Nikaya Tâm HọcCon đường tuệ giác
Nikaya Tâm HọcKinh điển, nghiên cứu và các khu vực chính
Kinh sáchKinh điển, sách và tài liệu học Phật
Danh mục đầy đủ
Thời Phật Tại ThếBản đồ, Cuộc đời Đức Phật và Album ảnh
Bỏ qua menu, tới nội dung chính
Nikaya Tâm HọcKinh điển • Đức Phật • Nghiên cứu
Thư viện Nikaya Tâm HọcKhông gian tra cứu Đức Phật, Kinh Nikaya, A Hàm và tư liệu liên quan
Chuyện tiền thân Đức Phật P012 : CHUYỆN CON NAI CÂY ÐA (Tiền thân Nigrodhamiga)
Bài viết chuyên đề

Chuyện tiền thân Đức Phật P012 : CHUYỆN CON NAI CÂY ÐA (Tiền thân Nigrodhamiga)

Bối cảnh hiện tại Khi Đức Phật trú tại Kỳ Viên, các Tỷ-kheo cùng nhau ca ngợi lòng từ bi của Ngài đối với mẹ con Trưởng lão Cumarakassapa. Mẹ của Cumarakassapa vốn là con gái duy nhất của một gia đình giàu có tại thành Vương Xá. Từ nhỏ, nàng đã không ham thích đời sống gia đình và luôn mong muốn được xuất gia. Tuy nhiên, cha mẹ không đồng ý nên nàng phải kết hôn. Sau khi về nhà chồng, nàng vẫn sống giới hạnh và thường quán sát sự bất tịnh, vô thường của thân thể. Nhận thấy tâm nguyện xuất gia chân thành của vợ, người chồng đồng ý cho nàng từ bỏ đời sống gia đình. Nàng được xuất gia trong giáo đoàn Tỷ-kheo-ni thuộc phái Đề-bà-đạt-đa. Tuy nhiên, nàng không biết rằng mình đã mang thai từ khi còn là cư sĩ. Khi bụng nàng ngày càng lớn, các Tỷ-kheo-ni đưa nàng đến gặp Đề-bà-đạt-đa. Không điều tra rõ sự việc và chỉ lo sợ bị người đời chỉ trích, Đề-bà-đạt-đa lập tức ra lệnh trục xuất nàng. Nàng khẳng định mình xuất gia trong Giáo pháp của Đức Phật chứ không phải để nương tựa Đề-bà-đạt-đa, rồi xin được đưa đến Kỳ Viên gặp Thế Tôn. Đức Phật không vội kết luận mà cho tổ chức một cuộc điều tra công khai trước nhà vua, các vị cư sĩ danh tiếng và bốn chúng. Trưởng lão Upāli phụ trách xét xử, còn nữ cư sĩ Visākhā trực tiếp kiểm tra và tính toán thời gian mang thai. Kết quả xác định rằng vị Tỷ-kheo-ni đã thụ thai trước khi xuất gia nên giới hạnh hoàn toàn thanh tịnh. Về sau, nàng sinh một bé trai tên Kassapa. Vua Pasenadi nhận nuôi đứa trẻ như một hoàng tử, vì vậy cậu được gọi là Cumarakassapa, nghĩa là Hoàng tử Kassapa. Khi lên bảy tuổi, Cumarakassapa xuất gia với Đức Phật. Về sau, ngài trở thành một vị thuyết pháp xuất sắc và chứng quả A-la-hán. Người mẹ cũng tu tập thiền quán và chứng quả cao nhất. Các Tỷ-kheo nhận xét rằng Đề-bà-đạt-đa vì thiếu nhẫn nại và từ bi nên suýt làm hại hai mẹ con, trong khi Đức Phật đã trở thành nơi nương tựa, bảo vệ và minh oan cho họ. Đức Phật nói rằng không phải chỉ trong hiện tại Ngài mới bảo vệ hai mẹ con ấy; trong một đời quá khứ, Ngài cũng từng cứu họ. Nhân đó, Ngài kể câu chuyện tiền thân.

355 lượt xem #593 mã dữ liệu 12.11.2023 ngày khởi tạo
Nội dung chính
student dp

ID:593

Các tên gọi khác

12. CHUYỆN CON NAI CÂY ÐA (Tiền thân Nigrodhamiga) Sống với Nigrodha…, Câu chuyện này, khi ở Kỳ Viên, bậc Ðạo Sư đã kể về mẹ của Trưởng lão Cumarakassapa (Cưu-ma-la Ca-diếp). Tục truyền rằng thuở còn là con gái một triệu phú giàu có ở thành Vương Xá, nàng đầy thiện căn để chấm dứt các hành, sống đời cuối cùng như cây đèn trong ghè, nội tâm nàng sáng chói niềm hy vọng chứng quả A-la-hán.

General Information

Ngày khởi tạo : 2023-11-12 18:55:40

Edit time : 07/23/2026 11:51:54 - Số lần chỉnh sửa : 3

Danh sách : Liên quan
:

1454.006_ch-01-p-gioi-chuyen-11-12

Duyên khởi:Câu chuyện này, khi ở Kỳ Viên, bậc Ðạo Sư đã kể về mẹ của Trưởng lão Cumarakassapa (Cưu-ma-la Ca-diếp).

Đức Phật là : con nai chúa Nigrodha

Nhóm tiền thân :con nai Sakha là Ðề-bà-đạt-đa, đàn nai là tùy tùng của Ðề-bà-đạt-đa, nai cái là Trưởng lão ni, nai con là Kumarakassapa, vua là Ànanda, con nai chúa Nigrodha là Ta vậy.

