(Phần tóm lược Đức Phật Thích Ca do Tâm Học soạn)
III.Thông tin thêm
A. Con người
1.Tứ chúng đệ tử
2.Thập đại đệ tử
- Xá-lợi-phất: Trí huệ đệ nhất
- Mục-kiền-liên: Thần thông đệ nhất
- Ma-ha-ca-diếp: Đầu đà đệ nhất
- A-na-luật: Thiên nhãn đệ nhất
- Tu-bồ-đề: Giải không đệ nhất
- Phú-lâu-na: Thuyết Pháp đệ nhất
- Ca-chiên-diên: Luận nghĩa đệ nhất
- Ưu-bà-li: Trì luật đệ nhất
- La-hầu-la: Mật hành đệ nhất
- A-nan-đà: Đa văn đệ nhất
3. Thành viên gia đình thái tử Tất Đạt Đa
4. Các vị đạo sư của bồ tát Tất Đạt Đa
5. Thánh trưởng lão ni
6. Thánh cư sĩ đệ tử Phật
Tham khảo
|
| Đại kinh Bát-niết-bàn (DN 16)
Tại làng Nādikā gần thành phố Vesāli của dân Vajjī (Bạt-kỳ), Đức Phật nói với ngài Ānanda: – (…) Này Ānanda, cư sĩ Sudatta, diệt trừ ba kiết sử làm giảm thiểu tham, sân, si, chứng quả Nhất lai sau khi trở lại đời này một lần nữa sẽ diệt tận khổ đau. Nữ cư sĩ Sujātā diệt trừ ba kiết sử, chứng quả Dự lưu, nhất định không còn đọa vào ác đạo, đạt đến Chánh giác. Cư sĩ Kakudha đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, hóa sanh (thiên giới), và từ đó nhập Niết-bàn không còn trở lại đời này nữa. Cư sĩ Kālinga ... cư sĩ Nikaṭa ... cư sĩ Kaṭissabha ... cư sĩ Tuṭṭha ... cư sĩ Santuṭṭha ... cư sĩ Bhadda ... cư sĩ Subhadda đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh (thiên giới), và từ đó nhập Niết-bàn không còn trở lại đời này nữa. Này Ānanda, hơn năm mươi cư sĩ mệnh chung tại Nādikā, đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, hóa sanh (thiên giới) và từ đó nhập Niết-bàn không còn trở lại đời này nữa. Này Ananda, hơn chín mươi cư sĩ mệnh chung tại Nādikā, diệt trừ ba kiết sử, làm giảm thiểu tham, sân si, chứng quả Nhất lai, sau khi trở lại đời này một lần nữa sẽ diệt tận khổ đau. Hơn năm trăm cư sĩ, mệnh chung tại Nadika, diệt trừ ba kiết sử, chứng quả Dự lưu, nhất định không còn đọa vào ác đạo, đạt đến Chánh giác. (…) – (…) Bạch Thế Tôn, nay những tỳ khưu … những tỳ-khưu-ni …. những nam cư sĩ … những nữ cư sĩ của Thế Tôn đã trở thành những đệ tử chân chánh, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp, thành tựu Chánh pháp và tùy pháp, sống chân chánh, sống theo Chánh pháp, sau khi học hỏi giáo lý đã có thể tuyên bố, diễn giảng, trình bày, xác định, khai minh, phân tách, và giải thích rõ ràng Chánh pháp; khi nào có tà đạo khởi lên, đã có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, có thể truyền bá Chánh pháp một cách thần diệu. |
| CÁC VỊ ĐỆ TỬ CƯ SĨ THỜI ĐỨC PHẬT
Hiệu đính từ bản dịch của Hòa thượng Thích Minh Châu. NAM CƯ SĨ (AN 1:248-257) NỮ CƯ SĨ (AN 1:258-267) * MALE LAY DISCIPLES: FEMALE LAY DISCIPLES: * MALE LAY DISCIPLES: FEMALE LAY DISCIPLES: * |
|
