Mục lục nhân vật
Thượng tọa Sarabhanga ( người nhổ lau)
2. Thượng tọa Sarabhanga. Ngài xuất thân từ một gia đình Bà-la-môn ở Rājagaha , và được đặt tên theo truyền thống gia đình. Khi lớn lên, ngài trở thành một nhà tu khổ hạnh, và dựng cho mình một túp lều bằng những thân lau sậy mà ngài đã chặt bỏ - do đó ngài có tên là Sarabhanga (Người nhổ lau). Đức Phật thấy nơi ông những điều kiện của quả vị A-la-hán, bèn đ...
Dữ liệu nhân vật
- Giới tính
- Nam
- Mã dữ liệu
- #1022
- Khởi tạo
- 14/11/2025
- Cập nhật gần nhất
- 17/11/2025 16:45
- Lượt xem
- 204
- Trạng thái nội dung
- Có nội dung chính
2. Thượng tọa Sarabhanga. Ngài xuất thân từ một gia đình Bà-la-môn ở Rājagaha , và được đặt tên theo truyền thống gia đình. Khi lớn lên, ngài trở thành một nhà tu khổ hạnh, và dựng cho mình một túp lều bằng những thân lau sậy mà ngài đã chặt bỏ - do đó ngài có tên là Sarabhanga (Người nhổ lau). Đức Phật thấy nơi ông những điều kiện của quả vị A-la-hán, bèn đến gặp và thuyết giảng Giáo Pháp. Ông lắng nghe và gia nhập Tăng đoàn, đắc quả A-la-hán đúng thời. Ông tiếp tục sống trong túp lều của mình cho đến khi nó mục nát và đổ nát, và khi được hỏi tại sao ông không sửa chữa nó, ông trả lời rằng ông đã chăm sóc nó trong thời gian tu hành khổ hạnh, nhưng bây giờ ông không có thời gian cho những việc đó. Sau đó, ông tuyên bố tuệ giác của mình bằng một loạt các bài kệ. ThagA.i.480 f. Những bài kệ này được tìm thấy trong Thag.vs.487 93.
2. Sarabhanga Thera. He belonged to a brahmin family of Rājagaha, and was given a name according to the family traditions. When he grew up, he became an ascetic, and made a hut for himself of reed stalks, which he had broken off - hence his name, Sarabhanga (Reed plucker).
The Buddha saw in him the conditions of arahantship, and went to him and taught the Dhamma. He listened and joined the Order, attaining arahantship in due course. He continued to live in his hut till it decayed and crumbled away, and, when asked why he did not repair it he answered that he had looked after it during his ascetic practices, but that now he had no time for such things. He then declared his aññā in a series of verses. ThagA.i.480 f. These verses are found in Thag.vs.487 93.
2. Thượng tọa Sarabhanga. Ngài xuất thân từ một gia đình Bà-la-môn ở Rājagaha , và được đặt tên theo truyền thống gia đình. Khi lớn lên, ngài trở thành một nhà tu khổ hạnh, và dựng cho mình một túp lều bằng những thân lau sậy mà ngài đã chặt bỏ - do đó ngài có tên là Sarabhanga (Người nhổ lau).
Đức Phật thấy nơi ông những điều kiện của quả vị A-la-hán, bèn đến gặp và thuyết giảng Giáo Pháp. Ông lắng nghe và gia nhập Tăng đoàn, đắc quả A-la-hán đúng thời. Ông tiếp tục sống trong túp lều của mình cho đến khi nó mục nát và đổ nát, và khi được hỏi tại sao ông không sửa chữa nó, ông trả lời rằng ông đã chăm sóc nó trong thời gian tu hành khổ hạnh, nhưng bây giờ ông không có thời gian cho những việc đó. Sau đó, ông tuyên bố tuệ giác của mình bằng một loạt các bài kệ. ThagA.i.480 f. Những bài kệ này được tìm thấy trong Thag.vs.487 93.
