Makkarakaṭa
Cấp 1
Makkarakaṭa
SN 35.132 trực tiếp đặt Mahākaccāna giữa dân Avanti tại Makkarakaṭa, trong một trú xá rừng.

- 10/07/2026 11:20:48- 4588 Lượt xem
- 10/07/2026 11:20:48- 1391 Lượt xem
- 10/07/2026 11:20:48- 1381 Lượt xem
- 10/07/2026 11:20:48- 1164 Lượt xem
- 10/07/2026 11:20:48- 1158 Lượt xem
⌖
Nước Avantī
Nước Avantī
3 địa danh trực tiếp và nhiều tầng trong cơ sở dữ liệu.
Makkarakaṭa
Cấp 1
SN 35.132 trực tiếp đặt Mahākaccāna giữa dân Avanti tại Makkarakaṭa, trong một trú xá rừng.
Thành Ujjenī (Ujjain)
Cấp 1
Ujjenī là trung tâm quan trọng của Avanti.
Trú xá rừng tại Makkarakaṭa
Cấp 2
SN 35.132 nêu rõ araññakuṭikā, trú xá rừng của Mahākaccāna tại Makkarakaṭa.
|
Vương quốc Avanti
|
|||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|
| c. 700 TCN–khoảng. 300 TCN | |||||||
Avanti và các Mahajanapadas khác trong thời kỳ Hậu Vệ đà.
|
|||||||
| Thủ đô | Ujjayini | ||||||
| Ngôn ngữ phổ biến | tiếng Phạn | ||||||
| Tôn giáo
|
Ấn Độ giáo Phật giáo đạo Jain |
||||||
| Chính phủ | chế độ quân chủ | ||||||
| Maharaja (Vị vua vĩ đại) | |||||||
| Thời đại lịch sử | Thời đại đồ đồng , thời đại đồ sắt | ||||||
|
• Thành lập
|
c. 700 TCN | ||||||
|
• Tan rã
|
c. 300 TCN | ||||||
|
|||||||
| Hôm nay một phần của | Ấn Độ | ||||||
| Lịch sử Nam Á |
|---|
|
Lịch sử dân tộc
|
|
Lịch sử khu vực
|
|
Lịch sử chuyên ngành
|
Avanti , là một Mahajanapada cổ đại của Ấn Độ ( Great Janapada ), gần tương ứng với vùng Malwa ngày nay . Theo kinh điển Phật giáo , Anguttara Nikaya , Avanti là một trong solasa mahajanapadas (mười sáu cõi lớn) của thế kỷ thứ 6 trước Công nguyên. Janapada được Vindhyas chia thành hai phần , phần phía bắc có thủ đô tại Ujjayini và phần phía nam có trung tâm tại Mahishmati . [1] [2]
Avantis, những người cổ xưa thuộc vương quốc này, được mô tả là mahavala (rất mạnh mẽ) trong Udyoga Parva (19.24) của Mahabharata . [3] Theo Vishnu Purana (II.3), Bhagavata Purana (XII.I.36) và Brahma Purana (XIX.17), Avantis được liên kết với Malava , Saurashtras , Abhiras / Yadavas , Suras, Karushas và Arbudas và được mô tả là cư trú dọc theo dãy núi Pariyatra (hoặc Paripatra ) [4] [5] (một nhánh phía tây của Vindhyas).
