Mục lục nhân vật
Sabbamitta Thera
1. Sabbamitta Thera. Ngài thuộc một gia đình Bà-la-môn ở Sāvatthi, và gia nhập Tăng đoàn sau khi chứng kiến Đức Phật chấp nhận Jetavana. Ngài sống trong rừng, thiền định. Một lần, trên đường đến Sāvatthi để đảnh lễ Đức Phật, ngài nhìn thấy một con nai con bị mắc vào lưới của người bẫy thú. Con nai cái, mặc dù không bị mắc lưới, vẫn ở gần đó, vì thương con...
Dữ liệu nhân vật
- Giới tính
- Nam
- Mã dữ liệu
- #1012
- Khởi tạo
- 13/11/2025
- Cập nhật gần nhất
- 17/11/2025 16:53
- Lượt xem
- 158
- Trạng thái nội dung
- Có nội dung chính
1. Sabbamitta Thera. Ngài thuộc một gia đình Bà-la-môn ở Sāvatthi, và gia nhập Tăng đoàn sau khi chứng kiến Đức Phật chấp nhận Jetavana. Ngài sống trong rừng, thiền định. Một lần, trên đường đến Sāvatthi để đảnh lễ Đức Phật, ngài nhìn thấy một con nai con bị mắc vào lưới của người bẫy thú. Con nai cái, mặc dù không bị mắc lưới, vẫn ở gần đó, vì thương con của mình, nhưng không dám đến gần bẫy. Thera rất xúc động khi nghĩ đến tất cả những đau khổ do tình yêu gây ra. Xa hơn, ngài thấy bọn cướp quấn rơm một người đàn ông mà chúng đã bắt được và chuẩn bị thiêu sống. Thera tràn ngập đau khổ, và phát triển tuệ giác, chứng đắc quả A-la-hán. Trong nỗi đau khổ của mình, ngài đã đọc lên hai bài kệ được bao gồm trong Thag. 149 50. Ngài thuyết giảng cho bọn cướp và chúng gia nhập Tăng đoàn dưới sự chỉ đạo của ngài.
1. Sabbamitta Thera. He belonged to a brahmin family of Sāvatthi, and entered the Order after seeing the Buddha's acceptance of Jetavana. He dwelt in the forest, meditating. Once, on his way to Sāvatthi to worship the Buddha, he saw a fawn caught in a trapper's net. The doe, though not in the net, remained near, out of love for her young, yet not daring to approach the snare. The Thera was much moved by the thought of all the suffering which was caused by love. Farther on he saw bandits wrapping in straw a man whom they had caught and were preparing to set on fire. The Thera was filled with anguish, and, developing insight, won arahantship. He uttered, in his anguish, the two verses included in Thag. 149 50. He preached to the bandits and they joined the Order under him.
In the time of Tissa Buddha, he was a hunter who lived on game. One day, the Buddha, out of compassion for him, left three of his footprints outside his hut. The hunter saw them, and, owing to good deeds done in the past, recognized them as the Buddha's, and offered to them koranda flowers. After death he was born in Tāvatimsa (ThagA.i.269f). His Apadāna verses are given in two places under the name of Korandapupphiya (q.v.). Ap.ii.383, 434; cf. Sugandha Thera.
1. Sabbamitta Thera. Ngài thuộc một gia đình Bà-la-môn ở Sāvatthi, và gia nhập Tăng đoàn sau khi chứng kiến Đức Phật chấp nhận Jetavana. Ngài sống trong rừng, thiền định. Một lần, trên đường đến Sāvatthi để đảnh lễ Đức Phật, ngài nhìn thấy một con nai con bị mắc vào lưới của người bẫy thú. Con nai cái, mặc dù không bị mắc lưới, vẫn ở gần đó, vì thương con của mình, nhưng không dám đến gần bẫy. Thera rất xúc động khi nghĩ đến tất cả những đau khổ do tình yêu gây ra. Xa hơn, ngài thấy bọn cướp quấn rơm một người đàn ông mà chúng đã bắt được và chuẩn bị thiêu sống. Thera tràn ngập đau khổ, và phát triển tuệ giác, chứng đắc quả A-la-hán. Trong nỗi đau khổ của mình, ngài đã đọc lên hai bài kệ được bao gồm trong Thag. 149 50. Ngài thuyết giảng cho bọn cướp và chúng gia nhập Tăng đoàn dưới sự chỉ đạo của ngài.
