|
MỤC LỤC |
|
| [01a] |
CULLAVAGGA I (TIỂU PHẨM 1) I. CHƯƠNG HÀNH SỰ (KAMMAKKHANDHAKAṂ): 1. Hành sự khiển trách (Tajjanīyakammaṃ): [1] Câu chuyện về các tỳ khưu nhóm Paṇḍuka và Lohitaka 2. Hành sự chỉ dạy (Niyassakammaṃ): [43] Câu chuyện về tỳ khưu Seyyasaka 3. Hành sự xua đuổi (Pabbājanīyakammaṃ): [84] Câu chuyện về các tỳ khưu Assaji và Punabbasuka |
| [01b] | 4. Hành sự hòa giải (Paṭisāraṇīyakammaṃ):
[129] Câu chuyện về tỳ khưu Sudhamma 5. Hành sự án treo trong việc không nhìn nhận tội [174] Câu chuyện về tỳ khưu Channa 6. Hành sự án treo trong việc không sửa chữa lỗi [225] Câu chuyện về tỳ khưu Channa 7. Hành sự án treo trong việc không từ bỏ tà kiến ác [276] Câu chuyện về tỳ khưu Ariṭṭha |
| [02] | II. CHƯƠNG PARIVĀSA (PARIVĀSAKKHANDHAKAṂ):
1. Phận sự của vị thực hành parivāsa (Parivāsikavattaṃ): [320] Câu chuyện về vị thực hành parivāsa 2. Phận sự của vị xứng đáng (thực hành) trở lại từ đầu [334] Câu chuyện về các vị xứng đáng (thực hành) trở lại từ đầu 3. Phận sự của vị xứng đáng hành phạt mānatta (Mānattārahavattaṃ): [344] Câu chuyện về các vị xứng đáng hành phạt mānatta 4. Phận sự của vị thực hành mānatta (Mānattacārikavattaṃ): [354] Câu chuyện về các vị thực hành mānatta 5. Phận sự của vị xứng đáng sự giải tội (Abbhānārahavattaṃ): [368] Câu chuyện về vị tỳ khưu xứng đáng sự giải tội |
| [03a] | III. CHƯƠNG TÍCH LŨY TỘI (SAMUCCAYAKKHANDHAKAṂ):
[377] Câu chuyện về tỳ khưu Udāyi |
| [03b] | [440] Câu chuyện về vị tỳ khưu phạm nhiều tội [444] Việc ban cho hành phạt parivāsa kết hợp với giá trị (agghena samodhānaparivāsa) của tội che giấu dài ngày nhất [446] Câu chuyện về vị tỳ khưu phạm hai tội che giấu hai tháng chỉ xin hành phạt cho một tội [447] Việc cầu xin hành phạt parivāsa hai tháng cho tội còn lại [449] Giảng về các trường hợp thực hành parivāsa hai tháng [456] Giảng về trường hợp phạm tội che giấu hai tháng mà chỉ cầu xin hành phạt parivāsa một tháng [466] Câu chuyện về vị tỳ khưu phạm nhiều tội [467] Việc ban cho hành phạt parivāsa hoàn toàn trong sạch (suddhantaparivāsa) [471] Câu chuyện về vị tỳ khưu hoàn tục, v.v... Hành phạt parivāsa không có hiệu quả [480] Sự (thực hành) trở lại từ đầu, v.v... không có tác dụng đối với vị hoàn tục, v.v... [489] Giảng về hành phạt parivāsa kết hợp với tội trước đây [508] Giảng về trường hợp vị phạm tội, hoàn tục, v.v... rồi lại tu lên bậc trên [529] Giảng về trường hợp vị đang thực hành parivāsa, hoàn tục, v.v... rồi lại tu lên bậc trên [555] Giảng về trường hợp hai vị phạm tội [566] Không được trong sạch với các tội [575] Được trong sạch với các tội [584] Bài kệ tóm lược |
| [04] | IV. CHƯƠNG DÀN XẾP (SAMATHAKKHANDHAKAṂ):
1. Hành xử Luật với sự hiện diện (Sammukhāvinayo): [585] Câu chuyện về các tỳ khưu nhóm Lục Sư 2. Hành xử Luật bằng sự ghi nhớ (Sativinayo): [589] Câu chuyện về ngài Dabba Mallaputta 3. Hành xử Luật khi không điên cuồng (Amūḷhavinayo): [600] Câu chuyện về tỳ khưu Gagga 4. Việc phán xử theo tội đã được thừa nhận (Paṭiññātakaraṇaṃ): [608] Câu chuyện về các tỳ khưu nhóm Lục Sư 5. Thuận theo số đông (Yebhuyyasikā): [611] Chỉ định vị phân phát thẻ 6. Theo tội của vị ấy (Tassapāpiyasikā): [614] Câu chuyện về tỳ khưu Upavāḷa 7. Cách dùng cỏ che lấp (Tiṇavatthārakaṃ): [626] Giải quyết bằng cách dùng cỏ che lấp 8. Sự tranh tụng: [632] Câu chuyện về tỳ khưu Channa. Bốn loại tranh tụng 9. Chỉ định cách dàn xếp sự tranh tụng: [672] Sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi được lắng dịu bởi hai cách dàn xếp |