Chuyện tiền thân Đức Phật P012 : CHUYỆN CON NAI CÂY ÐA (Tiền thân Nigrodhamiga)

12. CHUYỆN CON NAI CÂY ÐA (Tiền thân Nigrodhamiga)


Sống với Nigrodha…,
Câu chuyện này, khi ở Kỳ Viên, bậc Ðạo Sư đã kể về mẹ của Trưởng lão Cumarakassapa (Cưu-ma-la Ca-diếp). Tục truyền rằng thuở còn là con gái một triệu phú giàu có ở thành Vương Xá, nàng đầy thiện căn để chấm dứt các hành, sống đời cuối cùng như cây đèn trong ghè, nội tâm nàng sáng chói niềm hy vọng chứng quả A-la-hán. Từ khi hiểu biết về mình, nàng không vui trong đời sống gia đình, và muốn xuất gia. Nàng thưa với cha mẹ:
– Thưa cha mẹ thân, tâm con không vui với đời sống gia đình, con muốn xuất gia trong Giáo pháp giải thoát của đức Phật. Hãy cho phép con xuất gia.
– Này con, con nói gì vậy? Gia đình này rất giàu có. Con là con gái độc nhất của chúng ta. Con không được xuất gia!
Nàng tiếp tục xin, không được cha mẹ cho xuất gia, nàng nghĩ: “Thôi, hãy chấp nhận là vậy. Khi nào về nhà chồng, được chồng bằng lòng, ta sẽ xuất gia!”
Nàng lớn lên, đi về nhà chồng, trở thành người vợ trung thành, sống trong gia đình có giới hạnh và theo thiện pháp. Khi nàng sống trong gia đình, nàng thụ thai, nhưng không biết mình đã thụ thai.
Một ngày hội lớn được tuyên bố trong thành ấy và mọi người trong thành phố vui chơi hội lớn. Thành phố được trang hoàng như thành phố Chư Thiên. Nhưng trong khi lễ hội lớn đạt đến cao độ, nàng vẫn không thoa phấn son, không đeo đồ trang sức, ăn mặc như ngày thường. Chồng nàng nói với nàng:
– Này hiền thê, toàn thành phố vui chơi hội lớn. Còn em thì không săn sóc gì cho thân mình.
– Thưa hiền phu, thân này của em đầy ba mươi hai bộ phận của thân xác, trang điểm thân này làm gì? Thân này không do chư Thiên hóa sanh, không do Phạm thiên hóa sanh, không làm bằng vàng, không làm bằng châu báu, không làm bằng gỗ chiên-đàn vàng, không sanh từ đài sen trắng, sen hồng hay sen xanh, không đựng đầy thuốc trường sanh. Thân này uế nhiễm do cha mẹ sanh, bị vô thường hủy diệt, băng hoại tan nát, làm nghĩa trang tăng trưởng, bị ai chấp thủ, là nhân của sầu ưu, là căn cứ của than khóc, là kho tàng của mọi bệnh tật, là chỗ dung nạp của nghiệp lực, nội bộ ô uế, ngoại bộ thường bài tiết. Thật vậy, như toàn thế giới có thể thấy cứu cánh của nó là chết, đi đến nghĩa địa, là chỗ tự hội các côn trùng. Và nàng nói lên lời cảm thán:
Ràng buộc bởi gân xương,
Dính lại với da thịt,
Thân bị da bao trùm,
Không thấy được như thật.
– Kính thưa hiền phu, em trang điểm thân này làm gì? Có phải chăng trang điểm thân này chẳng khác gì trang điểm bề ngoài một cái bình đựng đầy phân?
Người triệu phú nghe nàng nói như vậy bèn hỏi:
– Nếu hiền thê thấy thân này tội lỗi như vậy, sao hiền thê không xuất gia?
– Thưa hiền phu, nếu em được phép xuất gia, em sẽ xuất gia ngay hôm nay!
Nói xong, sau khi tổ chức bố thí lớn và tỏ lòng hết sức kính trọng Giáo hội, người triệu phú cùng với một số tùy tùng lớn đưa nàng xuất gia, và nàng được xuất gia với chúng Tỷ-kheo-ni thuộc phái Ðề-bà-đạt-đa. Sau khi xuất gia, nàng sống hoan hỷ với tâm tư viên mãn.
Khi cái thai của nàng đã thuần thục, các Tỷ-kheo-ni nhận thấy các căn của nàng đổi khác, tay chân và lưng lớn lên, màn da bụng to lên, hỏi nàng:
– Này hiền muội, hình như hiền muội có thai. Sự việc này thế nào?
– Thưa các hiền tỷ, tôi không biết sự việc này. Giới hạnh tôi đầy đủ!
Rồi các Tỷ-kheo-ni đưa nàng đến Ðề-bà-đạt-đa và hỏi Ðề-bà-đạt-đa:
– Thưa Tôn giả, thiện nữ nhân này, với sự chấp nhận khó khăn của người chồng, đã được xuất gia. Nay nàng có thai, chúng tôi không biết nàng thọ thai nhi khi còn là cư sĩ, hay khi đã xuất gia. Nay chúng tôi phải làm gì?
Ðề-bà-đạt-đa tự mình chưa phải là bậc Giác ngộ, nên không có lòng kham nhẫn, từ bi, từ mẫn và suy nghĩ: “Một Tỷ-kheo-ni thuộc phái Ðề-bà-đạt-đa nay đã có thai, và Ðề-bà-đạt-đa lại hỷ xả. Ta sẽ bị chỉ trích như vậy. Ta phải đuổi người này.” Rồi không điều tra, như xô đẩy một tảng đá, Ðề-bà-đạt-đa lập tức khẳng định và nói:
