Viên, bậc Ðạo Sư đã kể về đồ ăn cúng người chết. Trong thời ấy, nhiều người giết hại nhiều dê cừu… để cúng đồ ăn cho người thân đã mệnh chung. Các Tỷ-kheo thấy họ làm như vậy, hỏi bậc Ðạo Sư:
– Bạch Thế Tôn, nay nhiều người giết hại sinh mạng nhiều loài hữu tình để cúng đồ ăn cho người chết, Bạch Thế Tôn, ở đây có hạnh phúc, lợi ích nào không?
Thế Tôn nói:
– Cúng đồ ăn như vậy cho người chết không có lợi ích gì. Khi đã sát sanh, làm sao có lợi ích được? Thuở xưa, các bậc Hiền trí ngồi giữa hư không thuyết pháp, nói rõ nguy hại của tập tục này, khiến toàn thể dân chúng ở cõi Diêm-phù-đề bỏ hành động ấy. Nhưng nay, bị sanh hữu tích lũy, nên hành động ấy lại khởi lên.
Nói vậy xong, Thế Tôn kể câu chuyện quá khứ.
*
Thuở xưa, khi vua Brahmadatta đang trị vì ở Ba-la-nại, một Bà-la-môn thông hiểu ba tập Vệ-đà, một danh sư nổi tiếng bốn phương, muốn cúng dường đồ ăn cho người chết, cho bắt một con dê và bảo các đệ tử.
– Này các con thân, hãy dẫn con dê này đến sông, tắm cho nó, đeo vòng hoa ở cổ nó, cho nó ăn lúa độ nửa đấu, chải chuốt cho nó rồi đem nó lại đây.
Các đệ tử vâng lời, dắt dê đến sông, tắm cho nó, chải chuốt cho nó, rồi để nó đứng trên bờ sông. Con dê ấy thấy được việc của mình đã làm từ đời trước, suy nghĩ: “Hôm nay, ta sẽ được thoát đau khổ”, vì vậy nó cảm thấy sung sướng, cười lớn tiếng như đập bể cái ghè, lại nghĩ: “Bà-la-môn này, khi giết ta, sẽ chịu nỗi đau khổ của ta thuở trước”, nó khởi lòng thương hại người Ba-la-môn và khóc lớn tiếng. Các thanh niên ấy hỏi nó:
– Này bạn, bạn cười lớn tiếng rồi khóc lớn tiếng. Vì nhân gì bạn cười, vì nhân gì bạn khóc?
– Hãy hỏi câu hỏi này trước mặt thầy các ông!
Họ đem con dê ấy đi, và báo cáo cho thầy biết. Vị thầy nghe câu chuyện, hỏi con dê:
– Này dê, sao ngươi lại cười và sao ngươi lại khóc?
Con dê nhờ trí biết được đời trước, nhớ đến việc đã làm của mình, và nói với Bà-la-môn:
– Này Bà-la-môn, thuở trước, giống như ông, ta là một Bà-la-môn học giỏi các chú thuật, muốn cúng dường đồ ăn cho người chết, đã giết một con dê để cúng dường. Vì giết chỉ một con dê, ta bị chém đầu trong bốn trăm chín mươi chín lần sống chết. Nay là lần thứ năm trăm sống chết cuối cùng của ta. Hôm nay, ta sẽ thoát khỏi sự đau khổ ấy. Nghĩ vậy, ta cảm thấy sung sướng, do nhân duyên này ta cười. Còn ta khóc, vì ta nghĩ rằng chỉ vì giết một con dê, ta phải chịu khổ hình chặt đầu đến năm trăm lần. Hôm nay ta sẽ thoát cái khổ ấy. Nhưng Bà-la-môn này, vì giết ta, sẽ như ta chịu khổ hình chặt đầu trải năm trăm đời sống. Vì thương xót ông, nên ta khóc.
– Này dê, chớ sợ, ta sẽ không giết ngươi!
– Này Bà-la-môn, ông nói gì thế? Dầu ông có giết ta hay không, hôm nay ta cũng không thể thoát chết!
– Này dê, chớ sợ, ta sẽ bảo vệ ngươi, sẽ cùng đi với ngươi!