Vào thời Đức Phật Tissa, ngài là một thợ săn sống bằng nghề săn bắn. Một ngày nọ, Đức Phật, vì lòng thương xót, đã để lại ba dấu chân của ngài bên ngoài túp lều. Người thợ săn nhìn thấy chúng, và, nhờ những thiện nghiệp đã làm trong quá khứ, nhận ra đó là dấu chân của Đức Phật, nên đã dâng tặng chúng những bông hoa koranda. Sau khi viên tịch, ngài được sinh ra ở cõi Tāvatimsa (ThagA.i.269f). Các bài kệ Apadāna của ngài được ghi lại ở hai nơi dưới tên Korandapupphiya (qv). Ap.ii.383, 434; so sánh với Sugandha Thera.
Wiki Tâm Học -Danh sách : Trưởng lão tăng kệ - Phần 135 - Chương 2 : (CXXXV) Sabbamitta (Thera. 20)
(CXXXV) Sabbamitta (Thera. 20)
Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh trong một gia đình Bà-la-môn ở Sàvatthi, được đặt tên là Sabbamitta. Chứng kiến lễ dâng cúng tinh xá Kỳ Viên, ngài thấy được uy nghi đức độ của đức Phật, xuất gia, lựa chọn một đề tài để thiền quán, ngài sống tại một khu rừng. Sau mùa mưa, ngài đi đến Sàvatthi để đảnh lễ đức Phật, trên đường đi, ngài thấy một con nai con bị sa vào bẫy người thợ săn, con nai mẹ tuy không bị lưới chụp nhưng vì thương con nai con nên không đi xa cũng không dám đến gần cái bẫy, con nai con lăn lộn qua lại, kêu lên những tiếng thảm thiết. Vị Trưởng lão suy nghĩ: ‘Ôi, tình thương đã đem lại sự đau khổ cho các loài hữu tình!’. Ði xa hơn nữa, ngài thấy nhiều tên cướp đang lấy rơm cột vào một người chúng bắt được để đem thiêu sống. Nguời ấy la lên và vị Trưởng lão cảm thấy sầu khổ đối với hai sự việc ấy, liền nói lên bài kệ để cho các tên cướp nghe.
149. Người trói buộc vào người,
Người bám víu vào người,
Người bị người làm hại,
Và người làm hại người.
150. Lợi ích gì người ấy?
Hay con cháu người sanh?
Hãy bỏ người ấy đi,
Người làm hại nhiều người.
Nói vậy, ngài đạt đến thiền quán, chứng quả A-la-hán. Còn các tên cướp, nghe lời giáo giới của ngài, cảm thấy xúc động, từ bỏ thế tục, và thực hành Chánh pháp.
.
Xuất hiện ở nikaya khác ( tiểu bộ kinh )
Các bài kinh A Hàm có liên hệ với nhân vật
Báo lỗi nội dung
Chọn vấn đề bạn phát hiện. Quản trị viên sẽ nhận báo cáo kèm đúng trang hiện tại.
Mạng liên kết nội dung
Liên kết bên dưới được dựng phía server từ các quan hệ đang có trong cơ sở dữ liệu Nikaya Tâm Học.
Kinh & bài có nhân vật
1 mụcCác bài/Kinh liên kết trực tiếp với nhân vật này.
Nhóm nhân vật
1 mụcMở danh sách nhân vật cùng nhóm hiện hữu.

Mốc I : Hoàn cảnh trước khi Phật ra đời
Mốc II : Sự kiện Phật đản sanh
Mốc III: Giai đoạn tuổi thơ của Bồ tát Tất Đạt Đa
Mốc IV : Giai đoạn trưởng thành - xuất gia
Mốc V : Tầm đạo
Mốc VI : Thành đạo
Mốc VII: Những vị đệ tử đầu tiên
Mốc VIII : Tăng đoàn lớn mạnh
Mốc IX: Mười ba năm cuối cuộc đời Đức Phật
Mốc X : Đức Phật nhập niết bàn