Nikaya Tâm HọcCon đường tuệ giác
Nikaya Tâm HọcKinh điển, nghiên cứu và các khu vực chính
Kinh sáchKinh điển, sách và tài liệu học Phật
Danh mục đầy đủ
Thời Phật Tại ThếBản đồ, Cuộc đời Đức Phật và Album ảnh
Bỏ qua menu, tới nội dung chính
Nikaya Tâm HọcKinh điển • Đức Phật • Nghiên cứu
Trung A Hàm 051. Kinh Bổn Tế
Bài viết chuyên đề

Trung A Hàm 051. Kinh Bổn Tế

Kinh Bản Tế nói người ác do gần gũi ác tri thức dần dầnđi đến vô minh sanh ái; người lành do gần gũi thiện tri thức dần dần tiến đến 7 giác chi sanh trí huệ giải thoát

345 lượt xem #2807 mã dữ liệu 26.02.2024 ngày khởi tạo 11.09.2026 cập nhật
Khám phá theo quan hệ: Bài viết Nhân vật Địa danh Sitemap tri thức
Trung A Hàm 051. Kinh Bổn Tế

Thông tin căn bản

ID dữ liệu
2807
Bộ / nhóm
Kinh Trung A Hàm - VN
Ngày khởi tạo
26/02/2024
Số lần chỉnh sửa
2
Tên gọi / ký hiệu khác

Tôi nghe như vầy Một thời, Phật du hóa tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng, vườn Cấp cô độc. Bấy giờ, Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo rằng: “Không thể biết biên tế[2] cùng cực của hữu ái[3]. Trước vốn không có hữu ái, nhưng nay sanh ra hữu ái, do đó mới có thể biết được nhân của hữu ái[4].  “Hữu ái có tập[5] chứ không phải không tập. Tập của hữu ái là gì? Vô minh là tập.  “Vô minh cũng có tập chứ không phải không tập. Tập của vô minh là gì? Năm triền cái[6] là tập.

Duyên khởi

Phật du hóa tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng, vườn Cấp cô độc.

Người giảng

Đức Phật

Người nghe

Các tỳ kheo

NGHE & XEM

Media liên quan

Hiển thị toàn bộ media đang liên kết với bài kinh, không chỉ vị trí Audio số 1.

AudioADDG

3655.26_Pham5A_42-51_KinhHaNghia_BatTu_Niem_TamQuy1-2_Gioi1-2_CungKinh1-2_BonTe_TTien_449-476

Audio

3655.26_Pham5A_42-51_KinhHaNghia_BatTu_Niem_TamQuy1-2_Gioi1-2_CungKinh1-2_BonTe_TTien_449-476

NỘI DUNG

Trung A Hàm 051. Kinh Bổn Tế

Chế độ đọc tối ưu Nội dung giữ nguyên từ database Nghe / xem media
Nội dung bài viết

Trung A Hàm 051. Kinh Bổn Tế

Tôi nghe như vầy

Một thời, Phật du hóa tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng, vườn Cấp cô độc. Bấy giờ, Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo rằng:

“Không thể biết biên tế[2] cùng cực của hữu ái[3]. Trước vốn không có hữu ái, nhưng nay sanh ra hữu ái, do đó mới có thể biết được nhân của hữu ái[4]. 

“Hữu ái có tập[5] chứ không phải không tập. Tập của hữu ái là gì? Vô minh là tập. 

“Vô minh cũng có tập chứ không phải không tập. Tập của vô minh là gì? Năm triền cái[6] là tập.

“Năm triền cái cũng có tập chứ không phải không tập. Tập của năm triền cái là gì? Ba ác hành là tập.

“Ba ác hành cũng có tập chứ không phải không tập. Tập của ba ác hành là gì? Không thủ hộ các căn là tập.

“Không thủ hộ các căn cũng có tập chứ không phải không tập. Tập của không thủ hộ các căn là gì? Không chánh niệm chánh trí là tập.

“Không chánh niệm chánh trí cũng có tập chứ không phải không tập. Tập của không chánh niệm chánh trí là gì? Không chánh tư duy[7] là tập.

“Không chánh tư duy cũng có tập chứ không phải không tập. Tập của không chánh tư duy là gì? Không có tín là tập.

“Không có tín cũng có tập chứ không phải không tập. Tập của không có tín là gì? Nghe pháp ác[8] là tập.

“Nghe pháp ác cũng có tập chứ không phải không tập. Tập của nghe điều ác là gì? Gần gũi ác tri thức[9] là tập.

“Gần gũi ác tri thức cũng có tập chứ không phải không tập. Tập của gần gũi ác tri thức là gì? Người ác[10] là tập.

“Như thế, có đủ người ác liền có đủ sự gần gũi ác tri thức. Có đủ sự gần gũi ác tri thức rồi liền có đủ sự nghe pháp ác. Có đủ sự nghe pháp ác rồi, liền có đủ sự sanh lòng bất tín. Có đủ sự sanh lòng bất tín rồi, liền không chánh tư duy. Có đủ sự không chánh tư duy rồi, liền có đủ sự không chánh niệm chánh trí. Có đủ sự không chánh niệm chánh trí rồi, liền có đủ sự không thủ hộ các căn. Có đủ sự không thủ hộ các căn rồi, liền có đủ ba ác hành. Đủ ba ác hành rồi, liền có đủ năm triền cái. Đủ năm triền cái rồi, liền có đủ vô minh. Có đủ vô minh rồi, liền đầy đủ hữu ái.

“Như vậy, hữu ái này lần lượt được tựu thành trọn vẹn.