Vương quốc Avanti bao phủ một lãnh thổ bao gồm khu vực xung quanh thành phố Ujjayini và phần thung lũng sông Narmadā giữa Māhissatī và Maheshwar , cũng như một số khu vực lân cận. [6]
Avanti bị chia cắt thành một phần phía bắc và một phần phía nam bởi dãy núi Vindhya , với phần phía bắc có thủ đô ở Ujjenī, bị thoát nước bởi sông Sipra cũng như các dòng suối khác, trong khi phần phía nam được thoát nước bởi Narmadā và có thủ đô của nó tại Māhissatī hoặc Māhiṣmatī. [6]
Theo các ghi chép của người Puranic, người Haihayas là những người cai trị Avanti sớm nhất, họ đã chiếm được khu vực này từ tay người Nagas. Ban đầu, họ cai trị từ Mahishmati. Một số tài khoản đặt Ujjayini là thủ đô của Avanti. [7] Sau đó, toàn bộ janapada được chia thành hai phần với thủ đô là Mahishmati và Ujjayini. Haihayas là một liên minh gồm năm thị tộc, Vitihotras, Bhojas, Avantis, Tundikeras và Sharyatas. Sau này, người Haihayas được biết đến nhiều hơn nhờ tộc thống trị của họ - Vitihotras. Ripunjaya, người cai trị Vitihotra cuối cùng của Ujjayini đã bị lật đổ bởi amatya (bộ trưởng) Pulika của ông ta, người đã đặt con trai ông ta, Pradyota lên ngai vàng. [8] [9]
Mahagovindasuttanta của Dighanikaya đề cập đến vị vua Avanti Vessabhu (Vishvabhu) và thủ đô Mahissati (Mahishmati) của ông ta . Có lẽ ông ta là một người cai trị Vitihotra. [10]
Pradyota đương đại với Phật Gautama . [11] Ông còn được gọi là Chandapradyota Mahasena . Pradyota bắt được vua Vatsa Udayana nhưng sau đó ông gả con gái Vasavadatta của mình cho Udayana. Mahavagga mô tả ông là người độc ác và theo Majjhima Nikaya, Ajātasattu , vua của Magadha đã củng cố Rajagriha để bảo vệ nó khỏi một cuộc xâm lược do Pradyota lãnh đạo. Ông cũng gây chiến với Pushkarasarin, vua của Takshashila. [12] Hoàng hậu chính của Pradyota là Gopalamata (mẹ của hoàng tử Gopala) là đệ tử của tu sĩ Phật giáo Mahakatyayana và đã xây dựng một bảo tháp ở Ujjayini.
Pradyota có hai con trai, Gopala và Palaka. Ông đã được kế vị bởi Palaka. Theo lời kể của người Jaina, Palaka lên ngôi vào ngày Mahavira qua đời . Theo Kathasaritsagara và Avashyaka Kathanaka , vương quốc Vatsa đã là một phần của Avanti dưới thời trị vì của Palaka và một hoàng tử của gia đình hoàng gia là thống đốc của Kaushambi . Trong Mricchakatika , Palaka được mô tả là một bạo chúa bị lật đổ bởi một cuộc nổi dậy của quần chúng. Cuộc nổi dậy này đã đặt Aryaka lên ngai vàng của Ujjayini. Puranas đặt Nadivardhana hoặc Vartivardhana sau Aryaka. Nhưng những cái tên này có lẽ là sự sửa đổi của Avantivardhana, tên của con trai Palaka theo Kathasaritsagara hoặc con trai của Gopala theo Brihatkatha của Nepal . Ông đã bị đánh bại bởi Shishunaga , vua của Magadha . [13]
Avanti là một phần của đế chế Magadha dưới thời cai trị của triều đại Shaishunaga và Nanda . Trong thời kỳ Đế quốc Nanda cai trị, Avanti trở thành Avantirāṭṭha [14] hay tỉnh phía tây của đế chế, với thủ đô là Ujjayini. [15] Dòng chữ trên đá Junagarh của Rudradaman I (150 CN) đề cập đến Pushyagupta là thống đốc của tỉnh phía tây dưới thời trị vì của Chandragupta Maurya . [16] Trong thời trị vì của người cai trị tiếp theo Bindusara , hoàng tử Ashoka là thống đốc tỉnh. [17] Sau sự sụp đổ của Mauryas, vào thời Pushyamitra Shunga , con trai ông là Agnimitra là phó vương Magadhan tại Vidisha , nhưng ông cai trị độc lập với Magadha vì mọi mục đích thực tế. [18]
Vương quốc Malava là một trong nhiều vương quốc được cai trị bởi các vị vua Yadava ở vùng Malwa miền trung và miền tây Ấn Độ được đề cập trong Mahabharata . [19] Đôi khi, Avanti và Malava được mô tả là cùng một quốc gia. Ban đầu họ là một bộ tộc phía Tây, nằm ở vùng Punjab phía Tây Bắc Ấn Độ. [ cần dẫn nguồn ] Sau đó, họ di cư đến các bang Rajasthan và Madhya Pradesh của Ấn Độ. Trong lịch sử Ấn Độ được ghi lại , có một bộ tộc hoàng gia tên là Malavas được cho là hậu duệ của người Malavas.
