Nikaya Tâm HọcCon đường tuệ giác
Nikaya Tâm HọcKinh điển, nghiên cứu và các khu vực chính
Kinh sáchKinh điển, sách và tài liệu học Phật
Danh mục đầy đủ
Thời Phật Tại ThếBản đồ, Cuộc đời Đức Phật và Album ảnh
Bỏ qua menu, tới nội dung chính
Nikaya Tâm HọcKinh điển • Đức Phật • Nghiên cứu
Thư viện Nikaya Tâm HọcKhông gian tra cứu Đức Phật, Kinh Nikaya, A Hàm và tư liệu liên quan
Chuyện tiền thân Đức Phật P016 : CHUYỆN CON NAI CÓ BA CỬ CHỈ. (Tiền thân Tipallatthamiga)
<p>Khi Đức Phật trú tại tinh xá Badarika ở Kosambi, các Tỳ-kheo cùng nhau tán thán đức tính ham học và nghiêm túc giữ giới của Tôn giả La-hầu-la.</p> <p>Trước đó, khi Đức Phật ở điện Aggālava gần thành Ālavi, nhiều cư sĩ và Tỳ-kheo-ni thường đến tinh xá nghe pháp vào ban ngày. Về sau, chỉ còn các Tỳ-kheo và nam cư sĩ đến nghe nên những buổi thuyết pháp được tổ chức vào ban đêm.</p> <p>Sau khi nghe pháp, các vị trưởng lão trở về chỗ ở, còn một số Tỳ-kheo trẻ ngủ lại trong giảng đường cùng những người chưa thọ Đại giới. Trong lúc ngủ, có người ngáy, nghiến răng và nằm trong tư thế không thích hợp. Sự việc được trình lên Đức Phật.</p> <p>Đức Phật chế định học giới rằng Tỳ-kheo nằm ngủ chung với người chưa thọ Đại giới thì phạm tội Ba-dật-đề, là tội cần phải thú nhận trước Tăng chúng.</p>
Tìm kiếm nhanh
student dp

ID:597

Các tên gọi khác

Nai với ba cử chỉ…, Câu chuyện này, khi ở tại tinh xá Badarika ở Kosambi, bậc Ðạo Sư đã kể về Trưởng lão Ràhula (La-hầu-la) ham học các học giới. Một thời, bậc Ðạo Sư trú ở điện Aggàlava, gần thành Àlavi, nhiều nữ cư sĩ và Tỷ-kheo-ni thường đến tinh xá để nghe pháp. Thuyết pháp được tổ chức ban ngày. Nhưng sau một thời gian, các cư sĩ và các Tỷ-kheo-ni không đi nữa, chỉ có Tỷ-kheo và nam cư sĩ. Từ đấy, thuyết pháp được tổ chức ban đêm.

General Information

Ngày khởi tạo : 2023-11-12 18:59:07

Edit time : 07/23/2026 11:57:23 - Số lần chỉnh sửa : 4

Danh sách : Liên quan
:

1454.007_ch-01-p-gioi-chuyen-13-14-15-16

Duyên khởi:khi ở tại tinh xá Badarika ở Kosambi, bậc Ðạo Sư đã kể về Trưởng lão Ràhula (La-hầu-la) ham học các học giới.

Đức Phật là : con nai cậu

Nhóm tiền thân :con nai cháu là La-hầu-la, con nai mẹ là Upplavannà và con nai cậu là Ta vậy.

Các nhân vật ở đây
Chuyện tiền thân Đức Phật P016 : CHUYỆN CON NAI CÓ BA CỬ CHỈ. (Tiền thân Tipallatthamiga)


