Trường A Hàm 007.P2.7. KINH TỆ-TÚ
Người giảng · 379 lượt xem

- 09/08/2026 18:27:05- 4405 Lượt xem
- 09/08/2026 18:27:05- 1329 Lượt xem
- 09/08/2026 18:27:05- 1323 Lượt xem
- 09/08/2026 18:27:05- 1093 Lượt xem
- 09/08/2026 18:27:05- 1070 Lượt xem
人
Kumara Kassapa tương lai tái sanh vào một gia đình giàu có trong kinh thành Haṃsāvatī trong thời của Đức Phật Padumuttara. Như trong trường hợp của những vị đại trưởng lão tương lai khác, vị ấy đi đến Đức Phật và nghe pháp, trong quá trình nghe pháp vị ấy trông thấy một tỳ khưu được Đức Phật công bố là Tối thắng trong những vị tỳ khưu sử dụng tinh tấn trong...
Kumara Kassapa tương lai tái sanh vào một gia đình giàu có trong kinh thành Haṃsāvatī trong thời của Đức Phật Padumuttara. Như trong trường hợp của những vị đại trưởng lão tương lai khác, vị ấy đi đến Đức Phật và nghe pháp, trong quá trình nghe pháp vị ấy trông thấy một tỳ khưu được Đức Phật công bố là Tối thắng trong những vị tỳ khưu sử dụng tinh tấn trong việc xiển dương giáo pháp. Vị ấy nung nấu ước muốn được trở thành vị tỳ khưu đặc biệt như vậy, và sau khi tổ chức đại thí cúng dường, đã phát nguyện trước Đức Phật rằng vị ấy muốn được tôn vinh bằng danh hiệu tương tự bởi một vị Phật tương lai. Đức Phật thấy rằng ước nguyện của vị thiện nam kia sẽ được thành tựu, và đã nói lời tiên tri.
1. Kumāra-Kassapa Thera.-He was foremost among those who had the gift of varied and versatile discourse (cittakathikānam) (A.i.24). His mother was the daughter of a banker of Rājagaha, and she, having failed to obtain her parent's consent to become a nun, married and, with her husband's consent, joined the Order, not knowing that she was with child. When her condition was discovered her colleagues consulted Devadatta, who declared that she was no true nun. The Buddha, on being consulted, entrusted the matter to Upāli, who had it fully investigated by Visākhā and other residents of Sāvatthi, and he gave his finding in the assembly, in the presence of the king, that the nun was innocent. (For details see J.i.148; Upāli's handling of the case won the Buddha's special commendation, see, e.g., AA.i.172). When the boy was born the king reared him, and the boy was ordained at the age of seven. The boy came to be called Kumāra, because he joined the Order so young and was of royal upbringing, and also because the Buddha, when sending him little delicacies such as fruit, referred to him as Kumāra Kassapa. Once when Kumāra Kassapa was meditating in Andhavana, an anāgāmī Brahmā, who had been his companion in the time of Kassapa Buddha, appeared before him, and asked him fifteen questions which only the Buddha could answer. This led to the preaching of the Vammika Sutta (M.i.143ff), and after dwelling on its teachings Kassapa became an arahant. (For Kumāra Kassapa's story see J.i.147ff; AA.i.158f; ThagA.i.322f; MA.i.335f). His mother, too, developed insight and attained to arahantship. It is said that she wept for twelve