Tăng nhất A-hàm, thiên Một Pháp PHẨM THANH TÍN SĨ [1] 1. Ưu-bà-tắc đệ nhất trong hàng đệ tử của Ta, người đầu tiên nghe pháp dược [2] mà chứng thành Hiền thánh, chính là thương khách Tam Quả.[3] ---------- * * * PHẨM THANH TÍN NỮ [1] 1. Ưu-bà-di đệ nhất trong hàng đệ tử của Ta, người đầu tiên thọ trì đạo mà chứng quả, chính là Ưu-bà-di [2] Nan-đà Nan-đà-bà-la.[3] ----------
PHẨM THANH TÍN SĨ (ƯU-BÀ-TẮC) Trong đệ tử của Ta, người đầu tiên nghe pháp dược mà chứng Hiền thánh là Thương khách Tam Quả. Trí tuệ bậc nhất là Trưởng giả Chất-đa. Thần đức bậc nhất là Kiền-đề-a-lam. Hàng phục ngoại đạo là Trưởng giả Quật-đa. Hay thuyết những pháp sâu xa là Trưởng giả Ưu-ba-quật. Hằng tọa thiền suy tư là Ha-xỉ-a-la-bà. Hàng phục ma cung là Trưởng giả Dũng Kiện. Phước đức tràn đầy là Trưởng giả Ðồ-lợi. Ðại thí chủ là Trưởng giả Tu-đạt (Cấp Cô Ðộc). Môn tộc thành tựu là Trưởng giả Mẫn-dật. (…) Thích hỏi nghĩa thú là Bà-la-môn Sanh Lậu. Lợi căn thông minh là Phạm-ma-du. Chư Phật tin cậy sai khiến là Ngự-mã-ma-nạp. Biết thân vô ngã là Bà-la-môn Hỷ Văn Cầm. Nghị luận hơn người là Bà-la-môn Tỳ-cừu. Hay làm kệ tụng là Trưởng giả Ưu-ba-ly. Nói năng mau lẹ cũng là Trưởng giả Ưu-ba-ly. Thích cho báu tốt, không có lẫn tiếc là Trưởng giả Thù-đề. Kiến lập gốc lành là Ưu-ca-tỳ-xá-ly. Hay thuyết diệu pháp là Ưu-bà-tắc Tối Thượng Vô Úy. Thuyết giảng không sợ hãi, khéo quan sát căn cơ của người là đại tướng lãnh của thành Tỳ-xá-ly tên Ðầu-ma. (…) Vui thích ban bố ân huệ là Bình-sa Vương. Bố thí ít ỏi là vua Quang Minh. Kiến lập gốc lành là vua Ba-tư-nặc. Ðược niềm tin tốt lành không căn cứ, khởi lòng hoan hỉ là vua A-xà-thế. Chí tâm hướng về Phật, ý không biến đổi là vua Ưu-điền. Thừa sự chánh pháp là vương tử Nguyệt Quang. Cung phụng Thánh chúng, ý hằng bình đẳng là vương tử tạo Kỳ-hoàn. Thường ưa giúp người khác, không vì chính mình là vương tử Sư Tử. Khéo cung phụng người không có tâm cao thấp là vương tử Vô Úy. Nhan mạo đoan chánh, thù thắng hơn người là vương tử Kê-đầu. (…) Hằng hành tâm từ là Trưởng giả Bất ni. Tâm hằng thương nhớ tất cả mọi loài là họ Thích Ma-ha-nạp. Thường hành tâm hỷ là họ Thích Bạt-đà. Thường hành tâm xả, không làm mất hạnh lành là Ưu-bà-tắc Tỳ-xà-tiên. Kham nhậm hành nhẫn nhục là đại tướng Sư Tử. Hay luận mọi chuyện là Ưu-bà-tắc Tỳ-xá-ngự. Im lặng như hiền thánh là Ưu-bà-tắc Nan-đề-bà-la. Siêng tu hạnh lành không ngừng nghỉ là Ưu-bà-tắc Ưu-đa-la. Các căn tịch tĩnh là Ưu-bà-tắc Thiên-ma. Ðệ tử chứng quả cuối cùng trong đệ tử của Ta là Câu-di Na-ma-da. PHẨM THANH TÍN NỮ (ƯU-BÀ-DI) Ưu-bà-di bậc nhất trong đệ tử của Ta về: Ðược chứng đạo đầu tiên là Ưu-bà-di Nan-đà-nan-đà-bà-la. Trí tuệ bậc nhất là Ưu-ba-di Cửu-thọ-đa-la. Hằng ưa tọa thiền là Ưu-bà-di Tu-tỳ-da-nữ. Huệ căn sáng rỡ là Ưu-bà-di Tỳ-phù. Có thể thuyết pháp là