16. CHUYỆN CON NAI CÓ BA CỬ CHỈ. (Tiền thân Tipallatthamiga)


Nai với ba cử chỉ…,
Câu chuyện này, khi ở tại tinh xá Badarika ở Kosambi, bậc Ðạo Sư đã kể về Trưởng lão Ràhula (La-hầu-la) ham học các học giới. Một thời, bậc Ðạo Sư trú ở điện Aggàlava, gần thành Àlavi, nhiều nữ cư sĩ và Tỷ-kheo-ni thường đến tinh xá để nghe pháp. Thuyết pháp được tổ chức ban ngày. Nhưng sau một thời gian, các cư sĩ và các Tỷ-kheo-ni không đi nữa, chỉ có Tỷ-kheo và nam cư sĩ. Từ đấy, thuyết pháp được tổ chức ban đêm.
Sau buổi thuyết pháp, các Tỷ-kheo trưởng lão đi về chỗ ở của mình, còn các tu sĩ trẻ nằm tại phòng giảng với các nam giới. Khi họ ngủ, một số nằm ngáy khò khò và nghiến răng. Một số chỉ nằm một lát rồi dậy, nhìn thấy sự kiện không thích đáng ấy, và báo cáo lên Thế Tôn. Thế Tôn chế ra học giới như sau:
– Tỷ-kheo nào nằm ngủ với người chưa thọ Ðại giới là phạm tội Pàcittiya (Ba-dật-đề: tội phải thú nhận trước Tăng chúng)
Rồi Ngài đi đến Kosambi. Lúc bấy giờ, các Tỷ-kheo nói với Tôn giả La-hầu-la:
– Hiền giả La-hầu-la, Thế Tôn đã đặt ra học giới. Hiền giả nay hãy tìm chỗ ở của mình.
Lúc trước, vì kính trọng Thế Tôn, vì Tôn giả tha thiết học hỏi các học giới, các Tỷ-kheo ấy đã tiếp đón La-hầu-la như vào nhà của mình, đã soạn một chiếc giường nhỏ và cho Tôn giả một cái y lam gối. Nhưng hôm ấy, các Tỷ-kheo vì sợ vi phạm học giới, nên không cho La-hầu-la chỗ ở.
Hiền giả La-hầu-la không đi đến Thế Tôn là phụ thân của mình, cũng không đi đến Xá-lợi-phất là vị Tướng quân Chánh pháp và là giáo thọ sư của mình, cũng không đi đến Ðại-mục-kiền-liên là bậc sư trưởng của mình, lại đi vào phòng vệ sinh của Thế Tôn, như thể đi vào cung điện Phạm thiên và trú ở đấy.
Trong phòng vệ sinh của đức Phật, cửa luôn luôn khéo đóng, nền làm bằng đất thơm. Hoa và vòng hoa kết thành vòng dọc theo những bức tường. Suốt đêm có cây đèn thắp sáng. Hiền giả La-hầu-la không vì cảnh sang trọng này mà trú ở đấy, chỉ vì các Tỷ-kheo bảo tìm lấy chỗ ở, chỉ vì tôn trọng lời khuyên bảo, vì muốn học tập nên trú chỗ ấy.
Thỉnh thoảng, các Tỷ-kheo thấy Tôn giả từ xa đi đến, vì mục đích thử thách, thường quăng bên ngoài cái cán chổi hay một ít rác, chờ khi La-hầu-la đi đến, liền hỏi:
– Hiền giả, ai quăng đồ rác này?
Khi được nghe: Chính La-hầu-la đi qua đường này, La-hầu-la không nói: – Thưa Tôn giả, tôi không biết việc này.
Trái lại, La-hầu-la thường dọn rác ấy đi, khiêm tốn xin lỗi, và sau khi được tha lỗi mới đi. Vì mong muốn học tập như vậy, nên La-hầu-la mới trú tại chỗ ấy.
Rồi trước khi rạng đông, bậc Ðạo Sư đứng trước cửa phòng vệ sinh và đằng hắng. Tôn giả đằng hắng lại.
– Ai đó?
– Con là La-hầu-la.
Rồi Tôn giả đi ra đảnh lễ.
– Này La-hầu-la, sao con nằm ở đây?
– Vì không có chỗ ở, bạch Thế Tôn, trước đây các Tỷ-kheo cho con ở chung, nay vì sợ phạm tội, không cho con chỗ ở. Nghĩ rằng, đây là một chỗ không va chạm một ai, nên con nằm ở đây!
Thế Tôn xúc động mạnh vì Chánh pháp, suy nghĩ: “Với La-hầu-la, các Tỷ-kheo còn vất bỏ như vậy, thì đối với các lớp chúng trẻ mới xuất gia, có gì họ không làm được”.
Buổi sáng sớm, Thế Tôn cho họp các Tỷ-kheo và hỏi Tướng quân Chánh pháp:
– Này Xá-lợi-phất, ông có biết nay La-hầu-la trú tại chỗ nào không?
– Bạch Thế Tôn, con không biết.