years because she could not be with Kassapa, and one day, seeing him in the street, as she ran towards him and fell, milk flowed from her breasts and wet her robe. Kassapa, realising that her great love was standing in the way of her attainments, spoke harshly to her that she might love him the less. The ruse succeeded and she became an arahant that very day (DhA.iii.147). In the time of Padumuttara Buddha Kassapa was a learned brahmin, and having heard a monk ranked foremost in eloquence, he wished for a similar distinction and did many acts of piety towards that end. When the teachings of Kassapa Buddha were being forgotten, he, together with six others, entered the Order and lived a life of rigorous asceticism on the summit of a mountain. (Ap.ii.473f; the details of this story are given in DhA.ii.210-12; among Kassapa's companions were also Pukkusāti, Dārucīriya, Dabba Mallaputta and Sabhiya; see also UdA.80f). Two verses of deep significance ascribed to Kumāra-Kassapa are found in the Theragāthā (vv.201.202). Although it is said that he was a very eloquent speaker, the examples given of his preaching are extremely scanty. The Anguttara Commentary (i.159) states that the Buddha gave him his title from the skilful way in which he argued with Pāyāsi, as related in the Pāyāsi Sutta; but this cannot be correct for, according to Dhammapāla (VvA.297), the events of the Pāyāsi Sutta took place after the Buddha's death. The Sutta, however, does justify Kassapa's reputation. (For his praises see also MA.i.500f). Kassapa's upasampadā took place in his twentieth year. A doubt arose as to whether this was valid because, according to the rule, twenty years must be completed for upasampadā. The Buddha held that in reckoning the age the time spent in the mother's womb could also be included. Vin.i.93; Sp.iv.867. 1. Kumāra-Kassapa Thera. - Ngài là người đứng đầu trong số những người có năng khiếu về bài thuyết giảng đa dạng và linh hoạt (cittakathikānam) (Ai24). Mẹ của ngài là con gái của một chủ ngân hàng ở Rājagaha , và bà, sau khi không được cha mẹ đồng ý để trở thành một nữ tu, đã kết hôn và, với sự đồng ý của chồng, gia nhập Tăng đoàn, mà không biết rằng mình đang mang thai. Khi tình trạng của bà bị phát hiện, các đồng nghiệp của bà đã tham khảo ý kiến của Devadatta , người tuyên bố rằng bà không phải là một nữ tu chân chính. Sau khi được tham khảo ý kiến, Đức Phật đã giao vấn đề này cho Upāli , người đã cho Visākhā và những cư dân khác của Sāvatthi điều tra đầy đủ , và ông đã đưa ra kết luận của mình trước hội đồng, trước sự chứng kiến của nhà vua, rằng nữ tu vô tội. (Để biết chi tiết, hãy xem Ji148; cách xử lý vụ án của Upāli đã giành được lời khen ngợi đặc biệt của Đức Phật, xem, ví dụ, AA.i.172). Khi đứa bé chào đời, nhà vua đã nuôi dưỡng và cho xuất gia lúc bảy tuổi. Cậu bé được gọi là Kumāra, vì cậu gia nhập Tăng đoàn từ khi còn rất nhỏ và được nuôi dưỡng trong cung đình, và cũng vì Đức Phật, khi