– Hãy đi ngay và tẩn xuất người này!
Chúng Tỷ-kheo-ni ấy nghe nói vậy, đứng dậy đảnh lễ rồi đi về trú xứ. Nàng thiếu phụ thưa với các Tỷ-kheo-ni ấy:
– Thưa các Nữ Tôn giả, Trưởng lão Ðề-bà-đạt-đa không phải đức Phật! Con xuất gia không phải với Ðề-bà-đạt-đa, nhưng con xuất gia với bậc Chánh Ðẳng Giác, bậc tối thượng ở đời. Chớ làm mất nơi con điều con đã được một cách khó khăn! Hãy đưa con đi đến Kỳ Viên, gặp bậc Ðạo Sư!
Chúng Tỷ-kheo-ni ấy đưa nàng đi, vừa qua con đường dài bốn mươi lăm dặm, từ Vương Xá dần dần đến Kỳ Viên, đảnh lễ bậc Ðạo Sư và tường trình sự việc. Bậc Ðạo Sư suy nghĩ: “Dầu thai của nàng ấy được tượng hình khi còn là gia chủ, đây cũng là một dịp để ngoại đạo nói rằng Sa-môn Gotama đã nhận lấy một Tỷ-kheo-ni bị Ðề-bà-đạt-đa loại bỏ. Ðể chấm dứt câu chuyện, vấn đề này còn được giải quyết trước mặt vua và tùy tùng của vua”.
Ngày hôm sau, Thế Tôn cho mời vua Pasenadi, (Ba-tư-nặc) nước Kosala, ông Cấp Cô Ðộc lớn, Cấp Cô độc nhỏ, nữ cư sĩ Visàkhà, và các nhân vật có tiếng khác. Rồi vào buổi chiều, giữa bốn chúng đã đều tụ họp, Thế Tôn bảo trưởng lão Upàli.
– Hãy đi làm cho sáng tỏ sự việc của Tỷ-kheo-ni trẻ này giữa bốn chúng!
– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Vị trưởng lão đi đến giữa hội chúng, ngồi trên chỗ đã soạn sẵn cho mình, cho gọi nữ cư sĩ Visàkhà trước mặt nhà vua, và giao việc điều tra này:
– Hãy đi, này Visàkhà, trước hết, hãy xác định ngày xuất gia, tháng xuất gia của người thiếu phụ này. Sau khi biết rõ rồi, hãy tìm hiểu nàng thụ thai trước đây hay sau thời gian ấy.
Nữ cư sĩ chấp nhận lời dạy, cho treo một cái màn. Sau cái màn ấy, nữ cư sĩ quan sát tay, chân, lỗ rún, bụng, các phần thân khác của Tỷ-kheo-ni trẻ. Sau khi tính ngày tháng, biết được nàng thụ thai trong thời kỳ còn là gia chủ, nữ cư sĩ đi đến vị Trưởng lão và báo cáo kết quả.
Vị trưởng lão, giữa bốn chúng, tuyên bố Tỷ-kheo-ni ấy là thanh tịnh. Bấy giờ nàng được xác nhận là thanh tịnh, liền đến đảnh lễ chúng Tỷ-kheo và bậc Ðạo Sư, rồi đi về trú xứ với các Tỷ-kheo-ni. Khi bào thai đã thuần phục, nàng sanh được một bé trai có uy lực lớn, do nàng cầu nguyện dưới chân Ðức Phật Padumuttara cách đây nhiều kiếp.
Nhà vua, một hôm đi đến gần trú xứ của Tỷ-kheo-ni, nghe tiếng của đứa trẻ, và hỏi các đình thần. Các đình thần biết câu chuyện, thưa lại với vua:
– Tâu Ðại Vương, vị Tỷ-kheo-ni trẻ ấy sanh được một đứa con trai. Ðây là tiếng khóc của đứa trẻ.
– Này các khanh, nuôi con là một chướng ngại cho các Tỷ-kheo-ni. Chúng ta sẽ nuôi dưỡng nó.
Vua giao đứa trẻ cho các thiếu phụ bà con và bảo nuôi dưỡng nó lớn như một hoàng tử. Ðến ngày đặt tên, nó được tên là Kassapa, nhưng được biệt danh là hoàng tử Kassapa, vì được nuôi dưỡng như một hoàng tử. Khi lên bảy tuổi, Kassapa xuất gia với bậc Ðạo Sư, và khi đầy đủ tuổi, được thọ Ðại Giới. Thời gian đi qua, vị ấy trở thành một nhà thuyết pháp tài giỏi giữa các nhà thuyết pháp. Rồi bậc Ðạo Sư ấn chứng cho vị ấy:
– Này các Tỷ-kheo, vị này là đệ nhất trong các đệ tử thuyết pháp của Ta, tức là Hoàng tử Kassapa. Hoàng tử Kassapa, nhờ kinh Vammika (Kinh Trung Bộ, số 23) chứng quả A-la-hán. Tỷ-kheo-ni, mẹ vị ấy, nhờ phát triển Thiền quán, chứng quả cao nhất. Trưởng lão Cumarakassapa, giữa giáo pháp đức Phật, sáng chói như mặt trăng rằm giữa hư không.
Một hôm, sau buổi ăn, trên con đường đi khất thực trở về, đức Như Lai khuyến giáo các Tỷ-kheo xong, đi vào Hương Phòng. Sau khi được lời khuyến giáo, Tăng chúng sinh hoạt trong các gian phòng ban ngày, hay gian phòng ban đêm của họ. Vào buổi chiều, họ hội họp tại Pháp đường, và tán thán đức hạnh của đức Phật:
– Này các Hiền giả, Ðề-bà-đạt-đa tự mình không phải là Phật, lại không có kham nhẫn, lòng từ bi, lòng từ mẫn, đã khiến cho Trưởng lão Cumarakassapa và Trưởng lão ni gần bị hại. Nhưng bậc Chánh Ðẳng giác tự mình là bậc Pháp Vương, lại thành tựu kham nhẫn, lòng từ bi, lòng từ mẫn, đã trở thành chỗ nương tựa cho hai vị ấy.