– Này Xá-lợi-phất, La-hầu-la đang ở trong nhà vệ sinh! Này Xá-lợi-phất, nếu các ông vứt bỏ La-hầu-la như vậy, thì đối với các lớp trẻ mới xuất gia, có gì các ông không làm được? Nếu sự việc là vậy, những ai xuất gia trong Giáo pháp này sẽ không ở lại. Bắt đầu từ hôm nay, các ông được phép cho người chưa thọ Ðại giới ở chung một hay hai ngày. Ðến ngày thứ ba, cho họ ở ngoài, sau khi biết chỗ ở của họ.
Sau khi thêm điều khoản phụ này, Thế Tôn chế định học giới. Lúc bấy giờ, các Tỷ-kheo ngồi trong pháp đường tán thán đức hạnh của La-hầu-la:
– Thưa các Hiền giả, hãy xem La-hầu-la tha thiết học tập như thế nào. Khi được hỏi chỗ ở của mình, La-hầu-la không nói: Ta là con đức Thế Tôn. La-hầu-la không chống đối một Tỷ-kheo nào, nhưng đã đến ở phòng vệ sinh!
Khi các Tỷ-kheo đang nói như vậy, bậc Ðạo Sư đến tại pháp đường, ngồi xuống bảo toạ có trang hoàng và hỏi:
– Này các Tỷ-kheo, các ông nay ngồi ở đây đang nói chuyện gì?
– Bạch Thế Tôn, chúng con nói đến lòng tha thiết học tập của La-hầu-la, không nói chuyện gì khác.
Bậc Ðạo Sư nói:
– Không phải chỉ nay La-hầu-la mới tha thiết học tập, mà trước kia khi làm bàng sanh, cũng đã tha thiết học tập rồi.
Và Thế Tôn kể câu chuyện quá khứ.
*
Thuở xưa, một vị vua Ma-kiệt-đà đang trị vì tại Vương Xá. Lúc ấy Bồ Tát sanh làm một con nai, với đàn nai vây quanh sống ở trong rừng. Con nai chị đem con mình đến và nói:
– Này em, hãy dạy cho cháu em sự khôn ngoan của loài nai.
– Tốt lắm.
Bồ-tát đáp lại và nói:
– Này cháu thân, hãy đi, và vào giờ ấy, hãy đến học.
Con nai cháu không quên giờ cậu nói, đúng giờ nó đến và học sự khôn ngoan của loài nai. Một ngày kia, khi đi qua lại trong rừng, nó bị mắc vào bẫy sập và thốt tiếng kêu của con thú bị bắt. Ðàn nai bỏ chạy, về báo cho nai mẹ biết con bị mắc bẫy. Nó đi đến nai em và hỏi:
– Này em, cháu đã học sự khôn ngoan của loài nai chưa?
Bồ-tát nói:
– Ðừng sợ những điềm dữ đến với cháu. Nó đã khéo học được sự khôn ngoan của loài nai. Nay sẽ đến lượt chị cười rồi đó!
Nói vậy xong, Bồ-tát đọc bài kệ này:
Nai với ba cử chỉ,
Với nhiều sự khôn ngoan,
Biết dùng chân tám móng,
Biết nửa đêm uống nước;
Chỉ với một lỗ tai,
Thở theo nhịp độ đất;
Với sáu sự khôn ngoan,
Cháu tôi thắng người thù.
Như vậy, Bồ-tát nêu rõ cháu mình đã học tốt đẹp sự khôn ngoan của loài nai, và an ủi nai chị. Còn nai con bị bắt trong bẫy sập, không vùng vẫy, nằm duỗi chân hết sức thoải mái theo một bên hông, móng chân cào đất tại chỗ gần chân, hất lên bụi và cỏ, đi tiểu và đại tiện, đầu gục xuống, le lưỡi, làm thân đẫm ướt mồ hôi, rồi nó nín thở khiến bụng trướng lên, trợn mắt, chỉ thở với một lỗ mũi ở dưới, nín thở vói lỗ mũi ở trên, khiến toàn thân cứng đờ như con vật đã chết. Vì thế cho nên các loài ruồi xanh đến bu quanh nó. Chỗ này, chỗ kia, các con quạ đã đậu xuống. Người thợ săn đi đến, lấy tay vỗ bụng nó, suy nghĩ: “Con này bị bắt hồi sáng, nay đã bắt đầu thối rồi”, kẻ ấy cởi dây trói cho nai, và nói:
– Nay ta làm thịt nó ở đây và sẽ mang thịt về.
Không ngờ vực gì cả, người thợ săn bắt đầu lượm cành cây và lá. Con nai con liền trỗi dậy, đứng lên bốn chân, vùng vẫy cái thân, vươn cổ, và như đám mây bị gió lớn tan, nó chạy rất nhanh về với mẹ nó.
*
Bậc Ðạo Sư nói:
– La-hầu-la không phải nay mới ham học, thuở trước cũng đã ham học như vậy.
Thuyết pháp thoại này xong, sau khi kết hợp hai câu chuyện, Ngài kết luận với sự nhận diện Tiền thân như sau:
– Khi ấy, con nai cháu là La-hầu-la, con nai mẹ là Upplavannà và con nai cậu là Ta vậy.
-ooOoo-