Ưu-bà-di Ương-kiệt-xà. Khéo diễn nghĩa kinh là Ưu-bà-di Bạt-đà-sa-la-tu-diệm-ma. Hàng phục ngoại đạo là Ưu-bà-di Bà-tu-đà. Âm thanh trong trẻo là Ưu-bà-di Vô Ưu. Hay luận đủ loại là Ưu-bà-di Bà-la-đà. Dũng mãnh tinh tấn là Ưu-bà-di Tư-đầu. (…) Cúng dường Như Lai là phu nhân Mạt-lợi. Thừa sự Chánh pháp là phu nhân Tu-lại-bà. Cúng dường Thánh chúng là phu nhân Xả-di. Chiêm ngưỡng bậc hiền đời quá khứ và tương lai là phu nhân Lôi Ðiện. Hằng hành Từ tam muội là Ưu-bà-di Ma-ha Quang. Hằng thương xót lân mẫn là Ưu-bà-di Tỳ-đề. Tâm vui chẳng dứt là Ưu-bà-di Bạt-đề. Hành nghiệp thủ hộ là Ưu-bà-di Nan-đà Mẫu. Ðược tín giải thoát là Ưu-bà-di Chiếu Diệu. (…) Hằng hành nhẫn nhục là Ưu-bà-di Vô Ưu. Hành Không tam muội là Ưu-bà-di Tỳ-thù-tiên. Hành Vô tưởng tam-muội là Ưu-bà-di Na-đà. Hành Vô nguyện tam-muội là Ưu-bà-di Vô Cấu. Thích dạy dỗ người khác là Ưu-bà-di phu nhân Thi-lợi. Khéo hay trì giới là Ưu-bà-di Ương-kiệt-ma. Hình mạo đoan chánh là Ưu-bà-di Lôi Diệm. Các căn tịch tĩnh là Ưu-bà-di Tối Thắng. Nghe nhiều, biết rộng là Ưu-bà-di Ni-la. Hay làm kệ tụng là Ưu-bà-di Tu-ma-ca-đề-tu-đạt-nữ. Không bị khiếp nhược cũng là Ưu-bà-di Tu-đạt-nữ. Ưu-bà-di thủ chứng cuối cùng trong hàng Thanh văn của Ta là Ưu-bà-di Lam |
B. Địa danh
1.Các thánh tính ( Budsas )
Các thánh tích:
-
Lumbini (Lâm-tì-ni) - Nơi đản sinh.
-
Bodh Gaya (Bồ-đề Đạo tràng) - Nơi thành đạo.
-
Sarnath (Lộc uyển) - Nơi chuyển pháp luân.
-
Kusinara (Câu-thi-na) - Nơi bát-niết-bàn.
-
Kapilavatthu (Ca-tì-la-vệ) - Quê hương của Ngài.
-
Sankassa - Nơi Ngài từ cung trời Đao-lợi trở về dạy A-tỳ-đàm cho ngài Xá-lợi-phất.
-
Rajgir/Rajagaha (Vương xá) - Kinh đô của vương quốc Ma-kiệt-đà (Magadha).
-
Gijjakuta (núi Linh thứu) - Nơi Ngài thường giảng đạo trong những năm đầu tiên.
-
Veluvana (Trúc lâm) - Tinh xá do vua Bình-sa (Bimbisara) dâng cúng.
-
Kosambi (Câu-diệm-bi) - Nơi Ngài giảng pháp lục hòa kính.
-
Savathi (Xá-vệ), kinh đô của xứ Kosala (Kiều-tất-la), vua Ba-tư-nặc (Pasenadi), và Tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), nơi Ngài ngự trong 20 năm cuối.
-
Vesali (Vệ-xá-ly) - Kinh đô của bộ tộc Licchavi, nơi thành lập Ni đoàn, do bà Kiều-đàm-di lãnh đạo.
-
Varanasi (Benares, Ba-na-lại) - Kinh đô của bộ tộc Kasi, thành phố lớn bên bờ sông Hằng.
-
Mathura - Trung tâm văn hóa điêu khắc.
-
Indapatta - Kinh đô của bộ tộc Kuru, nơi Ngài giảng kinh Niệm xứ và kinh Đại duyên.

Mốc I : Hoàn cảnh trước khi Phật ra đời
Mốc II : Sự kiện Phật đản sanh
Mốc III: Giai đoạn tuổi thơ của Bồ tát Tất Đạt Đa
Mốc IV : Giai đoạn trưởng thành - xuất gia
Mốc V : Tầm đạo
Mốc VI : Thành đạo
Mốc VII: Những vị đệ tử đầu tiên
Mốc VIII : Tăng đoàn lớn mạnh
Mốc IX: Mười ba năm cuối cuộc đời Đức Phật
Mốc X : Đức Phật nhập niết bàn