Avantī là một trong mười sáu Mahājanapada – mười sáu đại quốc của Ấn Độ cổ đại được kinh điển Phật giáo Pāli ghi nhận.
Trong thời Đức Phật Gotama, Avantī là một thế lực quan trọng ở miền tây Ấn Độ. Kinh đô nổi tiếng nhất của nước này là Ujjenī (Ujjayinī; Sanskrit: Ujjayinī). Các nguồn cổ cũng ghi Māhissatī (Māhiṣmatī) là một trung tâm quan trọng của Avantī.
Đối với lịch sử Phật giáo, Avantī đặc biệt gắn với Tôn giả Mahākaccāna (Đại Ca-chiên-diên) – một trong những đại đệ tử của Đức Phật, nổi tiếng về khả năng giải thích chi tiết những lời dạy được trình bày vắn tắt.
Avantī xuất hiện trong danh sách mười sáu Mahājanapada của truyền thống Pāli.
Điều này cho thấy Avantī không phải một địa phương nhỏ mà là một trong những chính thể lớn thuộc thế giới chính trị Bắc và Trung Ấn vào thời kỳ Đức Phật.
Avantī cũng được truyền thống Pāli xem là một trong những vương quốc lớn của thời kỳ này, bên cạnh các thế lực như:
Magadha;
Kosala;
Vaṃsa/Vatsa.
Vị trí ở phía tây khiến Avantī trở thành một khu vực quan trọng kết nối vùng trung tâm sông Hằng với miền tây và miền nam tiểu lục địa Ấn Độ.
Avantī cổ đại thường được hiểu gồm hai khu vực chính.
Bắc Avantī có trung tâm tại Ujjenī.
Nam Avantī, còn được các nguồn Pāli liên hệ với Avanti-Dakkhiṇāpatha, có trung tâm tại Māhissatī.
Dãy Vindhya tạo nên một ranh giới địa lý tự nhiên quan trọng giữa hai vùng.
Vì vậy, khi xây dựng bản đồ Phật học, không nên thể hiện Avantī đơn giản như một thành phố duy nhất. Đây là một lãnh thổ rộng với nhiều trung tâm chính trị và dân cư.
Ujjenī là thành phố nổi tiếng nhất của Avantī và thường được xem là kinh đô của nước này vào thời Đức Phật.
Thành phố nằm trên các tuyến giao thương quan trọng, kết nối miền tây Ấn Độ với các trung tâm phía đông.
Truyền thống Pāli còn liên hệ Ujjenī với nhiều nhân vật Phật giáo quan trọng.
Đặc biệt, Mahākaccāna được truyền thống chú giải xem là người sinh tại Ujjenī.
Do đó trong cơ sở dữ liệu nên thiết lập quan hệ:
Avantī → Ujjenī → Mahākaccāna.
Ujjenī cổ đại thường được đối chiếu với Ujjain, thuộc bang Madhya Pradesh của Ấn Độ ngày nay.
Māhissatī (Māhiṣmatī) là trung tâm quan trọng khác của Avantī.
Một truyền thống được bảo tồn trong Trường Bộ nhắc đến vua Vessabhū của Avantī với kinh đô Māhissatī trong một bối cảnh thuộc quá khứ.
Điều này cho thấy địa vị của Ujjenī và Māhissatī có thể thay đổi tùy thời kỳ và tùy phần lãnh thổ Avantī được nói đến.
Vì vậy, dữ liệu nên ghi:
Kinh đô/trung tâm: Ujjenī; Māhissatī là trung tâm quan trọng của Nam Avantī.
Không nên khẳng định một kinh đô duy nhất cho toàn bộ lịch sử Avantī.
Trong thời Đức Phật, nhân vật chính trị nổi bật nhất của Avantī là vua Pajjota, thường được gọi là Caṇḍa Pajjota.
Ông cai trị tại Ujjenī và là người cùng thời với Đức Phật.
Các nguồn Pāli mô tả Pajjota là một vị vua có tính khí dữ dằn. Quan hệ giữa Avantī với các vương quốc khác, đặc biệt Magadha và Vatsa, phản ánh vị thế chính trị đáng kể của Avantī trong thời kỳ này.
Một sự kiện đáng chú ý là khi Pajjota lâm bệnh, vua Bimbisāra của Magadha đã cử danh y Jīvaka đến chữa trị.