Bậc Ðạo sư, với uy nghi của Ðức phật, đi vào Pháp đường, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn, và hỏi:
– Này các Tỷ-kheo, các ông đang ngồi luận bàn chuyện gì?
Các Tỷ-kheo thưa:
– Bạch Thế Tôn, chúng con bàn đến công đức của Thế Tôn.
– Này các Tỷ-kheo, không phải chỉ nay Như Lai mới trở thành chỗ nương tựa cho hai người ấy, nhưng trong quá khứ cũng vậy.
Các Tỷ-kheo yêu cầu Thế Tôn làm sáng tỏ vấn đề này. Thế Tôn trình bày rõ câu chuyện quá khứ.
*
Thuở xưa, khi vua Brahamadatta trị vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát sanh làm một con nai. Khi từ bụng mẹ sanh ra, con nai có màu sắc vàng, mắt của nó giống như hòn châu báu, sừng màu trắng bạc, miệng đỏ như tấm màn nhung, móng chân láng trơn như màu sơn mài, đuôi giống như đuôi con trâu rừng (Yak), thân to lớn bằng con nghé. Nó sống trong rừng, được vây quanh với năm trăm con nai và được gọi là nai chúa Nigrodla (Cây Ða). Không xa bao nhiêu, có một con nai khác, với năm trăm con nai tùy tùng và được gọi là nai Sakha (Nhành), nai này cũng màu sắc vàng.
Lúc bấy giờ vua Ba-la-nại thường hay săn bắn nai, không có thịt nai thì không ăn cơm. Hằng ngày vua triệu tập dân thành dân tỉnh lại, đình chỉ công việc của mọi người và vua thích đi săn bắn. Mọi người suy nghĩ: “Vua này đình chỉ công việc của chúng ta; chúng ta hãy gieo bẫy mồi và đặt nước uống cho các con nai trong vườn, đuổi nhiều nai vào trong ấy, đóng cửa lại và bắt dẫn chúng đến vua”.
Như vậy, họ gieo cỏ làm bẫy mồi, đặt nước uống khắp vườn, cho sắp đặt cửa, đem theo những người trong thành, tay cầm côn, gậy và các loại binh khí khác đi vào rừng tìm nai, họ bao một vòng vây khoảng độ một dặm để bắt đàn nai bị vây ở giữa, và như vậy họ vây quanh chỗ ở của đàn nai Nigrodha và đàn nai Sakha.
Khi thấy đàn nai, họ bắt đầu lấy gậy đập cây, đập bụi, đập đất, đuổi đàn nai ra khỏi chỗ ở của chúng, khua động các loại vũ khí như gươm, giáo, cung, la hét và đuổi đàn nai vào rừng. Rồi họ đóng cửa lại, đi đến gặp vua và thưa:
– Thưa Ðại Vương, vì luôn luôn đi săn nai, Ðại Vương phá hoại công việc của chúng con. Nay chúng con đã dẫn đàn nai rừng vào đầy cả vườn của Ðại Vương. Từ nay trở đi, Ðại Vương có thể ăn thịt chúng.
Sau khi thưa như vậy, dân chúng bỏ đi. Nhà vua nghe họ nói, đi đến khu vườn, nhìn các con nai, thấy hai con nai vàng, liền tha chết cho chúng. Từ đấy về sau, có khi nhà vua tự đi bắn một con nai rồi đem về. Có khi người đầu bếp đi đến, bắn nai rồi đem về. Các con nai, thấy cây cung, liền run rẩy vì sợ chết nên bỏ chạy. Nhưng khi bị hai hay ba vết thương, chúng mệt mỏi, bị bệnh, và bị giết. Ðàn nai báo cáo sự việc như vậy lên Bồ-tát. Bồ-tát cho gọi Sakha và nói:
– Này bạn, nhiều con nai bị hại, dầu thế nào chúng cũng phải chết. Nhưng bắt đầu từ nay trở đi, chớ để các con nai bị tên bắn một cách vô ích. Hãy để các con nai thay phiên nhau đi đến chỗ phải chết. Một ngày là phiên đàn nai của tôi, một ngày là phiên nai của bạn. Con nai nào đến phiên của mình cứ đi đến, nằm xuống đặt đầu vào chỗ phải chết. Làm vậy, các con nai khác khỏi bị thương.
Con nai Sakha chấp thuận. Từ đấy trở đi, theo phiên mình, một con nai đi đến, nằm xuống, đặt cổ vào chỗ bị giết. Người đầu bếp đến, bắt con nai nằm đấy rồi đem đi.
Một hôm đến phiên một con nai cái có mang ở trong đàn nai Sakha. Con nai cái đến gặp Sakha và thưa:
– Thưa chúa tể, tôi có thai, sắp sanh con, như vậy đàn có hai mạng sống đến phiên. Hãy cho qua phiên của tôi.
Nai Sakha nói:
– Không thể bảo những con nai khác thế phiên cho ngươi được. Ngươi hãy chịu những gì sẽ đến với ngươi, hãy đi đi.
Con nai cái ấy không được nai Sakha chấp thuận, liền đi đến Bồ-tát và trình bày sự việc. Bồ-tát nghe xong liền nói:
– Ðược, hãy đi đi! Ta sẽ bỏ qua phiên của người!
Rồi nai chúa tự mình đi đến, đặt đầu vào chỗ chết nằm chờ. Người đầu bếp thấy vậy liền nói:
– Con nai chúa đã được tha khỏi chết, nay lại nằm ở chỗ chết này. Sự việc này là cớ sao?