– Này Bà-la-môn, nhỏ nhoi thay là sự bảo vệ của ông và mạnh bạo thay là nghiệp ác ta làm!
Vị Bà-la-môn thả con dê ra, nói với các đệ tử:
Và cùng với các đệ tử, vị Bà-la-môn đi theo con vật. Con dê vừa được thả, vươn cổ lên, đến bụi cỏ mọc sau lưng tảng đá ấy, và bắt đầu ăn lá cỏ. Liền khi ấy, sét đánh trên lưng tảng đá ấy, một mảng đá bị đánh vỡ, rơi trên cổ con dê đang vươn ra và chặt đứt đầu. Nhiều người qui tụ lại xem.
Lúc bấy giờ, Bồ-tát sanh làm vị thần cây tại chỗ ấy. Với uy lực của vị thần, Bồ-tát ngồi kiết-già trên hư không, trên đại chúng đang đứng nhìn, và suy nghĩ: “Những chúng sanh này, nếu biết được kết quả của việc ác như vậy, sẽ không làm ác nữa!” Rồi với âm thanh dịu ngọt, Ngài thuyết pháp qua bài kệ:
Nếu chúng sanh biết được
Sự này sanh đau khổ,
Hữu tình sẽ không còn
Giết hại hữu tình nữa,
Vì ai giết hũu tình,
Sẽ phải sầu, phải khổ.
Như vậy, bậc Ðại Sĩ thuyết pháp khiến cho mọi người sợ hãi địa ngục. Và nhiều người nghe bài thuyết pháp ấy, biết sợ hãi điạ ngục, nên từ bỏ sát sanh. Bồ-tát thuyết pháp xong, an trú quần chúng vào Ngũ giới, rồi về sau đi theo nghiệp của mình. Còn quần chúng, an trú trong lời khuyên của Bồ-tát, sau khi làm các phước đức như bố thí v.v… được sanh lên thiên giới, làm tràn đầy thành phố chư Thiên.
*
Bậc Ðạo Sư thuyết pháp thoại này xong, kết hợp hai câu chuyện với nhau, và nhận diện Tiền thân như sau:
– Thời ấy, Ta là vị thần cây.
-ooOoo-
18. CHUYỆN ĐỒ ĂN CÚNG NGƯỜI CHẾT
Tiền thân Matakabhatta
Tóm tắt nội dung
Bối cảnh hiện tại
Khi Đức Phật trú tại Kỳ Viên, nhiều người đương thời thường giết dê, cừu và các loài vật để làm đồ ăn cúng cho người thân đã qua đời.
Thấy việc sát sinh ấy, các Tỷ-kheo hỏi Đức Phật rằng việc giết vật để cúng người chết có đem lại hạnh phúc hay lợi ích gì không.
Đức Phật dạy rằng việc cúng tế bằng cách sát hại sinh mạng hoàn toàn không đem lại lợi ích. Một hành động được xây dựng trên sự giết hại không thể tạo ra quả lành. Ngài cho biết trong quá khứ, các bậc hiền trí từng giảng rõ hậu quả của tục lệ này, khiến dân chúng từ bỏ việc sát sinh để tế lễ.
Sau đó, Đức Phật kể câu chuyện tiền thân.
Câu chuyện quá khứ
Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị vì tại Ba-la-nại, có một vị Bà-la-môn tinh thông ba bộ Vệ-đà và nổi tiếng là một bậc thầy.
Muốn làm lễ cúng đồ ăn cho người chết, vị ấy bắt một con dê và sai các đệ tử dẫn nó ra sông tắm rửa, đeo vòng hoa, cho ăn lúa và chải chuốt sạch sẽ trước khi đem về giết tế.
Các đệ tử làm theo lời thầy. Khi đứng bên bờ sông, con dê bỗng cười vang, rồi lại khóc lớn.
Các thanh niên ngạc nhiên hỏi nguyên nhân, nhưng con dê bảo họ hãy đưa nó về và hỏi trước mặt vị Bà-la-môn.
Lời kể về nghiệp quá khứ
Khi được vị Bà-la-môn hỏi, con dê cho biết nhờ khả năng nhớ lại đời trước, nó thấy rõ nguyên nhân số phận của mình.