| [05] |
CULLAVAGGA II (TIỂU PHẨM 2) V. CHƯƠNG CÁC TIỂU SỰ (KHUDDAKAVATTHUKKHANDHAKAṂ): 1. Tụng phẩm thứ nhất và thứ nhì: [1] Câu chuyện về các tỳ khưu nhóm Lục Sư: Trong khi tắm. 2. Tụng phẩm thứ ba: [126] Câu chuyện bà Visākhā mẹ của Migāra |
| [06] | VI. CHƯƠNG SÀNG TỌA (SENĀSANAKKHANDHAKAṂ):
1. Tụng phẩm thứ nhất: [198] Ở thành Rājagaha. Câu chuyện nhà đại phú 2. Tụng phẩm thứ nhì: [241] Câu chuyện gia chủ Anāthapiṇḍika: Nghe danh đức Phật 3. Tụng phẩm thứ ba: [283] Câu chuyện về tỳ khưu Upananda chiếm giữ hai chỗ trú ngụ |
| [07] | VII. CHƯƠNG CHIA RẼ HỘI CHÚNG (SAṄGHABHEDAKKHANDHAKAṂ):
1. Tụng phẩm thứ nhất: [337] Câu chuyện Mahānāma và Anuruddha dòng Sākya, công việc gia đình 2. Tụng phẩm thứ nhì: [361] Devadatta xin cai quản hội chúng tỳ khưu 3. Tụng phẩm thứ ba: [389] Tiến hành chia rẽ hội chúng |
| [08] | VIII. CHƯƠNG PHẬN SỰ (VATTAKKHANDHAKAṂ):
1. Phận sự của tỳ khưu vãng lai (Āgantuka): [414] Câu chuyện về các tỳ khưu vãng lai 2. Phận sự của tỳ khưu thường trú (Āvāsika): [416] Câu chuyện về các tỳ khưu thường trú 3. Phận sự của vị xuất hành (Gamika): [418] Câu chuyện về các tỳ khưu xuất hành 4. Phận sự tùy hỷ: [420] Cho phép sự tùy hỷ ở chỗ thọ thực 5. Phận sự ở chỗ thọ thực: [424] Câu chuyện về các tỳ khưu nhóm Lục Sư 6. Phận sự của vị đi khất thực: [426] Câu chuyện về vị tỳ khưu đi khất thực 7. Phận sự của vị ngụ ở rừng: [428] Câu chuyện về vị tỳ khưu ở rừng 8. Phận sự ở nơi cư ngụ: [430] Câu chuyện về các tỳ khưu nhóm Lục Sư 9. Phận sự ở nhà tắm: [432] Câu chuyện về các tỳ khưu nhóm Lục Sư 10. Phận sự ở nhà vệ sinh: [434] Câu chuyện về vị tỳ khưu dòng dõi bà-la-môn 11. Phận sự đối với thầy tế độ: [438] Câu chuyện về các vị đệ tử (saddhivihārika) 12. Phận sự đối với đệ tử: [440] Câu chuyện về các thầy tế độ 13. Phận sự đối với thầy dạy học: [442] Câu chuyện về các học trò (antevāsika) 14. Phận sự đối với học trò: [444] Câu chuyện về các thầy dạy học |
| [09] | IX. CHƯƠNG ĐÌNH CHỈ GIỚI BỔN PĀTIMOKKHA (PĀTIMOKKHAṬṬHAPANAKKHANDHAKAṂ):
1. Tụng phẩm thứ nhất: [447] Câu chuyện trưởng lão Ānanda thỉnh đức Thế Tôn tuyên đọc giới bổn 2. Tụng phẩm thứ nhì: [499] Các câu hỏi của Upāli: Áp dụng sự hành xử |
| [10] | X. CHƯƠNG TỲ KHƯU NI (BHIKKHUNĪKHANDHAKAṂ):
1. Tụng phẩm thứ nhất: [513] Câu chuyện bà Mahāpajāpati Gotamī cầu xin việc xuất gia 2. Tụng phẩm thứ nhì: 3. Tụng phẩm thứ ba: [573] Hai mươi bốn pháp chướng ngại |
| [11] | XI. CHƯƠNG LIÊN QUAN NĂM TRĂM VỊ (PĀÑCASATIKAKKHANDHAKAṂ):
[614] Nguyên nhân của cuộc kết tập lần thứ nhất: Câu chuyện trưởng lão Mahākassapa và Subhadda |
| [12] | XII. CHƯƠNG LIÊN QUAN BẢY TRĂM VỊ (SATTASATIKKHANDHAKAṂ):