Rồi kẻ ấy đi báo cáo cho vua hay. Nhà vua lập tức ngự lên xe, đi đến với đoàn tùy tùng đông đảo, thấy Bồ-tát, liền nói:
– Này bạn nai chúa, ta đã tha khỏi chết cho người. Sao nay ngươi nằm ở đây?
– Thưa Ðại Vương, một con nai cái đến gặp tôi, yêu cầu một con khác thay phiên cho nó. Tôi không có thể bắt một con nào khác chịu đau đớn vì bị chết được. Tôi quyết định cho con nai cái ấy mạng sống của tôi, nhận lấy cái chết thay cho con nai cái, nên nằm ở đây, Ðại Vương chớ có nghi ngờ gì khác!
Vua nói:
– Hỡi nai chúa sắc vàng, từ trước, ta chưa bao giờ thấy giữa loài người, có ai đầy đủ khảm nhẫn, hòa ái, từ bi như ngươi. Do vậy, ta thật bằng lòng với ngươi. Hãy đứng dậy, ta sẽ cho ngươi và con nai cái ấy thoát khỏi sợ hãi!
– Thưa bậc nhân chủ, có hai con nai được thoát khỏi sợ hãi, đàn nai còn lại thì thế nào?
– Này nai chúa, ta sẽ cho đàn nai còn lại thoát khỏi sợ hãi.
– Thưa Ðại vương, các con nai được thoát khỏi sự sợ hãi, nhưng các con sinh vật bốn chân khác thì sao?
– Này nai chúa, ta cũng cho chúng thoát khỏi sợ hãi!
– Thưa Ðại Vương, các loài bốn chân được thoát khỏi sợ hãi, nhưng các đàn chim thì thế nào?
– Này nai chúa, ta cũng sẽ cho chúng thoát khỏi sợ hãi!
– Thưa Ðại Vương, các loại chim như vậy được thoát khỏi sợ hãi, nhưng còn đàn cá sống ở trong nước thì thế nào?
– Này nai chúa, ta cũng sẽ cho chúng thoát khỏi sợ hãi!
Như vậy con nai chúa đã xin vua được thoát khỏi sợ hãi cho tất cả chúng sanh, đứng dậy, khuyên nhà vua thọ năm giới, và nói:
– Thưa Ðại Vương, hãy sống theo Chánh pháp! Hãy xử sự đúng Chánh pháp đối với cha mẹ, đối với con trai, con gái, đối với Bà-la-môn, gia chủ, đối với dân ở thành phố, dân ở các tỉnh. Hãy tự mình sống đúng Chánh pháp, khi nhân loại mạng chung, sẽ được sanh lên thiện thú, thiên giới, cõi đời này!
Sau khi thuyết pháp cho vua với uy lực kỳ diệu của Ðức phật, Bồ-tát sống tại khu vườn trong một vài ngày để khuyến giáo vua, rồi cùng với đàn nai vây quanh, lên núi đi theo chúng vào rừng. Con nai cái đẻ ra một con nai đực đẹp như một nụ hoa. Nai con này đi chơi với đàn nai Sakha. Thấy nai mình đi chơi với đàn nai Sakha, nai mẹ khuyên con mình, bắt đầu từ nay chớ đi tới Sakha, nên đi tới Nigrodha và nói lên bài kệ:
Sống với Ni-gro-dha,
Chớ sống với Sa-kha!
Chết với Ni-gro-dha,
Hơn sống với Sa-kha.
Từ đấy trở đi, các con nai thoát khỏi sợ hãi khi ăn lúa của dân chúng. Và dân chúng nhớ rằng các con nai được thoát khỏi sợ hãi, nên không dám đánh đập hay đuổi chúng đi. Họ tụ họp tại sân vua và báo cáo lên vua biết. Vua nói:
– Do ta bằng lòng, ta đã cho nai Nigrodha một đặc ân. Ta thà mất nước chớ không bỏ lời đã hứa. Hãy đi đi, trong quốc độ của ta, không con nai nào bị đánh cả!
Nai Nigrodha, nghe tin này, liền hợp đàn nai lại và bảo:
– Bắt đầu từ nay, chớ ăn lúa của người khác!
Sau khi bảo chúng hứa như vậy, nai Nigrodha báo tin cho dân chúng biết:
– Bắt đầu từ nay, những người trồng lúa chớ rào ruộng lại để bảo vệ lúa, chỉ làm dấu bằng cách cột lá lúa lại.
Bắt đầu từ đấy, theo tin đồn, khởi lên tục lệ cột lá lúa lại giữa các đồng ruộng. Bắt đầu từ đấy, các con nai không vượt qua đồng ruộng có lá lúa cột lại. Ðây là nhờ Bồ-tát khuyến giáo chúng như vậy. Sau khi khuyến giáo đàn nai, Bồ-tát sống ở đấy cho hết tuổi thọ, rồi cùng với đàn nai đi theo nghiệp của mình. Còn nhà vua nghe lời khuyến giáo của Bồ-tát, suốt đời làm các công đức rồi sau đó đi theo nghiệp của mình.
*
Bậc Ðạo Sư nói sau khi kể pháp thoại:
– Này các Tỷ-kheo, không phải chỉ nay Ta mới bảo vệ Trưởng lão ni và Kumarkassapa, mà thuở trước Ta cũng bảo vệ như vậy.
Rồi Ngài thuyết giảng Bốn Sự thật, nêu sự liên hệ giữa hai câu chuyện, kết hợp chúng với nhau, và kết luận bằng cách nhận diện Tiền thân:
– Thời ấy, con nai Sakha là Ðề-bà-đạt-đa, đàn nai là tùy tùng của Ðề-bà-đạt-đa, nai cái là Trưởng lão ni, nai con là Kumarakassapa, vua là Ànanda, con nai chúa Nigrodha là Ta vậy.
-ooOoo-