ban cho cậu những món ăn ngon như trái cây, đã gọi cậu là Kumāra Kassapa. Một lần, khi Kumāra Kassapa đang thiền định ở Andhavana , một vị Phạm Thiên Bất Lai (Anāgāmī Brahmā), người từng là bạn đồng hành của ngài vào thời Đức Phật Kassapa, đã hiện ra trước mặt ngài và hỏi ngài mười lăm câu hỏi mà chỉ có Đức Phật mới có thể trả lời. Điều này dẫn đến việc thuyết giảng Kinh Vammika (Mi143ff), và sau khi suy ngẫm về giáo lý của kinh này, Kassapa đã đắc quả A La Hán. (Về câu chuyện của Kumāra Kassapa, xem Ji147ff; AA.i.158f; ThagA.i.322f; MA.i.335f). Mẹ của ngài cũng đã phát triển tuệ giác và đắc quả A-la-hán. Kinh sách kể rằng bà đã khóc suốt mười hai năm vì không được ở bên cạnh Kassapa, và một ngày nọ, khi nhìn thấy ngài trên đường, bà chạy đến và té ngã, sữa từ ngực bà chảy ra và làm ướt áo bà. Kassapa, nhận ra rằng tình yêu lớn lao của mình đang cản trở sự chứng đắc của bà, đã nói nặng lời với bà để bà bớt yêu ngài hơn. Mưu kế đã thành công và bà đã đắc quả A-la-hán ngay hôm đó (DhA.iii.147). Vào thời Đức Phật Padumuttara, Kassapa là một vị Bà-la-môn uyên bác, và sau khi nghe một vị tỳ kheo được xếp hạng cao nhất về hùng biện, ngài mong muốn được như vậy và đã thực hiện nhiều hành vi mộ đạo hướng đến mục đích đó. Khi giáo lý của Đức Phật Kassapa bị lãng quên, ngài cùng với sáu người khác đã gia nhập Tăng đoàn và sống một cuộc đời khổ hạnh nghiêm ngặt trên đỉnh núi. (Ap.ii.473f; chi tiết câu chuyện này được ghi lại trong DhA.ii.210-12; trong số những người bạn đồng hành của Kassapa còn có Pukkusāti , Dārucīriya , Dabba Mallaputta và Sabhiya ; xem thêm UdA.80f). Hai câu kệ có ý nghĩa sâu sắc được cho là của Kumāra-Kassapa được tìm thấy trong Theragāthā (câu 201.202). Mặc dù được cho là một diễn giả rất hùng biện, nhưng những ví dụ về bài thuyết giảng của ông lại cực kỳ ít ỏi. Chú giải Tăng Chi Bộ (Anguttara Commentary i.159) cho rằng Đức Phật đã ban cho ông danh hiệu này nhờ cách tranh luận khéo léo với Pāyāsi, như đã được ghi lại trong Pāyāsi Sutta ; nhưng điều này không thể đúng, bởi vì, theo Dhammapāla (VvA.297), các sự kiện trong Pāyāsi Sutta diễn ra sau khi Đức Phật nhập diệt. Tuy nhiên, bài kinh này đã chứng minh danh tiếng của Kassapa. (Về những lời ca ngợi ông, xin xem thêm MA.i.500f). Lễ Upasampadā của Kassapa diễn ra vào năm ngài hai mươi tuổi. Một nghi vấn nảy sinh về việc liệu điều này có hợp lệ hay không, bởi vì theo luật, phải hoàn tất hai mươi năm mới được Upasampadā. Đức Phật cho rằng khi tính tuổi, thời gian nằm trong bụng mẹ cũng có thể được tính. (Vin.i.93; Sp.iv.867). ĐẠI TRƯỞNG LÃO KUMĀRA KASSAPA – đệ nhất về thuyết pháp vi diệu ĐẠI TRƯỞNG LÃO KUMĀRA KASSAPA Người đàn ông đáng kính, Kumāra Kassapa tương lai, không bao giờ đọa vào các cõi khổ suốt một thời kỳ trung gian gồm vô số kiếp giữa hai vị Phật, chỉ luân chuyển trong hai cõi chư thiên và nhân loại. Vào thời kỳ Đức Phật Gotama xuất hiện, vị ấy thọ sanh vào bào thai con gái của một trưởng giả. Người phụ nữ trẻ này luôn