Truyền thống này cho thấy dù các đại quốc cạnh tranh với nhau, giữa các triều đình vẫn tồn tại quan hệ ngoại giao và trao đổi.
Đối với Phật giáo, nhân vật quan trọng nhất gắn với Avantī là Mahākaccāna (Mahākaccāyana).
Tôn giả là một trong những đại đệ tử nổi tiếng của Đức Phật và đặc biệt được biết đến với khả năng:
giải thích chi tiết ý nghĩa của những lời dạy được Đức Phật trình bày vắn tắt.
Sau khi gia nhập Tăng đoàn, Mahākaccāna hoạt động nhiều tại vùng Avantī và trở thành nhân vật trung tâm trong quá trình truyền bá giáo pháp tại miền tây.
Nhiều bài kinh ghi Tôn giả cư trú tại Kuraraghara, trên núi Papāta/Pavatta, trong vùng của người Avantī.
Vì vậy nên thiết lập quan hệ dữ liệu:
Avantī → Mahākaccāna → Kuraraghara → Papāta/Pavatta Pabbata.
Kuraraghara là một địa danh đặc biệt quan trọng trong lịch sử Phật giáo tại Avantī.
Một số bài kinh trong Tương Ưng Bộ đặt bối cảnh:
Tôn giả Mahākaccāna đang trú trong xứ Avantī, gần Kuraraghara, trên núi Papāta/Pavatta.
Tại đây nhiều cư sĩ tìm đến Tôn giả để hỏi pháp.
Một nhân vật nổi bật là cư sĩ Hāliddikāni, người nhiều lần thưa hỏi Mahākaccāna về những vấn đề giáo pháp.
Điều này cung cấp chứng cứ Nikāya trực tiếp cho hoạt động của một cộng đồng Phật giáo tại Avantī.
Một nhân vật quan trọng khác của Phật giáo Avantī là Soṇa Kuṭikaṇṇa.
Udāna ghi rằng Mahākaccāna đang sống giữa người Avantī tại Kuraraghara và Soṇa Kuṭikaṇṇa là người hộ trì Tôn giả.
Sau khi nghe giáo pháp, Soṇa phát tâm xuất gia.
Câu chuyện của Soṇa đặc biệt quan trọng vì nó phản ánh những khó khăn thực tế của Tăng đoàn tại một vùng xa trung tâm Phật giáo.
Theo truyền thống Luật tạng, Mahākaccāna gặp khó khăn trong việc tập hợp đủ số Tỳ-kheo cần thiết để thực hiện lễ truyền giới đầy đủ cho Soṇa.
Sau này Soṇa đến gặp Đức Phật tại Sāvatthī và chuyển lời thỉnh cầu của Mahākaccāna về việc điều chỉnh một số quy định cho những vùng biên địa như Avantī.
Câu chuyện Mahākaccāna và Soṇa có giá trị đặc biệt đối với lịch sử Tăng đoàn.
Avantī nằm xa các trung tâm Phật giáo lớn phía đông nên số lượng Tỳ-kheo tại đây còn ít.
Mahākaccāna vì thế đề nghị Đức Phật cho phép một số điều chỉnh thích hợp đối với Avanti-Dakkhiṇāpatha và các vùng biên địa.
Truyền thống Luật tạng ghi nhận Đức Phật chấp thuận một số ngoại lệ, trong đó có việc giảm số Tỳ-kheo cần thiết trong một số thủ tục truyền giới ở vùng biên.
Dữ kiện này cho thấy Phật giáo vào thời kỳ đầu đã bắt đầu mở rộng khỏi vùng trung tâm Magadha–Kosala tới những khu vực xa hơn của tiểu lục địa.
Avantī vì vậy có giá trị đặc biệt trong việc nghiên cứu quá trình mở rộng địa lý của Tăng đoàn Phật giáo sơ kỳ.
Cần thận trọng khi mô tả hoạt động trực tiếp của Đức Phật tại Avantī.
Các nguồn kinh điển cung cấp bằng chứng rất rõ về:
Mahākaccāna hoạt động tại Avantī;
cộng đồng cư sĩ tại Avantī;
Soṇa Kuṭikaṇṇa;
những khó khăn của Tăng đoàn tại vùng này.