.

16. CHUYỆN CON NAI CÓ BA CỬ CHỈ

Tiền thân Tipallatthamiga

Hoàn cảnh Đức Phật kể chuyện

Khi Đức Phật trú tại tinh xá Badarika ở Kosambi, các Tỳ-kheo cùng nhau tán thán đức tính ham học và nghiêm túc giữ giới của Tôn giả La-hầu-la.

Trước đó, khi Đức Phật ở điện Aggālava gần thành Ālavi, nhiều cư sĩ và Tỳ-kheo-ni thường đến tinh xá nghe pháp vào ban ngày. Về sau, chỉ còn các Tỳ-kheo và nam cư sĩ đến nghe nên những buổi thuyết pháp được tổ chức vào ban đêm.

Sau khi nghe pháp, các vị trưởng lão trở về chỗ ở, còn một số Tỳ-kheo trẻ ngủ lại trong giảng đường cùng những người chưa thọ Đại giới. Trong lúc ngủ, có người ngáy, nghiến răng và nằm trong tư thế không thích hợp. Sự việc được trình lên Đức Phật.

Đức Phật chế định học giới rằng Tỳ-kheo nằm ngủ chung với người chưa thọ Đại giới thì phạm tội Ba-dật-đề, là tội cần phải thú nhận trước Tăng chúng.

La-hầu-la phải ở trong phòng vệ sinh

Sau khi học giới được ban hành, các Tỳ-kheo nói với La-hầu-la rằng ông không thể tiếp tục ngủ chung với họ và phải tự tìm một chỗ ở khác.

Trước đó, vì kính trọng Đức Phật và quý mến tinh thần ham học của La-hầu-la, các Tỳ-kheo thường tiếp đón ông thân tình, chuẩn bị giường nhỏ và y làm gối. Nhưng lúc này, do sợ phạm giới, không ai dám cho La-hầu-la ngủ chung.

La-hầu-la không đến cầu xin Đức Phật, dù Ngài là phụ thân của mình. Ông cũng không tìm đến Xá-lợi-phất, vị giáo thọ sư, hay Đại Mục-kiền-liên, vị sư trưởng của mình. Ông âm thầm vào trú trong phòng vệ sinh của Đức Phật vì cho rằng đó là nơi không làm phiền đến bất cứ ai.

La-hầu-la không chọn nơi ấy vì tiện nghi hay sạch đẹp, mà vì tôn trọng lời dạy của các Tỳ-kheo và không muốn khiến ai vi phạm giới luật.