luôn có ước muốn trở thành một đạo sĩ nhưng cha mẹ của nàng đã gã nàng cho con trai của một trưởng giả khác và phải sống với gia đình chồng. Nàng có thai nhưng không biết. Nàng xin chồng cho phép nàng được trở thành tỳ khưu ni, và người chồng đồng ý, nàng đi đến ni viện của các tỳ khưu ni là những đệ tử của đại đức Devadatta. Khi bào thai lớn ra rõ rệt, các tỳ khưu ni trình bày vấn đề lên đại đức Devadatta và xin chỉ thị. Devadatta nói rằng: “ Nàng ta không còn là một tỳ khưu ni” và đã trục xuất nàng ra khỏi hội chúng của vị ấy. Nàng tỳ khưu ni trẻ đi đến ngụ tại nơi của các tỳ khưu ni, đệ tử của Đức Phật. Ở đó, các tỳ khưu ni trình trường hợp của nàng lên Đức Phật, Ngài ủy quyền cho đại đức Upāli xem xét và quyết định. Đại đức Upāli cho mời một nhóm công nương đáng kính ở kinh thành Sāvatthi, gồm có tín nữ Visākhā và để họ tra xét vấn đề, tìm hiểu xem liệu cái bào thai xảy ra khi nàng tỳ khưu ni còn sống đời thế tục, hay sau khi đã trở thành tỳ khưu ni. Các công nương có bằng chứng đầy đủ để quyết định và trình lên đại đức Upāli rằng cái bào thai xảy ra lúc nàng còn cư sĩ. Đại đức Upāli nêu ra điều luật rõ ràng rằng bởi vì bào thai xảy ra trước khi nàng tỳ khưu ni gia nhập Tăng chúng, nên nàng là tỳ khưu ni trong sạch. Đức Thế Tôn tán dương Đại đức Upāli về sự xét xử đúng đắn trong cuộc tranh luận. Nàng tỳ khưu ni trẻ hạ sanh một bé trái kháu khỉnh trông như pho tượng vàng. Vua Pasenadi của nước Kosala nhận nuôi đứa bé tại cung điện của vị ấy như một ông vua con. Đứa bé được đặt tên là Kassapa, và đến năm lên bảy tuổi cậu ta được mặc áo quần xinh đẹp và gởi đến tịnh xá của Đức Phật để xuất gia Sa-di. (Muốn biết chi tiết hãy xem Bổn sanh Jataka, Ekaka Nipāta, Nigrodhamiga Jātaka). Khi gia nhập Tăng chúng năm lên bảy tuổi, cậu được Đức Phật nhắc đến là Kumāra Kassapa, ‘ Đồng tử Kassapa’ để phân biệt với những Sa-di khác có cùng tên Kassapa. Trong nghĩa khác, ‘Kumara’ cũng có nghĩa là ‘hoàng tử’. Bởi vì Kassapa được nuôi nấng bởi vua Pasenadi, nên từ Kumāra Kassapa cũng được mang ý nghĩa là ‘Hoàng tử Kassapa.’ Kumāra Kassapa bắt đầu học pháp thiền Minh sát từ khi vị ấy xuất gia Sa-di và cũng học những lời dạy của Đức Phật. Như vậy vị ấy đã siêng năng theo cả pháp học lẫn pháp hành trong Giáo pháp. Khi Đức Phật đang ngụ tại tịnh xá Jetavana, kinh thành Sāvatthi thì Kumāra Kassapa đang ngụ ở khu rừng Andhavana, gần tịnh xá Jetavana. Lúc bấy giờ Đại Phạm thiên Mahā Brahmā ở cõi Suddhāvāsa (Ngũ Tịnh cư), từng cùng tu tập để giác ngộ, đi lên núi có vách đứng để hành thiền, xem lại số phận của những người bạn xưa. Khi thấy Kumāra Kassapa đang phấn đấu cho sự giác ngộ, vị ấy quyết định hướng dẫn thực tiễn đến vị tỳ khưu trong pháp thiền quán. Ngay trước khi rời khỏi cõi Brahmā để đến cõi nhân loại, vị ấy đã lập ra một bài đố gồm mười lăm điểm. Vào nửa đêm, vị ấy xuất hiện với tất cả sự rực rỡ trước Kumāra Kassapa, trong khu rừng Andhavana. Kumāra Kassapa hỏi Brahmā: “Ngài là ai mà xuất hiện ở đây trước