.

12. CHUYỆN CON NAI CÂY ĐA

Tiền thân Nigrodhamiga

Bối cảnh hiện tại

Khi Đức Phật trú tại Kỳ Viên, các Tỷ-kheo cùng nhau ca ngợi lòng từ bi của Ngài đối với mẹ con Trưởng lão Cumarakassapa.

Mẹ của Cumarakassapa vốn là con gái duy nhất của một gia đình giàu có tại thành Vương Xá. Từ nhỏ, nàng đã không ham thích đời sống gia đình và luôn mong muốn được xuất gia. Tuy nhiên, cha mẹ không đồng ý nên nàng phải kết hôn.

Sau khi về nhà chồng, nàng vẫn sống giới hạnh và thường quán sát sự bất tịnh, vô thường của thân thể. Nhận thấy tâm nguyện xuất gia chân thành của vợ, người chồng đồng ý cho nàng từ bỏ đời sống gia đình.

Nàng được xuất gia trong giáo đoàn Tỷ-kheo-ni thuộc phái Đề-bà-đạt-đa. Tuy nhiên, nàng không biết rằng mình đã mang thai từ khi còn là cư sĩ.

Khi bụng nàng ngày càng lớn, các Tỷ-kheo-ni đưa nàng đến gặp Đề-bà-đạt-đa. Không điều tra rõ sự việc và chỉ lo sợ bị người đời chỉ trích, Đề-bà-đạt-đa lập tức ra lệnh trục xuất nàng.

Nàng khẳng định mình xuất gia trong Giáo pháp của Đức Phật chứ không phải để nương tựa Đề-bà-đạt-đa, rồi xin được đưa đến Kỳ Viên gặp Thế Tôn.

Đức Phật không vội kết luận mà cho tổ chức một cuộc điều tra công khai trước nhà vua, các vị cư sĩ danh tiếng và bốn chúng. Trưởng lão Upāli phụ trách xét xử, còn nữ cư sĩ Visākhā trực tiếp kiểm tra và tính toán thời gian mang thai.

Kết quả xác định rằng vị Tỷ-kheo-ni đã thụ thai trước khi xuất gia nên giới hạnh hoàn toàn thanh tịnh.

Về sau, nàng sinh một bé trai tên Kassapa. Vua Pasenadi nhận nuôi đứa trẻ như một hoàng tử, vì vậy cậu được gọi là Cumarakassapa, nghĩa là Hoàng tử Kassapa.

Khi lên bảy tuổi, Cumarakassapa xuất gia với Đức Phật. Về sau, ngài trở thành một vị thuyết pháp xuất sắc và chứng quả A-la-hán. Người mẹ cũng tu tập thiền quán và chứng quả cao nhất.

Các Tỷ-kheo nhận xét rằng Đề-bà-đạt-đa vì thiếu nhẫn nại và từ bi nên suýt làm hại hai mẹ con, trong khi Đức Phật đã trở thành nơi nương tựa, bảo vệ và minh oan cho họ.

Đức Phật nói rằng không phải chỉ trong hiện tại Ngài mới bảo vệ hai mẹ con ấy; trong một đời quá khứ, Ngài cũng từng cứu họ. Nhân đó, Ngài kể câu chuyện tiền thân.

Câu chuyện tiền thân

Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị vì tại Ba-la-nại, Bồ-tát sinh làm một con nai có thân hình to lớn, sắc lông vàng rực, mắt sáng như châu báu và sừng trắng như bạc.

Ngài được gọi là nai chúa Nigrodha, tức Nai Cây Đa, đứng đầu một đàn gồm năm trăm con nai.

Gần đó có một đàn nai khác cũng gồm năm trăm con, do nai chúa Sakha, tức Nai Nhành, lãnh đạo.

Nhà vua rất thích săn nai và không có thịt nai thì không chịu dùng cơm. Vì những cuộc săn thường xuyên của vua làm gián đoạn công việc của dân chúng, người dân nghĩ cách lùa cả hai đàn nai vào khu vườn của hoàng gia, rồi đóng kín cửa lại.

