Nikaya Tâm HọcCon đường tuệ giác
Nikaya Tâm HọcKinh điển, nghiên cứu và các khu vực chính
Kinh sáchKinh điển, sách và tài liệu học Phật
Danh mục đầy đủ
Thời Phật Tại ThếBản đồ, Cuộc đời Đức Phật và Album ảnh
Bỏ qua menu, tới nội dung chính
Nikaya Tâm HọcKinh điển • Đức Phật • Nghiên cứu
Thiên tử Candimasa
Nhân vật Phật học

Thiên tử Candimasa

1. Candimā, Candimasa, Canda.-The name of the devaputta whose abode (vimāna) is the moon (Canda), sometimes also called Candima. The moon is forty-nine leagues in diameter and appears in the world at the wish of the ābhassara Brahmas, who are the first inhabitants of the earth, hence its name (amhākam chandam ñatvā viya utthito, tasmā cando hotū ti) (VibhA.5...

202 lượt xem #779 mã dữ liệu Nam giới tính 04.11.2025 ngày khởi tạo 10.09.2026 cập nhật
Khám phá theo quan hệ: Bài viết Nhân vật Địa danh Sitemap tri thức
THÔNG TIN KHÁI QUÁT

Dữ liệu nhân vật

Xem kinh liên quan ↓
Giới tính
Nam
Mã dữ liệu
#779
Khởi tạo
04/11/2025
Cập nhật gần nhất
17/11/2025 19:28
Lượt xem
202
Trạng thái nội dung
Có nội dung chính
Tóm lược

1. Candimā, Candimasa, Canda.-The name of the devaputta whose abode (vimāna) is the moon (Canda), sometimes also called Candima. The moon is forty-nine leagues in diameter and appears in the world at the wish of the ābhassara Brahmas, who are the first inhabitants of the earth, hence its name (amhākam chandam ñatvā viya utthito, tasmā cando hotū ti) (VibhA.519; PsA.253). Candimā is also included among the Cātummahārājika devas because he lives in their world (E.g., Mahāniddesa Cty. 108). There are other devas besides Canda who dwell in the moon (D.ii.269).

1. Candimā, Candimasa, Canda. - Tên của vị Thiên Tử (devaputta) mà trú xứ (vimāna) là mặt trăng (Canda), đôi khi còn được gọi là Candima. Mặt trăng có đường kính bốn mươi chín dặm và xuất hiện trên thế gian theo ý muốn của các Phạm Thiên ābhassara, những cư dân đầu tiên của trái đất, do đó nó có tên là (amhākam chandam ñatvā viya utthito, tasmā cando hotū ti) (VibhA.519; PsA.253).

Candimā cũng được kể vào số chư thiên Cātummahārājika vì anh ta sống trong thế giới của họ (Ví dụ, Mahāniddesa Cty. 108). Ngoài Canda còn có các chư thiên khác sống trên mặt trăng (D.ii.269).

Theo truyện Bilārikosiya Jātaka (J.iv.63, 69), Sāriputta, sau khi bố thí, đã tái sinh làm Canda, trong khi trong truyện Sudhābhojana Jātaka (Jv382, 412), chính Moggallāna mới là người tái sinh làm Canda. Mặt trăng không thể di chuyển trên bầu trời nếu không có sự cho phép của Candimā, và ông có thể ngăn chặn chuyển động của nó theo ý muốn (Ví dụ, DhA.ii.143, 146; iii.97).

Người ta kể rằng có lần, khi Candimā bị Rāhu Asurinda bắt giữ, ông đã cầu khẩn Đức Phật bằng một bài kệ và Đức Phật đã xin Rāhu thả ông ra, và lời thỉnh cầu đó đã được chấp thuận (Si50). Vị thần Candimāsa được nhắc đến (Si51) là đã đến thăm Đức Phật có lẽ chính là Candimā. Mặt trăng được thờ phụng khi người ta mong muốn có con (Ví dụ, J.iv.1).

Truyện Sasa Jātaka (số 513) kể lại chi tiết câu chuyện về việc, do sự hy sinh của Bồ tát khi sinh ra là một con thỏ, Sakka đã vẽ hình một con thỏ trên mặt trăng, dấu hiệu này sẽ được nhìn thấy trong suốt kiếp này (Ji172).

1. Candimā, Candimasa, Canda.-The name of the devaputta whose abode (vimāna) is the moon (Canda), sometimes also called Candima. The moon is forty-nine leagues in diameter and appears in the world at the wish of the ābhassara Brahmas, who are the first inhabitants of the earth, hence its name (amhākam chandam ñatvā viya utthito, tasmā cando hotū ti) (VibhA.519; PsA.253).

Candimā is also included among the Cātummahārājika devas because he lives in their world (E.g., Mahāniddesa Cty. 108). There are other devas besides Canda who dwell in the moon (D.ii.269).

According to the Bilārikosiya Jātaka (J.iv.63, 69), Sāriputta, having once given alms, was born as Canda, while in the Sudhābhojana Jātaka (J.v.382, 412) it is Moggallāna who was so born. The moon cannot move in the sky without the permission of Candimā, and he can stop its movement at will (E.g., DhA.ii.143, 146; iii.97).

It is said that once, when Candimā was seized by Rāhu Asurinda, he invoked the Buddha in a verse and the Buddha asked Rāhu to set him at liberty, which request was granted (S.i.50). The deva Candimasa who is mentioned (S.i.51) as visiting the Buddha is probably identical with Candimā. The moon was worshipped when children were desired (E.g., J.iv.1).

The Sasa Jātaka (No.513) gives details of the story of how, as a result of the Bodhisatta's sacrifice when born as a hare, Sakka painted the figure of a hare on the moon, which sign will be seen throughout this kappa (J.i.172).

Wiki Tâm Học -Danh sách : Tương Ưng bộ .TU002 - Tập I - Chương Hai – Tương Ưng Thiên Tử

I. Candimasa

Tại Sàvatthi.
1) Rồi Thiên tử Candimasa, sau khi đêm đã gần mãn,với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, Thiên tử Candimasa nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
2)
Họ sẽ đi an toàn,
Như thú, vùng không muỗi,
Sau khi chứng Thiền định,
Nhứt tâm, niệm tỉnh giác,
Họ sẽ đi bờ kia,
Như cá, phá rách lưới,
Sau khi chứng Thiền định,
Tự chế, vượt lỗi lầm.

.

A HÀM

Xuất hiện trong các kinh A Hàm

Xem dạng thẻ →
Chưa có dữ liệu A Hàm liên kết.

Chưa có dữ liệu bản đồ cho nhân vật này.
KINH ĐIỂN Xuất hiện trong Nikaya

Xuất hiện ở nikaya khác ( tiểu bộ kinh )

TẠP A HÀM

Các bài kinh A Hàm có liên hệ với nhân vật





Đánh giá nội dungBài này hữu ích với bạn?/5 · 0 đánh giá
\n\n
ĐIỀU HƯỚNG TỪ DATABASE

Mạng liên kết nội dung

Liên kết bên dưới được dựng phía server từ các quan hệ đang có trong cơ sở dữ liệu Nikaya Tâm Học.

14liên kết