mặt tôi?” “ Bạch đại đức, tôi là bạn đồng tu với đại đức trong quá khứ (vào thời của Đức Phật Kassapa) đã cùng nhau tu thiền để tầm cầu giác ngộ, và đã tái sanh vào cõi Suddhavasa, đã chứng đắc quả thánh Bất lai.” “ Ngài gặp tôi với mục đích gì?” Brahmā bèn nói rõ mục đích của vị ấy bằng những lời sau đây: “ Thưa tỳ khưu, (1) Gò mối này (2) phun khói vào ban đêm; (3) ban ngày thì bốc lên những ngọn lửa. (4) Vị thầy bà la môn nói (5) với người học trò thông minh: (6) ‘ Hãy cầm lấy cây đao và (7) đào lên một cách siêng năng.’ Người học trò thông minh đã làm theo yêu cầu của ông thầy và (8) khám phá ra một cái then cửa. Và cậu ta trình lên ông thầy, ‘Thưa thầy, đây là cái then cửa.’ Vị thầy Bà-la-môn nói với người học trò: “ Này đệ tử thông minh, hãy quăng bỏ cái then cửa đó đi. Hãy cầm cây đao và tiếp tục đào một cách siêng năng.” Người học trò đã làm theo yêu cầu của ông thầy và Với mười lăm câu hỏi ấy là bài toán đối với cho đại đức Kumāra Kassapa, Đức Phật đã đưa ra những câu trả lời như sau: Giải rộng 4,5,6&7. Những sự so sánh này không cần giải rộng. giải Mahāvagga). Nói cách khác, vị A-la-hán không bao giờ trở lại với những phiền não đã được đoạn trừ ở bốn bậc thanh tịnh. ( Tena tena maggena pahīne kilese na āgacchantī ti nāgā –Ibid). Tuy nhiên trong một ý nghĩa khác, bậc A-la-hán không thể phạm bất cứ điều ác nào ( Nānappakārakaṃ āguṃ na karontī ti nāgā – Ibid.) Để bày tỏ sự tôn kính Đức Phật, vị nāgā, tức bậc A-la-hán, bậc đã thoát khỏi các lậu hoặc, Chú giải giới thiệu cách tôn kính này: Buddho bodhāya deseti, danto yo damathāya ca; samathāya anto dhammaṃ, tiṇṇo’va taraṇāya ca, nibbuto nibbānatthāya, taṃ lokasaraṇaṃ name. Đức Phật, bậc Giác ngộ, nơi nương tựa của ba cõi, bậc Arahat (Nāga), sau khi đã tự mình giác ngộ Tứ Thánh đế và muốn giúp cho những chúng sanh xứng đáng khác được giác ngộ như chính Ngài; sau khi đã tự mình nhiếp phục sáu căn và muốn thuần phục chúng sanh khác thích hợp để được thuần phục như chính Ngài; sau khi tự mình đạt đến tịnh lạc, sau khi đã vượt qua bên kia của đại dương saṁsāra và muốn những chúng sanh xứng đáng khác cũng vượt qua bờ bên kia như chính Ngài; sau khi dập tắt các ngọn lửa phiền não ở bốn giai đoạn và muốn những chúng sanh xứng đáng khác cũng dập tắt những ngọn lửa phiền não như chính Ngài; do lòng bi mẫn mà xiển dương Chánh pháp vi diệu đến chư thiên và nhân loại trong bốn mươi lăm năm. Con xin đem thân, khẩu và ý với hai tay chấp lại đảnh lễ Đức Phật, bậc Nāga, là nơi nương tựa của ba cõi. Bài kinh Gò mối hay Vammika Sutta, các ghi chú của Chú giải, là bài học về thiền quán dành cho trưởng lão Kumāra Kassapa. (Iti idaṃ suttaṃ Therassa kammaṭṭhānaṃ ahosi.) Trưởng lão Kumāra Kassapa học thuộc lòng câu trả lời mười lăm câu hỏi khó của Đức Phật, rồi trở về nơi vắng vẻ trong khu rừng Andhavana, siêng năng hành thiền và không bao lâu chứng đắc đạo quả A-la-hán. (d) Sự hoạch đắc danh hiệu Etadagga Từ lúc trở thành tỳ khưu, trưởng lão Kumāra Kassapa trong