Trong một đời quá khứ, nó cũng từng là một Bà-la-môn thông hiểu chú thuật. Khi làm lễ cúng người chết, nó đã giết một con dê làm vật tế.
Do nghiệp sát sinh ấy, nó phải chịu quả báo bị chặt đầu trong năm trăm đời. Hiện tại là đời cuối cùng, lần thứ năm trăm nó phải chịu chết.
Con dê cười vì biết rằng sau cái chết hôm nay, nghiệp báo ấy sẽ chấm dứt và nó được thoát khỏi chuỗi khổ đau kéo dài nhiều đời.
Nhưng nó lại khóc vì thương xót vị Bà-la-môn. Nếu ông giết nó để tế lễ, ông cũng sẽ tạo nghiệp sát sinh và phải chịu quả báo đau khổ giống như nó trong tương lai.
Không thể trốn khỏi nghiệp đã tạo
Nghe lời con dê, vị Bà-la-môn xúc động, tuyên bố không giết nó nữa và hứa sẽ bảo vệ nó.
Con dê nói rằng dù vị Bà-la-môn có giết hay không, ngày hôm ấy nó vẫn không thể tránh khỏi cái chết, bởi nghiệp quá khứ đã đến lúc trổ quả.
Vị Bà-la-môn vẫn thả dê ra và cùng các đệ tử đi theo để bảo vệ.
Con dê đến gần một tảng đá, vươn cổ lên ăn lá mọc trong bụi cỏ phía sau. Đúng lúc ấy, sét đánh vào tảng đá, làm một mảnh đá vỡ rơi xuống, chặt đứt đầu con dê.
Như lời con dê đã nói, không ai giết nó, nhưng quả báo của nghiệp sát sinh trong quá khứ vẫn khiến nó phải chết bằng cách bị chặt đầu.
Bồ-tát thuyết pháp
Nhiều người tụ tập lại xem sự việc kỳ lạ.
Lúc ấy, Bồ-tát đang sinh làm một vị thần cây tại nơi đó. Ngài nghĩ rằng nếu mọi người hiểu rõ quả khổ của nghiệp ác, họ sẽ không còn dễ dàng sát hại các sinh vật khác.
Bằng thần lực, Bồ-tát hiện ngồi kiết-già giữa hư không và nói lên bài kệ:
Nếu chúng sanh biết được
Việc sát sinh gây khổ,
Hữu tình sẽ không còn
Giết hại các hữu tình.
Vì người giết sinh mạng
Sẽ phải sầu, phải khổ.
Bồ-tát giảng rõ rằng người giết hại chúng sinh không thể thoát khỏi hậu quả của hành động mình. Nghiệp sát sinh sẽ mang lại sợ hãi, đau đớn và quả báo khổ đau trong những đời sau.
Nghe lời thuyết pháp, dân chúng sinh lòng sợ hãi đối với nghiệp ác và từ bỏ việc giết hại sinh vật để cúng tế.
Bồ-tát tiếp tục hướng dẫn họ an trú trong năm giới. Mọi người vâng theo lời dạy, thực hành bố thí và các việc thiện. Sau khi qua đời, nhiều người được sinh lên thiên giới.
Ý nghĩa giáo pháp
Sát sinh không thể tạo ra phước lành
Việc giết một sinh vật để cầu phúc cho người đã chết là hành động mâu thuẫn. Không thể đem đau khổ và cái chết của chúng sinh này để tạo hạnh phúc cho một chúng sinh khác.
Một nghi lễ chỉ có hình thức trang nghiêm nhưng dựa trên sát sinh vẫn là nghiệp bất thiện.
Mỗi người phải chịu trách nhiệm về nghiệp của mình
Con dê phải chịu quả báo vì chính hành động sát sinh mà nó đã thực hiện trong một đời trước.
Không ai có thể nhận nghiệp thay người khác. Cũng không ai có thể dùng nghi lễ để xóa bỏ hoàn toàn hậu quả của hành động bất thiện đã tạo.
Nghiệp có thể trổ quả khi đủ duyên
Vị Bà-la-môn đã quyết định không giết con dê, nhưng nghiệp quá khứ của nó vẫn trổ quả qua việc mảnh đá rơi xuống chặt đầu.
Chi tiết này nhấn mạnh rằng khi nghiệp đã chín muồi và hội đủ điều kiện, quả báo có thể xảy ra theo cách không ai dự liệu được.