1. Tụng phẩm thứ nhất: [630] Câu chuyện về các tỳ khưu dòng dõi Vajji: Việc truyền bá mười sự việc 2. Tụng phẩm thứ nhì: [643] Các tỳ khưu Vajji chuẩn bị vật dụng để mua chuộc trưởng lão Revata |
-ooOoo-
PHẦN GIỚI THIỆU
*****
Cullavagga (Tiểu Phẩm) là phần thứ nhì của bộ Khandhaka (Hợp Phần) thuộc Vinayapiṭaka (Tạng Luật). Cũng tương tợ như Mahāvagga (Đại Phẩm), Cullavagga (Tiểu Phẩm) gồm các vấn đề có liên quan đã được sắp xếp thành từng chương, cụ thể gồm có 12 chương:
1. Chương đầu là chương Hành Sự đề cập đến bảy loại hành sự nhằm mục đích nhắc nhở và cảnh tỉnh vị tỳ khưu có những hành vi không đúng với Pháp không đúng với Luật hầu tạo điều kiện cho vị ấy có cơ hội phục thiện và sửa đổi. Bảy hành sự ấy là hành sự khiển trách, hành sự chỉ dạy, hành sự xua đuổi, hành sự hòa giải, và 3 loại hành sự án treo trong việc không nhìn nhận tội, trong việc không sửa chữa lỗi, và trong việc không từ bỏ tà kiến ác.
2. Chương 2 giảng giải về cách thức phục hồi cho vị tỳ khưu phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) từ lúc khởi đầu cho đến khi kết thúc trải qua các giai đoạn parivāsa, mānatta, mūlāya paṭikassanaṃ nếu vi phạm lại tội ấy hoặc tội tương tợ trong thời gian thực thi hành phạt, và cuối cùng là phần giải tội abbhāna để phục hồi phẩm vị trước đây cho vị tỳ khưu phạm tội.
3. Chương 3 giảng giải về các trường hợp đặc biệt của vị tỳ khưu trong khi đang thực thi các hành phạt để thoát khỏi tội saṅghādisesa lại tiếp tục vi phạm tội ấy nữa hoặc các tội tương tợ cùng nhóm.
4. Chương 4 giảng giải về bảy cách dàn xếp là cách hành xử Luật với sự hiện diện, hành xử Luật bằng sự ghi nhớ, hành xử Luật khi không điên cuồng, việc phán xử theo tội đã được thừa nhận, thuận theo số đông, theo tội của vị ấy, cách dùng cỏ che lấp đối với bốn loại tranh tụng là sự tranh tụng là liên quan đến tranh cãi, sự tranh tụng liên quan đến khiển trách, sự tranh tụng liên quan đến tội, và sự tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ.
5. Chương 5 là chương các Tiểu Sự đề cập đến nhiều vấn đề có liên quan đến sự sinh hoạt hàng ngày của vị tỳ khưu về nhiều khía cạnh khác nhau như cách phục sức, thuyết Pháp, các vật dụng, v.v...
6. Chương 6 là chương Sàng Tọa thuật lại việc dâng cúng 60 trú xá đầu tiên của một nhà đại phú ở thành Rājagaha cho đến sự cúng dường một tu viện hoàn chỉnh của ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc) và các vấn đề liên quan như việc xây dựng, cách thức sử dụng, và các sự phân công trong việc quản lý tu viện.
7. Chương thứ 7 là chương Chia Rẽ Hội Chúng bắt đầu với câu chuyện dài giới thiệu sự sinh hoạt trong một gia đình tiêu biểu của dòng họ Sākya (Thích Ca) tiếp đến sự xuất gia của sáu thanh niên thuộc dòng họ này trong đó có Devadatta về sau là người khởi xướng và tiến hành việc chia rẽ hội chúng. Chương này được kết thúc với những câu hỏi của trưởng lão Upāli để xác định những điểm khác biệt giữa sự bất đồng trong hội chúng là việc thường xảy ra trong tập thể và sự chia rẽ hội chúng là việc có tính chất nghiêm trọng. Nghiệp quả xấu dành cho kẻ chia rẽ hội chúng và phước báu của vị làm hợp nhất hội chúng đã bị chia rẽ cũng được đề cập đến ở chương này.