những bài pháp giảng đến bốn chúng đệ tử, tỳ khưu, tỳ khưu ni, thiện nam và tín nữ thường sử dụng nhiều sự so sánh và những câu chuyện minh họa. Khi trưởng lão Kumāra Kassapa thuyết pháp đến pāyāsi (người chấp theo tà kiến) ứng dụng mười lăm sự so sánh. Đức Phật khi nhắc đến bài kinh ấy được gọi là Pāyāsirājañña Sutta, đã công bố: Etadaggaṃ bhikkhave mama sāvakānaṃ bhikkhūnaṃ cittakathikānaṃ yadidaṃ Kumāra Kassapo. Này các tỳ khưu, trong số các tỳ khưu đệ tử của Như Lai mà ứng dụng hình tượng trong các bài pháp thì tỳ khưu Kumāra Kassapa là Đệ nhất. (Hãy xem bài kinh này trong Dīgha Nikāya Mahā vagga, số 10)
ĐẠI TRƯỞNG LÃO KUMĀRA KASSAPA – đệ nhất về thuyết pháp vi diệu
Nguyện vọng quá khứ
Kumara Kassapa tương lai tái sanh vào một gia đình giàu có trong kinh thành Haṃsāvatī trong thời của Đức Phật Padumuttara. Như trong trường hợp của những vị đại trưởng lão tương lai khác, vị ấy đi đến Đức Phật và nghe pháp, trong quá trình nghe pháp vị ấy trông thấy một tỳ khưu được Đức Phật công bố là Tối thắng trong những vị tỳ khưu sử dụng tinh tấn trong việc xiển dương giáo pháp. Vị ấy nung nấu ước muốn được trở thành vị tỳ khưu đặc biệt như vậy, và sau khi tổ chức đại thí cúng dường, đã phát nguyện trước Đức Phật rằng vị ấy muốn được tôn vinh bằng danh hiệu tương tự bởi một vị Phật tương lai. Đức Phật thấy rằng ước nguyện của vị thiện nam kia sẽ được thành tựu, và đã nói lời tiên tri.
Tu thiền trên đỉnh núi
Vị Kumāra Kassapa tương lai đã cống hiến hết cuộc đời còn lại của mình làm thiện nghiệp và sau kiếp sống ấy được tái sanh vào cõi chư thiên và cõi nhân loại. Vào thời kỳ suy giảm Giáo pháp của Đức Phật Kassapa, vị ấy đi lên đỉnh núi có vách đứng cùng với một nhóm sáu vị tỳ khưu khác và phấn đấu cho sự giác ngộ. (Hãy xem câu chuyện của đại đức Dabba ở trên.) Do sự trong sạch về giới, vị ấy được tái sanh vào cõi chư thiên sau khi thân hoại mạng chung.Đời sống Sa môn trong kiếp chót
Tên Kumāra Kassapa
Câu chuyện nền tảng của bài kinh Vammika
Sự chứng đắc đạo quả A-la-hán
Thân phận : Con vật
593
Vai trò : Người nghe
1182
Chọn vấn đề bạn phát hiện. Quản trị viên sẽ nhận báo cáo kèm đúng trang hiện tại.
Liên kết bên dưới được dựng phía server từ các quan hệ đang có trong cơ sở dữ liệu Nikaya Tâm Học.
Các bài/Kinh liên kết trực tiếp với nhân vật này.
Mở danh sách nhân vật cùng nhóm hiện hữu.
Tính từ bài chung và địa danh chung ở backend.
- 09/08/2026 18:27:05- 957 Lượt xem
- 09/08/2026 18:27:05- 957 Lượt xem
- 09/08/2026 18:27:05- 303 Lượt xem
- 09/08/2026 18:27:05- 1050 Lượt xem
- 09/08/2026 18:27:05- 1285 Lượt xem
- 09/08/2026 18:27:05- 888 Lượt xem
- 09/08/2026 18:27:05- 1055 Lượt xem
- 09/08/2026 18:27:05- 771 Lượt xem
- 07/24/2026 20:48:16- 434 Lượt xem
- 07/24/2026 20:48:04- 430 Lượt xem
- 07/24/2026 20:47:51- 438 Lượt xem
- 07/24/2026 20:43:50- 368 Lượt xem
- 07/24/2026 20:43:37- 381 Lượt xem
- 07/24/2026 20:42:49- 394 Lượt xem
- 07/24/2026 20:42:36- 390 Lượt xem
- 07/24/2026 20:42:19- 400 Lượt xem