Nhà vua đến xem đàn nai, thấy Nigrodha và Sakha đều là hai con nai vàng tuyệt đẹp nên ban lệnh miễn chết cho riêng hai nai chúa.

Tuy nhiên, mỗi ngày nhà vua hoặc người đầu bếp vẫn đến bắn một con nai làm thức ăn. Mỗi lần thấy cung tên, cả đàn nai đều hoảng loạn bỏ chạy. Nhiều con bị thương nhiều lần, đau đớn rồi mới chết.

Thấy đàn nai chịu quá nhiều khổ sở, nai chúa Nigrodha bàn với Sakha rằng mỗi ngày hai đàn nên thay phiên cử một con nai tự nguyện đến chỗ hành hình. Như vậy, chỉ một con phải chết mà những con khác không bị truy đuổi và thương tích.

Sakha đồng ý. Từ đó, mỗi ngày một con nai theo đúng phiên của mình đến đặt đầu lên chỗ hành hình, chờ người đầu bếp đến giết.

Nai cái mang thai cầu cứu

Một hôm, đến lượt một con nai cái đang mang thai thuộc đàn của Sakha phải chết.

Nai cái đến cầu xin Sakha cho mình được hoãn lại, vì nếu nó chết lúc này thì cả mẹ lẫn con trong bụng đều mất mạng. Nó chỉ xin được sống đến khi sinh con, sau đó sẽ chấp nhận đến phiên chịu chết.

Nhưng Sakha lạnh lùng từ chối, cho rằng không thể bắt một con nai khác chết thay. Nó buộc nai cái phải chấp nhận số phận.

Không còn nơi nương tựa, nai cái tìm đến nai chúa Nigrodha và trình bày hoàn cảnh của mình.

Nghe xong, Bồ-tát không bắt bất cứ con nai nào khác phải chết thay. Ngài quyết định tự mình hiến mạng để cứu nai mẹ và đứa con chưa chào đời.

Nai chúa Nigrodha đi đến chỗ hành hình, đặt đầu xuống và nằm chờ chết.

Sự hy sinh của nai chúa Nigrodha

Người đầu bếp đến nơi, nhận ra đây là nai chúa đã được nhà vua miễn chết nên vô cùng ngạc nhiên. Ông lập tức báo cho nhà vua.

Nhà vua cùng đoàn tùy tùng đến khu vườn và hỏi vì sao nai chúa lại nằm tại chỗ hành hình.

Bồ-tát giải thích rằng một con nai cái đang mang thai đến cầu xin được hoãn phiên chết. Ngài không thể ép một con nai vô tội khác phải chết thay, nên quyết định lấy chính mạng sống của mình để cứu cả nai mẹ lẫn nai con.

Nhà vua vô cùng cảm động. Ông nói rằng ngay giữa loài người, ông cũng chưa từng thấy ai có lòng nhẫn nại, hòa ái và từ bi lớn lao như nai chúa Nigrodha.

Nhà vua liền ban sự an toàn cho Bồ-tát và nai cái.

Tuy nhiên, Bồ-tát không chỉ nghĩ đến bản thân và nai mẹ. Ngài tiếp tục hỏi nhà vua về số phận của những con nai khác.

Nhà vua đồng ý tha chết cho toàn bộ đàn nai.

Bồ-tát lại hỏi đến các loài thú bốn chân khác. Nhà vua cũng ban sự an toàn cho chúng.

Ngài tiếp tục hỏi về các loài chim. Nhà vua đồng ý không giết hại chim chóc.

Cuối cùng, Bồ-tát hỏi đến các loài cá sống dưới nước. Nhà vua cũng tuyên bố bảo vệ chúng.

Như vậy, nhờ lòng từ bi và sự hy sinh của nai chúa Nigrodha, tất cả các loài sinh vật trong vương quốc đều được thoát khỏi nỗi sợ bị sát hại.

Nai chúa giáo hóa nhà vua

Sau khi cứu các loài vật, Bồ-tát khuyên nhà vua thọ trì năm giới và trị vì theo Chánh pháp.

Ngài dạy vua phải sống đúng pháp đối với cha mẹ, con cái, các bậc tu hành, người dân trong thành phố và dân chúng ở các vùng quê.

Người sống theo Chánh pháp, làm các việc thiện và bảo vệ chúng sinh sẽ được sinh về thiện thú sau khi mạng chung.

Nhà vua tiếp nhận lời khuyên. Bồ-tát ở lại khu vườn một thời gian để tiếp tục giáo hóa vua, sau đó dẫn đàn nai trở về rừng.

Lời dạy của nai mẹ

Nai cái được cứu sống về sau sinh một nai con xinh đẹp.

Nai con thường đến chơi với đàn nai của Sakha. Nai mẹ thấy vậy liền khuyên con không nên nương tựa Sakha, mà nên gần gũi nai chúa Nigrodha:

Sống với Nigrodha,
Chớ sống với Sakha.
Chết với Nigrodha,
Hơn sống với Sakha.

Lời kệ có nghĩa rằng thà hy sinh bên một người lãnh đạo có lòng từ bi, chính trực và sẵn sàng bảo vệ kẻ yếu, còn hơn sống bên người ích kỷ, lạnh lùng và bỏ mặc người gặp nạn.

Giải quyết việc nai ăn lúa

Sau khi được nhà vua ban sự an toàn, đàn nai đi lại tự do và đôi khi ăn lúa của dân chúng.