Tinh thần ham học và khiêm cung của La-hầu-la còn thể hiện trong những lần các Tỳ-kheo cố ý thử thách ông. Họ ném rác hoặc cán chổi ra đường rồi hỏi ai đã làm. La-hầu-la không tranh cãi hay phủ nhận, mà lặng lẽ dọn sạch, khiêm tốn xin lỗi rồi mới tiếp tục đi.

Đức Phật sửa đổi học giới

Trước lúc rạng đông, Đức Phật đến trước cửa phòng vệ sinh và đằng hắng. La-hầu-la nghe thấy cũng đằng hắng đáp lại.

Khi biết La-hầu-la đang ở bên trong, Đức Phật hỏi vì sao ông lại ngủ ở nơi ấy. La-hầu-la thưa rằng vì các Tỳ-kheo sợ phạm giới nên không cho ông chỗ ở; ông nghĩ phòng vệ sinh là nơi không gây trở ngại cho người khác nên đến nằm tại đó.

Nghe vậy, Đức Phật xúc động và suy nghĩ rằng nếu ngay cả La-hầu-la, người luôn tha thiết học tập và là con của Ngài, còn bị bỏ mặc như thế, thì những người trẻ mới xuất gia khác có thể sẽ bị đối xử nghiêm khắc hơn nữa. Nếu không được chăm sóc thích đáng, họ khó có thể tiếp tục ở lại trong Giáo pháp.

Sáng hôm sau, Đức Phật triệu tập Tăng chúng và hỏi Xá-lợi-phất có biết La-hầu-la ngủ ở đâu không. Khi Xá-lợi-phất trả lời không biết, Đức Phật cho biết La-hầu-la đã phải ngủ trong phòng vệ sinh.

Đức Phật quở trách các Tỳ-kheo vì đã áp dụng học giới một cách cứng nhắc mà không quan tâm đến hoàn cảnh của người trẻ. Sau đó, Ngài bổ sung điều khoản cho phép người chưa thọ Đại giới được ngủ chung với Tỳ-kheo trong một hoặc hai đêm. Đến ngày thứ ba, Tăng chúng phải sắp xếp cho họ một chỗ ở thích hợp.

Các Tỳ-kheo tán thán La-hầu-la

Trong pháp đường, các Tỳ-kheo cùng nhau ca ngợi La-hầu-la. Họ nhận xét rằng khi không có chỗ ngủ, ông không dựa vào thân phận là con Đức Phật, không trách móc ai và cũng không chống đối bất cứ Tỳ-kheo nào. Ông chỉ lặng lẽ tìm nơi trú tạm và tiếp tục tuân theo lời chỉ dạy.

Đức Phật nghe được câu chuyện ấy và nói rằng La-hầu-la không chỉ trong đời hiện tại mới ham học và biết vâng lời. Trong một đời quá khứ, khi còn mang thân loài vật, ông cũng đã có đức tính ấy.

Câu chuyện tiền thân

Thuở xưa, khi một vị vua nước Ma-kiệt-đà trị vì tại thành Vương Xá, Bồ-tát sinh làm một con nai đầu đàn, sống trong rừng cùng một đàn nai đông đảo.

Một ngày nọ, nai chị dẫn con trai đến gặp Bồ-tát và nói:

“Này em, hãy dạy cho cháu sự khôn ngoan của loài nai.”

Bồ-tát nhận lời và hẹn nai con đến học vào những giờ nhất định.

Nai con rất chuyên cần. Nó không bao giờ quên giờ học và luôn đến đúng hẹn để tiếp nhận những phương pháp tự bảo vệ trong rừng. Nhờ siêng năng học tập, nó nắm vững những kỹ năng cần thiết để thoát khỏi thợ săn.

Nai con mắc bẫy

Một ngày nọ, khi đi lại trong rừng, nai con mắc vào bẫy của người thợ săn. Nó cất tiếng kêu báo động.

Nghe tiếng kêu, đàn nai hoảng sợ bỏ chạy và về báo cho nai mẹ rằng con của nó đã bị bắt. Nai mẹ lo lắng tìm đến Bồ-tát và hỏi:

“Này em, cháu đã học được sự khôn ngoan của loài nai chưa?”

Bồ-tát an ủi chị rằng không cần phải sợ. Nai con đã học tập đầy đủ, biết cách đối phó với nguy hiểm và chắc chắn có thể tự cứu mình.