(CCXXVIII) Sarabhanga (Thera. 50)
Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh tại Ràjagaha (Vương Xá), con của một Bà-la-môn, ngài có thể được đặt tên, độc lập hay không độc lập với truyền thống gia đình, ngài không có đặc điểm gì để đặt tên. Khi đến tuổi trưởng thành, ngài trở thành một ẩn sĩ, tự dựng một thảo am, làm bằng cọng cây lau mà tự ngài bẻ gãy, và từ đấy ngài được biết với tên là Sara-Bhanga, (người bẻ gãy cọng cây lau). Thế Tôn với Phật nhãn nhìn quanh thế giới, thấy được nơi ngài những điều kiện để thành vị A-la-hán. Thế Tôn đi đến thuyết pháp cho ngài. Và ngài khởi lòng tin, trở thành một vị xuất gia, sau một thời gian trở thành vị A-la-hán, ngài vẫn tiếp tục ở thảo am. Thảo am dần dần hư nát và sụp đổ xuống, dân chúng hỏi ngài sao không dựng thảo am lại, ngài trả lời, khi thảo am được dựng lên, ngài còn ẩn sĩ. Nhưng nay ngài không thể làm được như vậy nữa. Rồi ngài nói lên toàn bộ vấn đề như sau:
487. Tay bẻ những cây lau,
Ta làm am ta ở,
Do vậy, được tên tục:
‘Người bẻ gãy cây lau’.
488. Nay không còn thích hợp,
Tự tay bẻ cây lau,
Theo học giới giảng dạy,
Gotama danh xưng.
489. Chính Sara-bhanga,
Từ trước chưa từng thấy,
Thấy chứng bệnh toàn diện,
Một cách thật đầy đủ.
Bệnh ấy nay được thấy,
Do lời bậc siêu thiên.
490. Chính đường ấy đã đi,
Vibassì, Sikhi,
Kể cả Vessabhu,
Với Kakusandha,
Konàgamana.
Chính với con đường ấy,
Gotama đã đến.
491. Ly ái, không chấp thủ,
Bảy Phật chứng Niết-bàn,
Pháp này được thuyết giảng,
Bởi các vị chứng Pháp.
492. Vì từ mẫn chúng sanh,
Bốn sự thật được giảng,
Khổ, khổ tập, con đường,
Diệt, chấm dứt khổ đau.
493. Trong đời sống liên tục,
Khổ luân chuyển không dứt,
Khi thân này bị hoại,
Khi mạng sống cáo chung,
Tái sanh khác không còn,;
Ta thật, khéo giải thoát,
Giải thoát mọi sanh y.
Xuất hiện ở nikaya khác ( tiểu bộ kinh )
Các bài kinh A Hàm có liên hệ với nhân vật
Báo lỗi nội dung
Chọn vấn đề bạn phát hiện. Quản trị viên sẽ nhận báo cáo kèm đúng trang hiện tại.
Mạng liên kết nội dung
Liên kết bên dưới được dựng phía server từ các quan hệ đang có trong cơ sở dữ liệu Nikaya Tâm Học.
Kinh & bài có nhân vật
1 mụcCác bài/Kinh liên kết trực tiếp với nhân vật này.
Nhóm nhân vật
1 mụcMở danh sách nhân vật cùng nhóm hiện hữu.

Mốc I : Hoàn cảnh trước khi Phật ra đời
Mốc II : Sự kiện Phật đản sanh
Mốc III: Giai đoạn tuổi thơ của Bồ tát Tất Đạt Đa
Mốc IV : Giai đoạn trưởng thành - xuất gia
Mốc V : Tầm đạo
Mốc VI : Thành đạo
Mốc VII: Những vị đệ tử đầu tiên
Mốc VIII : Tăng đoàn lớn mạnh
Mốc IX: Mười ba năm cuối cuộc đời Đức Phật
Mốc X : Đức Phật nhập niết bàn