Dân chúng không dám đánh đuổi chúng vì biết nhà vua đã hứa bảo vệ loài nai. Họ đến hoàng cung trình bày sự việc.

Nhà vua tuyên bố rằng ông thà mất cả vương quốc chứ không phá bỏ lời hứa đã ban cho nai chúa Nigrodha.

Biết chuyện, Bồ-tát tập hợp đàn nai và nghiêm cấm chúng ăn lúa của người dân.

Ngài còn báo cho dân chúng rằng họ không cần dựng hàng rào quanh ruộng. Chỉ cần buộc các lá lúa lại làm dấu, đàn nai sẽ hiểu và không bước vào.

Từ đó, loài nai tôn trọng ruộng đồng của con người, còn con người cũng không làm hại loài nai. Người và vật cùng chung sống trong hòa bình dựa trên lòng tin và sự tôn trọng lẫn nhau.

Ý nghĩa giáo pháp

Lòng từ bi chân thật

Nai chúa Nigrodha không chỉ thương xót bằng lời nói mà sẵn sàng hy sinh mạng sống để cứu nai mẹ và đứa con chưa chào đời.

Từ bi chân thật là không muốn bất cứ chúng sinh nào phải đau khổ vì mình.

Người lãnh đạo phải bảo vệ kẻ yếu

Nai Sakha chỉ quan tâm đến nguyên tắc cứng nhắc và từ chối cứu nai cái. Trái lại, Nigrodha nhận lấy nguy hiểm về mình để bảo vệ thành viên yếu thế trong cộng đồng.

Một người lãnh đạo chân chính không chỉ có quyền lực mà phải có trách nhiệm, lòng công bằng và sự hy sinh.

Không lấy mạng người khác thay cho mình

Bồ-tát có thể yêu cầu một con nai khác chịu chết thay nai cái, nhưng Ngài không làm vậy. Ngài hiểu rằng cứu một người bằng cách đẩy đau khổ sang một người vô tội khác không phải là lòng từ bi trọn vẹn.

Sức mạnh cảm hóa của đức hạnh

Bồ-tát không chống lại nhà vua bằng bạo lực. Chính sự hy sinh, lòng từ bi và trí tuệ của Ngài đã khiến vua thay đổi hoàn toàn, từ một người ham săn bắn trở thành người bảo vệ muôn loài.

Tôn trọng lời hứa

Nhà vua tuyên bố thà mất vương quốc chứ không nuốt lời. Điều này thể hiện giá trị của sự chân thật và giữ chữ tín.

Quyền lợi phải đi đôi với trách nhiệm

Khi đàn nai được tự do nhưng lại ăn lúa của dân, Bồ-tát lập tức ngăn cấm. Ngài không lợi dụng lòng tốt của nhà vua và không để sự tự do của đàn nai gây thiệt hại cho con người.

Sự hòa hợp chỉ bền vững khi cả hai bên đều biết tôn trọng giới hạn và quyền lợi của nhau.

Hạnh Ba-la-mật được thể hiện

  • Từ bi: Bồ-tát thương xót nai mẹ, nai con và tất cả chúng sinh.

  • Bố thí: Ngài sẵn sàng bố thí chính mạng sống của mình.

  • Trì giới: Ngài khuyên vua giữ năm giới, đặc biệt là không sát sinh.

  • Nhẫn nhục: Ngài bình thản đối diện với cái chết mà không oán hận.

  • Chân thật: Ngài sống ngay thẳng và giúp nhà vua giữ trọn lời hứa.

  • Trí tuệ: Ngài tìm được cách giải quyết hài hòa giữa đàn nai và người trồng lúa.

  • Quyết định: Khi thấy điều đúng cần thực hiện, Ngài không do dự hy sinh bản thân.

Nhân vật tiền thân

  • Nai chúa Nigrodha: Tiền thân Đức Phật.

  • Nai Sakha: Đề-bà-đạt-đa.

  • Đàn nai của Sakha: Những người tùy tùng của Đề-bà-đạt-đa.

  • Nai cái mang thai: Vị Trưởng lão ni, mẹ của Cumarakassapa.

  • Nai con: Trưởng lão Cumarakassapa.

  • Vua Ba-la-nại: Tôn giả Ānanda.

Sự liên hệ giữa hiện tại và quá khứ

Trong hiện tại, Đức Phật dùng trí tuệ và lòng từ bi để bảo vệ, minh oan cho vị Tỷ-kheo-ni mang thai và giúp con trai bà có cơ hội trưởng thành trong Giáo pháp.

Trong quá khứ, khi còn là nai chúa Nigrodha, Bồ-tát cũng đã hy sinh mạng sống để bảo vệ chính hai mẹ con ấy.

Đề-bà-đạt-đa trong hiện tại vội vàng kết tội vị Tỷ-kheo-ni mà không điều tra. Trong tiền thân, khi là nai Sakha, ông cũng lạnh lùng từ chối bảo vệ nai cái đang mang thai.

Thông điệp cốt lõi

Giá trị của một người lãnh đạo được thể hiện rõ nhất khi đứng trước nỗi khổ của người yếu thế.

Lòng từ bi cao thượng không chỉ cứu một cá nhân mà có thể cảm hóa cả xã hội, chấm dứt bạo lực và đem lại sự an ổn cho muôn loài.

Thà nương tựa một người có lòng nhân từ và chính trực, dù phải đối mặt với hiểm nguy, còn hơn sống bên một người ích kỷ, vô cảm và bỏ rơi ta khi hoạn nạn.