Tâm thiện phải đi cùng hành động thiện
Ý định tưởng nhớ và báo đáp người đã mất có thể là điều tốt, nhưng phương pháp thực hiện cũng phải trong sạch.
Thay vì sát sinh cúng tế, con người nên tưởng niệm người đã mất bằng cách bố thí, giữ giới, giúp đỡ người nghèo và thực hành các việc thiện.
Không nên xem nhẹ một hành động ác
Con dê chỉ vì từng giết một sinh vật mà phải chịu cảnh bị chặt đầu qua nhiều đời. Câu chuyện dùng hình ảnh mạnh mẽ để cảnh tỉnh con người không nên xem thường nghiệp sát sinh, dù chỉ thực hiện một lần.
Lòng từ bi có thể chấm dứt hủ tục
Sau khi hiểu hậu quả của sát sinh, dân chúng đã từ bỏ tục giết vật tế lễ và an trú trong năm giới.
Sự thay đổi chân chính không đến từ ép buộc mà từ việc hiểu rõ nhân quả và khởi lòng thương xót đối với mọi sinh vật.
Hạnh Ba-la-mật được thể hiện
-
Trí tuệ: Bồ-tát thấy rõ quan hệ giữa hành động sát sinh và quả báo khổ đau.
-
Từ bi: Ngài thương xót chúng sinh bị giết hại và cả những người đang vô minh tạo nghiệp.
-
Trì giới: Bồ-tát khuyên mọi người từ bỏ sát sinh và an trú trong năm giới.
-
Chân thật: Ngài giảng rõ quy luật nhân quả, không chiều theo tín ngưỡng sai lầm của đám đông.
-
Tinh tấn: Bồ-tát tích cực giáo hóa dân chúng, giúp họ từ bỏ hủ tục lâu đời.
Nhân vật chính
-
Vị Bà-la-môn: Người muốn giết dê để làm đồ ăn cúng người chết.
-
Con dê: Một người từng sát sinh trong đời trước và đang chịu quả báo bị chặt đầu qua nhiều kiếp.
-
Các đệ tử Bà-la-môn: Những người chứng kiến con dê cười, khóc và thuật lại câu chuyện.
-
Vị thần cây: Tiền thân của Đức Phật, người thuyết pháp về hậu quả của sát sinh.
-
Dân chúng: Những người nghe pháp, từ bỏ tục giết vật tế lễ và giữ năm giới.
Nhận diện tiền thân
Đức Phật kết luận:
-
Vị thần cây thời ấy chính là tiền thân của Đức Phật.
Thông điệp cốt lõi
Không thể tạo phước bằng cách gây đau khổ và cướp đi mạng sống của chúng sinh khác.
Người đã chết không nhận được lợi ích từ việc sát sinh cúng tế, trong khi người thực hiện lại tạo thêm nghiệp bất thiện cho chính mình.
Muốn tưởng nhớ và đem lại điều lành cho người đã khuất, hãy thực hành bố thí, giữ giới, nuôi dưỡng lòng từ bi và làm những việc có lợi cho chúng sinh còn sống.
Các nhân vật ở đây
Đọc tiếp & nội dung liên quan
Top bài viết liên quan
Dựa trên các chuyên mục chung với bài đang đọc, ưu tiên nội dung được quan tâm.
Bài viết cùng chuyên mục
Tiền thân Đức Phật ( Tiểu Bộ Nikaya)
Báo lỗi nội dung
Chọn vấn đề bạn phát hiện. Quản trị viên sẽ nhận báo cáo kèm đúng trang hiện tại.

Mốc I : Hoàn cảnh trước khi Phật ra đời
Mốc II : Sự kiện Phật đản sanh
Mốc III: Giai đoạn tuổi thơ của Bồ tát Tất Đạt Đa
Mốc IV : Giai đoạn trưởng thành - xuất gia
Mốc V : Tầm đạo
Mốc VI : Thành đạo
Mốc VII: Những vị đệ tử đầu tiên
Mốc VIII : Tăng đoàn lớn mạnh
Mốc IX: Mười ba năm cuối cuộc đời Đức Phật
Mốc X : Đức Phật nhập niết bàn