“Minh giải thoát[11] cũng có tập, chứ không phải không tập. Tập của minh giải thoát là gì? Bảy giác chi là tập. Bảy giác chi cũng có tập chứ không phải không tập. Tập của bảy giác chi là gì? Bốn niệm xứ là tập. Bốn niệm xứ có tập chứ không phải không tập. Tập của bốn niệm xứ là gì? Ba diệu hành là tập. Ba diệu hành cũng có tập chứ không phải không tập. Tập của ba diệu hành là gì? Thủ hộ các căn là tập. Thủ hộ các căn cũng có tập chứ không phải không tập. Tập của sự thủ hộ các căn là gì? Chánh niệm chánh trí là tập. 

 
 

Chánh niệm chánh trí cũng có tập chứ không phải không tập. Tập của chánh niệm chánh trí là gì? Chánh tư duy là tập. Chánh tư duy cũng có tập chứ không phải không tập. Tập của chánh tư duy là gì? Tín là tập. Tín cũng có tập chứ không phải không tập. Tập của tín là gì? Nghe pháp thiện[12] là tập. Nghe pháp thiện cũng có tập chứ không phải không tập. Tập của nghe pháp thiện là gì? Gần gũi thiện tri thức là tập. Gần gũi thiện tri thức cũng có tập chứ không phải không tập. Tập của sự gần gũi thiện tri thức là gì? Người thiện[13] là tập. 

“Đó là, có đủ người thiện liền có đủ sự gần gũi thiện tri thức. Đủ sự gần gũi thiện tri thức liền có đủ sự nghe điều thiện. Có đủ sự nghe điều thiện liền có đủ tín. Có đủ tín liền có đủ chánh tư duy. Có đủ chánh tư duy liền có đủ chánh niệm chánh trí. Có đủ chánh niệm chánh trí mới có đủ sự thủ hộ các căn. Có đủ sự thủ hộ các căn liền có đủ ba diệu hành. Có đủ ba diệu hành liền có đủ bốn niệm xứ. Có đủ bốn niệm xứ liền có đủ bảy giác chi. Có đủ bảy giác chi liền đầy đủ minh giải thoát. Như vậy, minh giải thoát này lần lượt được thành tựu toàn vẹn”. 

Phật thuyết như vậy. Các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyếthoan hỷ phụng hành.

Chú thích
 
[1] Tham chiếu Pāli A.x. 61-62 Āhāra. Đối chiếu biệt dịch No. 36. Phật Thuyết Bản Tướng Ỷ Trí Kinh, An Thế Cao dịch; No. 37 Phật Thuyết Duyên Bản Trí Kinh, khuyết danh người dịch. (Bản Hán dịch này khá kỳ, khó hiểu).
[2] Hán: bổn tế 本 際. Pāli: purimā koṭi, biên tế tối sơ, giới hạn thời gian về trước.
[3] Hán: hữu ái 有 愛. Pāli: bhava-taṇhā: khao khát hiện hữu hay khát vọng sinh tồn
[4] Hán: tiện đắc khả tri sở nhân hữu ái. Pāli: atha ca pana paññāyati ‘idappaccayā bhavataṇhā ti.
[5] Lưu ý chữ Hán: tập 習 theo nghĩa tập quán hay tập nhân, chứ không phải tập 集 theo nghĩa tập khởi (tập hợp). Chỉ tìm thấy một từ Pāli (āhāra: thức ăn) tương đồng với hai từ Hán dịch trong kinh này và các kinh sau: tập và thực. Như vậy, phải có hai từ Sanskrit hay Pāli khác nhau. Hiện chưa suy ra được. No.36 và 37 dịch là hữu bản 有 本, hay tùng trí hữu bản 從 致 有 本.
[6] Hán: ngũ cái 五 蓋. Pāli: pañca nīvaraṇā.
[7] Hán: bất chánh tư duy 不 正 思 惟. Pāli: ayoniso manasikāraṃ, không như lý tác ýtư duy không phương pháp.
[8] Hán: ác pháp 惡 法. Pāli: asaddhamma, pháp không vi diệu, không chân chánh.
[9] Hán: ác tri thức 惡 知 識, xem cht. dưới.
[10] Bản Hán đề cập ác thiện tri thức và ác nhân. Bản Pāli chỉ đề cập asappurisa, không phải thiện nhân.
[11] Minh giải thoát 明 解 脫. Pāli: vijjā-vimutti.
[12] Pāli: saddhamma, diệu phápchánh pháp.
[13] Hán: thiện nhân 善 人. Pāli: sappurisa, người lỗi lạcsiêu việtchân nhânthượng nhân, thiện sĩ.

DATABASE-FIRST

Liên hệ dữ liệu của bài kinh

Chỉ hiển thị những quan hệ thực sự có trong dữ liệu hiện tại; không tự suy diễn thêm.

Bộ / nhóm bài viết
Tài nguyên đã liên kết
0 menu nhóm kinh 1 media
NHÂN VẬT TRONG BÀI

Nhân vật liên quan

Các nhân vật được liên kết trực tiếp với bài viết trong cơ sở dữ liệu.

1nhân vật
Tiếp tục khám phá

Đọc tiếp & nội dung liên quan

Kinh Trung A Hàm - VN →
Đánh giá nội dungBài này hữu ích với bạn?/5 · 0 đánh giá
ĐIỀU HƯỚNG TỪ DATABASE

Mạng liên kết nội dung

Liên kết bên dưới được dựng phía server từ các quan hệ đang có trong cơ sở dữ liệu Nikaya Tâm Học.

26liên kết

Nhân vật xuất hiện

1 mục

Những nhân vật được liên kết trực tiếp với bài/Kinh này.

Chủ đề / nhóm bài

1 mục

Mở danh sách nội dung cùng nhóm đã có của website.

Khám phá thêm nhân vật

12 mục

Nhân vật thường xuất hiện trong các bài liên quan.