Nhưng Avantī không xuất hiện như một trung tâm Đức Phật thường xuyên cư trú và thuyết pháp giống Sāvatthī, Rājagaha, Vesālī hay Kosambī.
Vì vậy không nên tự động gắn cho Avantī những chuyến hoằng pháp của Đức Phật nếu không có nguồn kinh điển cụ thể.
Vai trò nổi bật của Avantī trong Phật giáo sơ kỳ chủ yếu được thể hiện qua Mahākaccāna và các đệ tử của ngài.
Avantī thuộc khu vực miền tây/trung Ấn Độ cổ đại.
Phần phía bắc thường được đối chiếu với vùng Malwa, thuộc bang Madhya Pradesh ngày nay.
Ujjenī tương ứng với thành phố Ujjain hiện đại.
Nam Avantī trải về phía thung lũng Narmadā, với Māhissatī/Māhiṣmatī là một trung tâm quan trọng.
Tuy nhiên, đường biên của Avantī cổ đại không tương ứng chính xác với ranh giới hành chính hiện đại.
Trên bản đồ Nikaya Tâm Học nên ghi:
Vị trí: miền trung–tây Ấn Độ, chủ yếu khu vực Madhya Pradesh ngày nay (ước định).
Avantī có ít nhất bốn ý nghĩa lớn.
Thứ nhất – chính trị: Avantī là một trong mười sáu Mahājanapada.
Thứ hai – địa lý: Avantī đại diện cho một trong những vùng quan trọng ở phía tây so với trung tâm hoạt động ban đầu của Đức Phật.
Thứ ba – truyền bá Phật pháp: Mahākaccāna trở thành nhân vật chủ chốt trong việc thiết lập và phát triển cộng đồng Phật giáo tại vùng này.
Thứ tư – lịch sử Luật tạng: những khó khăn của Tăng đoàn Avantī dẫn đến các quy định thích nghi dành cho vùng biên địa.
Vì thế, Avantī là một địa danh quan trọng để nghiên cứu sự mở rộng của Phật giáo từ lưu vực trung tâm sông Hằng sang miền tây Ấn Độ.
Đức Phật Gotama
Tôn giả Mahākaccāna
Soṇa Kuṭikaṇṇa
Cư sĩ Hāliddikāni
Vua Caṇḍa Pajjota
Vua Bimbisāra
Danh y Jīvaka
Vua Udena của Vatsa
Ujjenī
Māhissatī / Māhiṣmatī
Kuraraghara
Papāta/Pavatta Pabbata
Avanti-Dakkhiṇāpatha
Magadha
Vatsa/Kosambī
Sāvatthī
sông Narmadā
Các đoạn Aṅguttara Nikāya liệt kê Avantī trong mười sáu Mahājanapada
SN 22.3 – Hāliddikāni Sutta
SN 22.4 – Hāliddikāni Sutta
Các bài kinh thuộc SN 35 liên quan Mahākaccāna tại Avantī
Udāna 5.6 – Soṇa Sutta
Các đoạn Vinaya/Mahāvagga về Mahākaccāna, Soṇa và quy định dành cho vùng biên
Các bài kinh khác ghi lời giảng của Mahākaccāna
Nội dung hiện tại của record Avantī đang trộn nhiều lớp lịch sử từ thời Vệ Đà, Mahābhārata, Purāṇa, Maurya và các triều đại về sau.
Đối với trang Địa danh Phật học, nên ưu tiên dữ liệu thuộc thời Đức Phật.
Phần mô tả ngắn nên thay bằng:
“Avantī là một trong mười sáu Mahājanapada thời Đức Phật, với Ujjenī là trung tâm quan trọng. Đây là vùng hoạt động nổi bật của Tôn giả Mahākaccāna, vị đại đệ tử nổi tiếng về khả năng giải thích chi tiết những lời dạy vắn tắt của Đức Phật.”
Tên: Avantī
Loại: Mahājanapada – đại quốc thời Phật
Kinh đô/trung tâm: Ujjenī; Māhissatī ở Nam Avantī
Vua thời Đức Phật: Caṇḍa Pajjota
Vị trí: Trung–tây Ấn Độ, chủ yếu Madhya Pradesh ngày nay (ước định)
Nhân vật Phật giáo tiêu biểu: Mahākaccāna
Đệ tử/cư sĩ liên quan: Soṇa Kuṭikaṇṇa, Hāliddikāni
Địa điểm Phật giáo quan trọng: Kuraraghara, Papāta/Pavatta Pabbata
Vai trò: Trung tâm truyền bá Phật giáo quan trọng ở miền tây
Chứng cứ kinh điển: Cao
Độ chắc chắn của biên giới hiện đại: Thấp/trung bình
CAO – Avantī thuộc danh sách mười sáu Mahājanapada.