Bồ-tát nói rằng nai con đã thành thạo nhiều cử chỉ và phương pháp sinh tồn: biết sử dụng chân và móng, biết điều khiển hơi thở, biết dùng tai nghe động tĩnh và biết làm cho thân thể giống như một con vật đã chết.

Ngài đọc bài kệ:

Nai với ba cử chỉ,
Với nhiều sự khôn ngoan,
Biết dùng chân tám móng,
Biết nửa đêm uống nước;
Chỉ với một lỗ tai,
Thở theo nhịp độ đất;
Với sáu sự khôn ngoan,
Cháu tôi thắng người thù.

Nai con giả chết để thoát thân

Trong khi đó, nai con không hoảng loạn hay vùng vẫy trong bẫy. Nó bình tĩnh áp dụng những điều đã học.

Nó nằm nghiêng, duỗi thẳng chân, dùng móng cào đất, hất bụi và cỏ lên thân. Nó đi tiểu, đại tiện, gục đầu, thè lưỡi và làm cho thân thể ướt đẫm mồ hôi.

Tiếp đó, nó nín thở để bụng trướng lên, trợn mắt và chỉ thở nhẹ bằng một lỗ mũi phía dưới, còn lỗ mũi phía trên hoàn toàn bất động. Toàn thân nó cứng đờ, trông giống như một con nai đã chết từ lâu.

Ruồi xanh bay đến bu quanh và quạ bắt đầu đậu gần đó. Khi người thợ săn đến, ông ta vỗ vào bụng nai và tin rằng con vật đã chết, thậm chí bắt đầu phân hủy.

Người thợ săn tháo dây trói, nghĩ rằng sẽ đi nhặt cành cây và lá để làm thịt nai ngay tại chỗ rồi mang về.

Khi thấy người thợ săn đã mất cảnh giác và đi ra xa, nai con lập tức đứng bật dậy, vươn cổ, rũ mạnh thân mình rồi chạy nhanh như đám mây bị gió thổi tan. Nó an toàn trở về với mẹ.

Nhận diện tiền thân

Sau khi kể xong câu chuyện, Đức Phật xác nhận:

  • Nai con ham học chính là Tôn giả La-hầu-la.

  • Nai mẹ chính là Tỳ-kheo-ni Uppalavaṇṇā.

  • Con nai cậu, người truyền dạy sự khôn ngoan, chính là tiền thân của Đức Phật.

Ý nghĩa giáo pháp

Câu chuyện đề cao tinh thần ham học, biết lắng nghe và thực hành đúng những điều đã được chỉ dạy. Nai con thoát khỏi nguy hiểm không phải nhờ may mắn, mà nhờ đã học tập nghiêm túc và ghi nhớ từng phương pháp mà Bồ-tát truyền trao.

La-hầu-la cũng vậy. Ông không chỉ nghe lời dạy để biết, mà luôn cố gắng thực hành với thái độ khiêm cung. Dù bị thử thách hoặc rơi vào hoàn cảnh bất tiện, ông không than phiền, không dựa vào thân phận đặc biệt và không tranh chấp với người khác.

Câu chuyện còn cho thấy giới luật cần được áp dụng cùng với trí tuệ và lòng từ bi. Giữ giới không đồng nghĩa với hành xử cứng nhắc. Khi thấy học giới có thể khiến người trẻ mới xuất gia bị bỏ mặc, Đức Phật đã bổ sung điều khoản thích hợp để vừa bảo vệ giới luật vừa chăm sóc người học đạo.

Thông điệp cốt lõi

Người biết ham học, ghi nhớ lời dạy và thực hành đúng lúc có thể vượt qua những hoàn cảnh nguy hiểm nhất.

Sự tiến bộ không chỉ dựa vào tài năng, mà trước hết dựa vào lòng khiêm tốn, thái độ vâng lời và sự chuyên cần. Kiến thức chỉ thật sự có giá trị khi được biến thành hành động trong lúc khó khăn.

© Nikaya Tâm Học 2024. All Rights Reserved. Designed by Nikaya Tâm Học