8. Chương thứ 8 giảng giải về 14 phận sự trong đời sống xuất gia. Cuộc sống của vị tỳ khưu được mô tả đầy đủ trong chương này bắt đầu với phận sự của vị tỳ khưu vãng lai, thường trú, hoặc chuẩn bị ra đi, luôn cả phận sự của vị tỳ khưu đối với chỗ trú ngụ ở trong rừng hoặc ở trong tu viện. Các phận sự thường nhật như đi khất thực, phận sự ở nhà ăn, tùy hỷ phước báu của thí chủ, việc sử dụng nhà tắm, nhà vệ sinh đều được mô tả chi tiết. Ngoài ra còn quy định các phận sự tương tác giữa thầy tế độ và thầy dạy học đối với các đệ tử hoặc học trò có liên hệ nữa. Cuộc sống chung có được tốt đẹp hay không chính là do sự nhận thức và thực hành các phận sự này của hàng xuất gia điển hình là các vị tỳ khưu.
9. Chương thứ 9 là chương Đình Chỉ Giới Bổn Pātimokkha, trình bày nguyên do việc đức Thế Tôn đã thuyết giảng về tám pháp kỳ diệu phi thường trong biển cả để so sánh với tính chất đặc biệt của Pháp và Luật mà Ngài đã tuyên thuyết, đồng thời có liên quan đến việc giao phó trách nhiệm đọc tụng giới bổn Pātimokkha cho các tỳ khưu kể từ thời điểm ấy trở đi. Phương thức đình chỉ giới bổn Pātimokkha nhằm để bảo vệ sự trong sạch của hội chúng bằng cách loại ra những tỳ khưu phạm tội nhưng vẫn che giấu hoặc tỏ ra không hay biết. Đặc biệt chương này còn đề cập đến nhiều chi tiết tế nhị trong việc khiển trách tội của vị tỳ khưu nguyên cáo và thái độ thích hợp của vị tỳ khưu bị cáo hầu giữ được hòa khí của hai bên.
10. Chương thứ 10 đề cập việc xuất gia của tỳ khưu ni với đầy đủ chi tiết bắt đầu với việc cầu xin xuất gia của bà Mahāpajāpati Gotamī sau đó đã được tu lên bậc trên do sự chấp thuận tám Trọng Pháp, kế đến là năm trăm công nương dòng Sākya được xuất gia với hội chúng tỳ khưu, tiếp nữa là tiến trình tu lên bậc trên với cả hai hội chúng: với hội chúng tỳ khưu ni trước rồi với hội chúng tỳ khưu sau. Trong trường hợp đặc biệt, hành sự tu lên bậc trên ở hội chúng tỳ khưu có thể được tiến hành với sự hiện diện của vị tỳ khưu ni là người đại diện. Ngoài ra, một số vấn đề nảy sinh có tính cách cá biệt của phái nữ cũng được kết tập ở chương này. Nghiên cứu kỹ lưỡng về chương này có thể nắm được nét chung về sự sinh hoạt của tỳ khưu ni vào thời bấy giờ.
11. Chương thứ 11 nói về cuộc kết tập Tam Tạng lần thứ nhất ở Ấn Độ. Ngoài những sử liệu liên quan đến công việc kết tập lời dạy của đức Phật gồm có phần duyên khởi, việc chuẩn bị và tiến hành, chương này còn đề cập đến lời tuyên bố của đại đức Purāṇa về việc vị ấy chỉ ghi nhận những lời dạy do chính bản thân đã được nghe trực tiếp từ kim khẩu của đức Thế Tôn, về việc các vị trưởng lão quyết định không thêm vào và không bỏ bớt bất cứ điều học nào, sự tuân thủ của đại đức Ānanda đối với các bậc trưởng lão, và cách thức áp dụng hình phạt Brahma (Phạm đàn).
12. Chương thứ 12 nói về lần kết tập Tam Tạng lần thứ nhì ở Ấn Độ với phần duyên khởi ở Vesālī vào khoảng 100 năm sau khi đức Phật Vô Dư Niết Bàn. Các chi tiết về tiến trình vận động của cả hai phe trong cuộc tranh tụng này giúp cho độc giả biết được vài nét khái quát trong đời sống sinh hoạt tinh thần vào thời bấy giờ. Đây là sự kiện chia phe nhóm thứ hai sau lần ở Kosambī được ghi chép lại, tiếc rằng sử liệu này dừng ở thời điểm kết thúc của lần kết tập này mà không tiết lộ thêm chi tiết nào về sự phân chia tông phái về sau này.