CAO – Ujjenī là trung tâm quan trọng của Avantī và Pajjota là vua Avantī cùng thời Đức Phật.
CAO – Mahākaccāna hoạt động tại Avantī; kinh điển trực tiếp đặt ngài tại Kuraraghara trong vùng người Avantī.
CAO – Soṇa Kuṭikaṇṇa có quan hệ với Mahākaccāna tại Avantī.
CAO – truyền thống Luật ghi nhận những điều chỉnh dành cho Avanti-Dakkhiṇāpatha và các vùng biên địa.
TRUNG BÌNH – cách phục dựng chính xác quan hệ giữa Bắc Avantī, Nam Avantī, Ujjenī và Māhissatī qua từng thời kỳ.
THẤP/TRUNG BÌNH – đường biên chính xác của Avantī khi chuyển sang bản đồ hành chính hiện đại.
Avanti là một trong 16 mahājanapada được Aṅguttara Nikāya liệt kê. Đây là một vùng lớn ở phía tây/trung Ấn cổ, có vai trò quan trọng trong sự lan truyền Phật giáo nhưng ít xuất hiện hơn Magadha/Kosala trong các bối cảnh Đức Phật trực tiếp lưu trú.
Giữ Avanti trong nhóm 16 đại quốc. Nên tránh gán cho Đức Phật các chuyến đi tới Avanti nếu không có nguồn sớm trực tiếp; nhiều kết nối Phật giáo của Avanti gắn với đệ tử và sự truyền bá về sau.
Nên liên kết Avanti với Ujjenī/Ujjayinī và truyền thống Mahākaccāna khi có record tương ứng.
Avanti thuộc lớp địa-chính trị thời Phật; lịch sử Phật giáo khu vực tiếp tục phát triển mạnh ở các thế kỷ sau.
AN 3.70 và AN 8.43 xác nhận Avanti là một trong 16 đại quốc.
Các tuyến truyền giáo và truyền thống địa phương về sau cần gắn niên đại cụ thể.
Địa lý Avanti có thể phục dựng tương đối qua Ujjain và vùng Malwa, nhưng ranh giới thay đổi theo thời kỳ.
Avanti thường liên hệ vùng Malwa và trung Ấn ngày nay.
Chưa có bài viết liên kết trực tiếp với địa danh này.
Chọn vấn đề bạn phát hiện. Quản trị viên sẽ nhận báo cáo kèm đúng trang hiện tại.
Liên kết bên dưới được dựng phía server từ các quan hệ đang có trong cơ sở dữ liệu Nikaya Tâm Học.
Quan hệ Địa danh ↔ Nhân vật đang có trong database.
Nhân vật liên hệ với địa danh qua dữ liệu meta hiện hữu.
- 10/07/2026 11:20:48- 899 Lượt xem
- 10/07/2026 11:20:48- 899 Lượt xem
- 10/07/2026 11:20:48- 899 Lượt xem
- 10/07/2026 11:20:48- 773 Lượt xem
- 10/07/2026 11:20:48- 773 Lượt xem
- 10/07/2026 11:20:48- 1120 Lượt xem
- 10/07/2026 11:20:48- 979 Lượt xem
- 10/07/2026 11:20:48- 1269 Lượt xem
- 10/07/2026 11:20:48- 1017 Lượt xem
- 10/07/2026 11:20:48- 922 Lượt xem
- 07/24/2026 20:48:16- 523 Lượt xem
- 07/24/2026 20:48:04- 528 Lượt xem
- 07/24/2026 20:47:51- 537 Lượt xem
- 07/24/2026 20:43:50- 454 Lượt xem
- 07/24/2026 20:43:37- 470 Lượt xem
- 07/24/2026 20:42:49- 513 Lượt xem
- 07/24/2026 20:42:36- 463 Lượt xem
- 07/24/2026 20:42:19- 500 Lượt xem