Nikaya Tâm HọcCon đường tuệ giác
Nikaya Tâm HọcKinh điển, nghiên cứu và các khu vực chính
Kinh sáchKinh điển, sách và tài liệu học Phật
Danh mục đầy đủ
Thời Phật Tại ThếBản đồ, Cuộc đời Đức Phật và Album ảnh
Bỏ qua menu, tới nội dung chính
Nikaya Tâm HọcKinh điển • Đức Phật • Nghiên cứu
Tiểu bộ - Kinh tập - Chương Một . Phẩm Rắn Uragavagga - KT004. (IV) Kinh Bhàradvàja, Người Cày Ruộng (Sn 12)
Bài viết chuyên đề

Tiểu bộ - Kinh tập - Chương Một . Phẩm Rắn Uragavagga - KT004. (IV) Kinh Bhàradvàja, Người Cày Ruộng (Sn 12)

(IV) Kinh Bhàradvàja, Người Cày Ruộng (Sn 12) Như vầy tôi nghe: Một thời Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Magadha, tại núi Dakkhinàgini, trong một làng Bà-la-môn tên Ekanàlà. Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Kasibhàradvàja có khoảng năm trăm lưỡi cày sẵn sàng, vì là thời gieo mạ. Rồi Thế Tôn, vào buổi sáng đắp y, cầm bát đi đến chỗ Bà-la-môn Kasibhàradvàja đang làm việc....

309 lượt xem #1447 mã dữ liệu 28.12.2023 ngày khởi tạo 14.09.2026 cập nhật
Khám phá theo quan hệ: Bài viết Nhân vật Địa danh Sitemap tri thức
Tiểu bộ - Kinh tập - Chương Một . Phẩm Rắn Uragavagga - KT004. (IV) Kinh Bhàradvàja, Người Cày Ruộng (Sn 12)

Thông tin căn bản

ID dữ liệu
1447
Bộ / nhóm
Kinh Tập ( Tiểu Bộ Nikaya)
Ngày khởi tạo
28/12/2023
Số lần chỉnh sửa
0
Tên gọi / ký hiệu khác

(IV) Kinh Bhàradvàja, Người Cày Ruộng (Sn 12) Như vầy tôi nghe: Một thời Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Magadha, tại núi Dakkhinàgini, trong một làng Bà-la-môn tên Ekanàlà. Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Kasibhàradvàja có khoảng năm trăm lưỡi cày sẵn sàng, vì là thời gieo mạ. Rồi Thế Tôn, vào buổi sáng đắp y, cầm bát đi đến chỗ Bà-la-môn Kasibhàradvàja đang làm việc. Lúc bấy giờ Bà-la-môn Kasibhàradvàja đang phân phát đồ ăn. Rồi Thế Tôn đi đến chỗ phân phát đồ ăn, sau khi đến, Ngài đứng một bên, Bà-la-môn Kasibhàradvàja thấy Thế Tôn đang đứng một bên để khất thực, liền nói với Thế Tôn:

NGHE & XEM

Media liên quan

Hiển thị toàn bộ media đang liên kết với bài kinh, không chỉ vị trí Audio số 1.

AudioADDG

1451.018_kinh-tap-chuong-mot-pham-ran-urgavagga

Audio

1451.018_kinh-tap-chuong-mot-pham-ran-urgavagga.mp3

AudioADDG

1451.019_kinh-tap-chuong-mot-pham-ran-urgavagga-tt

Audio

1451.019_kinh-tap-chuong-mot-pham-ran-urgavagga-tt.mp3

NỘI DUNG

Tiểu bộ - Kinh tập - Chương Một . Phẩm Rắn Uragavagga - KT004. (IV) Kinh Bhàradvàja, Người Cày Ruộng (Sn 12)

Chế độ đọc tối ưu Nội dung giữ nguyên từ database Nghe / xem media
Nội dung bài viết

Tiểu bộ - Kinh tập - Chương Một . Phẩm Rắn Uragavagga - KT004. (IV) Kinh Bhàradvàja, Người Cày Ruộng (Sn 12)

(IV) Kinh Bhàradvàja, Người Cày Ruộng (Sn 12)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Magadha, tại núi Dakkhinàgini, trong một làng Bà-la-môn tên Ekanàlà. Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Kasibhàradvàja có khoảng năm trăm lưỡi cày sẵn sàng, vì là thời gieo mạ. Rồi Thế Tôn, vào buổi sáng đắp y, cầm bát đi đến chỗ Bà-la-môn Kasibhàradvàja đang làm việc. Lúc bấy giờ Bà-la-môn Kasibhàradvàja đang phân phát đồ ăn. Rồi Thế Tôn đi đến chỗ phân phát đồ ăn, sau khi đến, Ngài đứng một bên, Bà-la-môn Kasibhàradvàja thấy Thế Tôn đang đứng một bên để khất thực, liền nói với Thế Tôn:

– Này Sa-môn, ta cày và ta gieo, sau khi cày, sau khi gieo, ta ăn. Và Sa-môn, hãy cày và gieo. Sau khi cày và gieo, hãy ăn!

– Này Bà-la-môn, Ta cũng cày và cũng gieo. Sau khi cày và sau khi gieo, Ta ăn.

– Nhưng chúng tôi không thấy cái ách, hay cái cày, hay lưỡi cày, hay gậy thúc trâu bò, hay các con bò đực của Tôn giả Gotama. Vậy mà Tôn giả Gotama nói: “Này Bà-la-môn, Ta có cày và Ta có gieo. Sau khi cày và sau khi gieo, Ta ăn “.