*
Chúng tôi khởi đầu việc nghiên cứu phần Pāli văn của Tam Tạng với tập Cullavagga (Tiểu Phẩm) do nhu cầu tìm tòi tư liệu dẫn chứng về sự hình thành tu viện thời đức Phật. Chúng tôi chợt nảy ra ý kiến ghi lại bằng tiếng Việt ngõ hầu giúp cho độc giả người Việt có cơ hội biết thêm về những lời dạy cao quý của đức Phật trong những trang sách còn được khép lại. Việc này đã đem lại cho chúng tôi niềm hoan hỷ khi nghĩ rằng việc học tập của bản thân có thể đem lại phần nào lợi ích cho người khác. Phần lời Việt được hoàn tất trong thời gian khoảng gần hai tháng. Thời gian đó quá ngắn đối với số lượng công việc quá lớn lao trong lúc vừa phải đọc sách tham khảo, tra cứu từ điển, và thực hiện việc ghi lại bằng máy vi tính. Lời văn tiếng Việt được chúng tôi sử dụng rất gần với cấu trúc của câu văn Pāli nhằm làm nổi bật cấu trúc văn phạm của loại ngôn ngữ này theo phong cách cổ điển đã được đa số các nhà học giả phương Tây áp dụng. Điều này sẽ thuận tiện cho việc hiệu đính về sau và có thể hữu ích cho các độc giả đang nghiên cứu lời dạy của Đức Phật dựa vào văn bản gốc.
Do những vấn đề đã trình bày ở trên, chúng tôi mong mỏi sẽ nhận được những lời chỉ dạy của các bậc cao minh và các sự khuyến khích góp ý của quý độc giả. Tuy đã nỗ lực kiểm tra lại nhiều lần nhưng chúng tôi biết rằng bản dịch này vẫn còn nhiều sai sót, xin quý độc giả đánh dấu cho những điểm cần sửa chữa và tùy duyên chuyển đến chúng tôi qua địa chỉ email: [email protected] để chúng tôi dễ dàng trong việc hiệu đính hầu đem lại lợi ích thiết thực chung cho tất cả. Xin thành tâm cảm tạ.
Bản dịch của chúng tôi được thực hiện và trình bày theo văn bản Pāli La tinh từ Compact Disk BUDSIR IV của trường đại học Mahidol ở thủ đô Bangkok, Thái Lan. Phần mục lục chúng tôi thực hiện theo các chữ số đánh dấu ở đầu mỗi vấn đề; trình bày theo cách này sẽ giúp quý vị tiết kiệm được thời gian trong việc xác định vấn đề cần tham khảo.
Xin chân thành ghi nhận công đức của Thượng Toạ Tiến Sĩ Bửu Chánh về CD Tam Tạng BUDSIR IV, Ven. Bodhinando (Canada), Đại Đức Hộ Phạm, Đại Đức Giác Hạnh, và Đại Đức Tâm An về CD Tam Tạng Chattha Saṅgāyana và các bản dịch Anh ngữ cũng như những sự động viên và ý kiến đóng góp trong thời gian chúng tôi thực hiện bản dịch này.
Công đức này xin dâng đến Hòa Thượng trụ trì và chư Tăng chùa Sri Jayawardhanaramaya, Colombo, Tích Lan đã bảo bọc và tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi trong công việc học tập và nghiên cứu Phật Pháp trong thời gian qua.
Mong sao hết thảy chúng sanh đều được tiến hóa trong ánh hào quang của Chánh Pháp.
Colombo, ngày 15 tháng 09 năm 2003
Bhikkhu Indacanda
(Trương đình Dũng)
(Hiệu đính lần thứ nhất hoàn tất ngày 30/07/2004)
-ooOoo-

Mốc I : Hoàn cảnh trước khi Phật ra đời
Mốc II : Sự kiện Phật đản sanh
Mốc III: Giai đoạn tuổi thơ của Bồ tát Tất Đạt Đa
Mốc IV : Giai đoạn trưởng thành - xuất gia
Mốc V : Tầm đạo
Mốc VI : Thành đạo
Mốc VII: Những vị đệ tử đầu tiên
Mốc VIII : Tăng đoàn lớn mạnh
Mốc IX: Mười ba năm cuối cuộc đời Đức Phật
Mốc X : Đức Phật nhập niết bàn