Mục lục nhân vật
Trưởng lão Singàlar-Pitar
Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh trong gia đình giàu có ở Sàvatthi, lập gia đình và đặt tên con là Singàlaka và tự mình được gọi là Singàla-pitar (cha của Singàla). Về sau ngài từ bỏ gia đình và xuất gia. Thế Tôn biết được căn cơ xu hướng của ngài, dạy ngài đề tài thiền quán là bộ xương người. Dùng đề tài này để thiền quán, ngài sống giữa các dòng họ...
Dữ liệu nhân vật
- Giới tính
- Nam
- Mã dữ liệu
- #922
- Khởi tạo
- 11/11/2025
- Cập nhật gần nhất
- 17/11/2025 17:34
- Lượt xem
- 182
- Trạng thái nội dung
- Có nội dung chính
Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh trong gia đình giàu có ở Sàvatthi, lập gia đình và đặt tên con là Singàlaka và tự mình được gọi là Singàla-pitar (cha của Singàla). Về sau ngài từ bỏ gia đình và xuất gia. Thế Tôn biết được căn cơ xu hướng của ngài, dạy ngài đề tài thiền quán là bộ xương người. Dùng đề tài này để thiền quán, ngài sống giữa các dòng họ Thích-ca ở Sumsumàragira, tại khu rừng Bhesaskalà. Trong rừng ấy, một thần rừng biết được ngài sẽ chứng được Thánh quả nên nói lên bài kệ này:
-
Sigālakapitā (Singālaka-) Thera
He was a householder of Sāvatthi and had a son called Sigālaka. Later he entered the Order, and the Buddha asked him to meditate on the idea of a skeleton. He lived in the Bhesakalāvana in Sumsumāragiri, and there a woodland sprite once encouraged him with a verse (Thag.vs.18). Thus, urged to strive, he developed insight and became an arahant.
Ninety four kappas ago he had given a tāla fruit to the Pacceka Buddha Sataramsī. In the time of Kassapa Buddha he was a monk and developed meditation on the idea of a skeleton. ThagA.i.70f.
-
Sigālakapitā (Singālaka-) Thera
Ngài là một gia chủ ở Sāvatthi và có một người con trai tên là Sigālaka. Sau đó, ngài xuất gia, và Đức Phật yêu cầu ngài thiền định về ý niệm bộ xương. Ngài sống tại Bhesakalāvana ở Sumsumāragiri , và ở đó, một vị thần rừng đã khuyến khích ngài bằng một bài kệ (Thag.vs.18). Nhờ sự thúc đẩy tinh tấn, ngài đã phát triển tuệ giác và đắc quả A-la-hán.
Chín mươi bốn kiếp trước, ngài đã cúng dường quả Tala cho Đức Phật Độc Giác Sataramsī. Vào thời Đức Phật Kassapa, ngài là một vị tỳ kheo và đã phát triển thiền định về ý niệm bộ xương. ThagA.i.70f.
Wiki Tâm Học -Danh sách : Trưởng lão tăng kệ - Phần 018 - Chương 1 : (XVIII) Singàlar-Pitar (Thera. 5)
(XVIII) Singàlar-Pitar (Thera. 5)
Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh trong gia đình giàu có ở Sàvatthi, lập gia đình và đặt tên con là Singàlaka và tự mình được gọi là Singàla-pitar (cha của Singàla). Về sau ngài từ bỏ gia đình và xuất gia. Thế Tôn biết được căn cơ xu hướng của ngài, dạy ngài đề tài thiền quán là bộ xương người. Dùng đề tài này để thiền quán, ngài sống giữa các dòng họ Thích-ca ở Sumsumàragira, tại khu rừng Bhesaskalà. Trong rừng ấy, một thần rừng biết được ngài sẽ chứng được Thánh quả nên nói lên bài kệ này:
18. Hãy nhìn trong khu rừng,
Rừng Bhesakala!
Một Tỷ-kheo đang sống,
Thừa tự lời Phật dạy,
Ngang thân địa đại này,
Tỏa khắp tưởng bộ xương.
Ta nghĩ Tỷ-kheo ấy,
Mau đoạn tận dục tham.
Nghe bài kệ này, vị Trưởng lão nghĩ rằng: ‘Vị thần rừng này muốn ta cố gắng tu tập’, nên ngài phát triển thiền quán và chứng quả A-la-hán. Về sau, ngài nhớ lại bài kệ của thần rừng này và nói lên lại bài kệ ấy như là lời tuyên bố về chánh trí của ngài.
.
.
Xuất hiện ở nikaya khác ( tiểu bộ kinh )
Các bài kinh A Hàm có liên hệ với nhân vật
Báo lỗi nội dung
Chọn vấn đề bạn phát hiện. Quản trị viên sẽ nhận báo cáo kèm đúng trang hiện tại.
Mạng liên kết nội dung
Liên kết bên dưới được dựng phía server từ các quan hệ đang có trong cơ sở dữ liệu Nikaya Tâm Học.
Kinh & bài có nhân vật
1 mụcCác bài/Kinh liên kết trực tiếp với nhân vật này.
Nhóm nhân vật
1 mụcMở danh sách nhân vật cùng nhóm hiện hữu.

Mốc I : Hoàn cảnh trước khi Phật ra đời
Mốc II : Sự kiện Phật đản sanh
Mốc III: Giai đoạn tuổi thơ của Bồ tát Tất Đạt Đa
Mốc IV : Giai đoạn trưởng thành - xuất gia
Mốc V : Tầm đạo
Mốc VI : Thành đạo
Mốc VII: Những vị đệ tử đầu tiên
Mốc VIII : Tăng đoàn lớn mạnh
Mốc IX: Mười ba năm cuối cuộc đời Đức Phật
Mốc X : Đức Phật nhập niết bàn