Rồi Bà-la-môn Kasibhàradvàja nói lên với Thế Tôn bài kệ:

Bhàradvàja:

76. Người tự nhận Người cày,

Ta không thấy Người cày,

Hãy trả lời chúng tôi,

Ðã hỏi về Người cày,

Chúng tôi muốn rõ biết,

Người cày như thế nào?

Thế Tôn:

77. Lòng tin là hột giống,

Khổ hạnh là cơn mưa,

Trí tuệ đối với Ta

Là ách và lưỡi cày,

Xấu hổ là cán cày,

Ý là sợi dây buộc,

Và niệm đối với Ta

Là lưỡi cày, gậy thúc.

78. Với thân khéo phòng hộ,

Với lời khéo phòng hộ,

Với món ăn trong bụng,

Biết tiết độ, chế ngự,

Ta tác thành chơn thực,

Ðể cắt dọn cỏ rác,

Sự giải thoát của Ta

Thật hiền lành nhu thuận.

79. Với tinh cần tinh tấn,

Ta gánh chịu trách nhiệm,

Ta tự mình đem lại

An ổn khỏi khổ ách.

Như vậy, Ta đi tới,

Không trở ngại thối lui,

Chỗ nào Ta đi tới,

Chỗ ấy không sầu muộn.

80. Cày bừa là như vậy,

Ðược quả là bất tử,

Sau cày bừa như vậy,

Mọi khổ được giải thoát.

Rồi Bà-la-môn Kasibhàradvàja lấy một bát bằng đồng lớn, cho đổ đầy với cháo sữa dâng đức Phật và thưa:

– Thưa Tôn giả Gotama, hãy dùng cháo sữa, Tôn giả là người đi cày! Tôn giả Gotama đi cày quả bất tử!

Thế Tôn:

81. Ta không hưởng vật dụng,

Do tụng kệ đem lại,

Ðây không phải là pháp,

Của bậc có chánh kiến

Chư Phật đều bác bỏ,

Tụng hát các bài kệ,

Khi pháp có hiện hữu,

Truyền thống là như vậy.

82. Hỡi này Bà-la-môn,

Người cần phải cúng dường,

Ðồ ăn vật uống khác,

Bậc đại sĩ toàn diện,

Ðã đoạn các lậu hoặc,

Ðã lắng dịu dao động,

Ta chính là thửa ruộng,

Cho những ai cầu phước.

– Vậy, thưa Tôn giả Gotama, con sẽ cho ai cháo sữa này?

– Này Bà-la-môn, Ta không thấy ai ở thế giới, với chư Thiên, chư Ma, chư Phạm thiên, hay trên đời này với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, với chư Thiên và loài Người, có thể sau khi ăn, tiêu hóa được món cháo sữa này, trừ Như Lai hay đệ tử của Như Lai. Vậy, này Bà-la-môn, Ông hãy đổ cháo sữa này trên chỗ không có cỏ xanh, hay nhận chìm trong nước không có sinh vật.

Rồi Bà-la-môn Kasibhàradvàja đem nhận chìm cháo sữa ấy vào nước không có sinh vật. Cháo sữa ấy khi bị đổ xuống nước, nó sôi lên, sôi lên sùng sục, nó phun khói, nó bốc khói lên. Ví như một lưỡi cày, phơi cả ngày dưới ánh nắng, được đem quăng xuống nước, lưỡi cày ấy sôi lên sùng sục, nó phun khói, nó bốc khói lên. Cũng vậy, cháo sữa ấy, khi bị đổ xuống nước, nó sôi lên, sôi lên sùng sục, nó phun khói, nó bốc khói lên. Rồi Bà-la-môn Kasibhàradvàja hoảng hốt, rợn tóc gáy, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, và bạch Thế Tôn:

– Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama! Ví như, thưa Tôn giả Gotama, một người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, mở toang ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ đi lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối, để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, pháp được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày. Con xin qui y Tôn giả Gotama, qui y Pháp, qui y chúng Tỷ-kheo. Mong rằng con được xuất gia với Tôn giả Gotama, được thọ đại giới.

Rồi Bà-la-môn Kasibhàradvàja được xuất gia với Sa-môn Gotama, được thọ đại giới. Thọ đại giới không bao lâu, Tôn giả Bhàradvàja sống một mình, viễn ly, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. Không bao lâu, do vì mục đích gì, bậc thiên nam tử chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, vị ấy ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú cứu cánh Phạm hạnh ấy. Vị ấy thắng tri: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa “. Tôn giả Bhàradvàja trở thành một vị A-la-hán.

DATABASE-FIRST

Liên hệ dữ liệu của bài kinh

Chỉ hiển thị những quan hệ thực sự có trong dữ liệu hiện tại; không tự suy diễn thêm.

Bộ / nhóm bài viết
Tài nguyên đã liên kết
0 menu nhóm kinh 2 media
Tiếp tục khám phá

Đọc tiếp & nội dung liên quan

Kinh Tập ( Tiểu Bộ Nikaya) →
Đánh giá nội dungBài này hữu ích với bạn?/5 · 0 đánh giá
ĐIỀU HƯỚNG TỪ DATABASE

Mạng liên kết nội dung

Liên kết bên dưới được dựng phía server từ các quan hệ đang có trong cơ sở dữ liệu Nikaya Tâm Học.

13liên kết

Chủ đề / nhóm bài

1 mục

Mở danh sách nội dung cùng nhóm đã có của website.