Mục lục nhân vật
HT Thích Duy Lực (1923 -2000) - thiền sư người Hoa chấn hưng thiền tông VN
Thích Duy Lực (釋惟力) (5 tháng 5 năm 1923 - 8 tháng 1 năm 2000), tự Giác Khai (覺開), thế danh[1] La Dũ (羅愈)[2], là một dịch giả, tác giả Phật học, thiền sư người Hoa thuộc dòng Tào Động. Sư được coi là người đã chấn hưng Thiền tông Việt Nam với pháp môn Tham Thoại Đầu vào cuối thế kỷ 20[3]. Qua việc xuất bản cuốn Đường Lối Thực Hành Tham Tổ Sư Thiền vào...
Dữ liệu nhân vật
- Giới tính
- Nam
- Mã dữ liệu
- #500
- Khởi tạo
- 20/03/2023
- Cập nhật gần nhất
- 08/09/2026 01:28
- Lượt xem
- 482
- Trạng thái nội dung
- Có nội dung chính
Thích Duy Lực (釋惟力) (5 tháng 5 năm 1923 - 8 tháng 1 năm 2000), tự Giác Khai (覺開), thế danh[1] La Dũ (羅愈)[2], là một dịch giả, tác giả Phật học, thiền sư người Hoa thuộc dòng Tào Động. Sư được coi là người đã chấn hưng Thiền tông Việt Nam với pháp môn Tham Thoại Đầu vào cuối thế kỷ 20[3]. Qua việc xuất bản cuốn Đường Lối Thực Hành Tham Tổ Sư Thiền vào năm 1994[4], Sư có lẽ là người đầu tiên ở Việt Nam đưa ra một đường lối thực hành pháp môn Tham Thoại Đầu một cách rõ ràng. Sư còn đi giảng dạy ở khắp nơi trên thế giới vào những năm cuối đời, đặc biệt là ở Mỹ, nơi Sư kiến lập Từ Ân Thiền Đường.
Thích Duy Lực
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
| Thích Duy Lực 釋惟力 |
|
|---|---|
Chân dung Hòa thượng Giác Khai Duy Lực |
|
| Pháp tự | Giác Khai (覺開) |
| Pháp hiệu | Duy Lực (惟力) |
| Tôn xưng | Đời thứ 89 Thiền tông (từ Ca Diếp) Đời thứ 52 Tào Động tông |
| Hoạt động tôn giáo | |
| Tôn giáo | Phật giáo |
| Trường phái | Phật giáo Đại thừa |
| Tông phái | Thiền tông |
| Dòng | Tào Động tông |
| Môn phái | Tham Thoại Đầu |
| Sư phụ | Diệu Duyên Kim Phật Hòa thượng Hoằng Tu |
| Xuất gia | 8 tháng 2, 1973 Chùa Từ Ân, Quận 11, Chợ Lớn |
| Thụ giới | Tam Đàn Cụ Túc tháng 5, 1974 Chùa Cực Lạc, Malaysia |
| Trước tác | Tổng kết Kinh Sách do Hòa thượng Thích Duy Lực dịch và trước tác (bao gồm file MP3) |
| Ủy viên Ban Hoằng pháp Trung Ương GHPGVN | |
| Nhiệm kỳ | |
| 1998 – 2000 (viên tịch) | |
| Thông tin cá nhân | |
| Sinh | |
| Thế danh | La Dũ (羅愈) |
| Ngày sinh | 5 tháng 5 năm 1923 |
| Nơi sinh | làng Long Tuyền, huyện Bình Thủy, tỉnh Cần Thơ, Nam Kỳ, Liên bang Đông Dương |
| Mất | 1 giờ 30 (UTC+07) 8 tháng 1 năm 2000 (76 tuổi) |
| Thân quyến | |
| Cha | La Xương (羅昌) |
| Mẹ | Lưu Thị (劉氏) |
| Dân tộc | Người Tiều |
| Quốc tịch | Trung Quốc Việt Nam |
| Một phần của loạt bài về |
| Thiền sư Việt Nam |
|---|
|
Sơ khai[hiện] |
|
Thiền phái Tì-ni-đa-lưu-chi[hiện] |
|
Thiền phái Vô Ngôn Thông[hiện] |
|
Thiền phái Thảo Đường[hiện] |
Thích Duy Lực (釋惟力) (5 tháng 5 năm 1923 - 8 tháng 1 năm 2000), tự Giác Khai (覺開), thế danh[1] La Dũ (羅愈)[2], là một dịch giả, tác giả Phật học, thiền sư người Hoa thuộc dòng Tào Động. Sư được coi là người đã chấn hưng Thiền tông Việt Nam với pháp môn Tham Thoại Đầu vào cuối thế kỷ 20[3]. Qua việc xuất bản cuốn Đường Lối Thực Hành Tham Tổ Sư Thiền vào năm 1994[4], Sư có lẽ là người đầu tiên ở Việt Nam đưa ra một đường lối thực hành pháp môn Tham Thoại Đầu một cách rõ ràng. Sư còn đi giảng dạy ở khắp nơi trên thế giới vào những năm cuối đời, đặc biệt là ở Mỹ, nơi Sư kiến lập Từ Ân Thiền Đường.
Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]
Thời thơ ấu[sửa | sửa mã nguồn]
Sư họ La (羅), húy Dũ (愈), pháp tự Giác Khai (覺開), pháp hiệu Duy Lực (惟力)[5], sanh ngày 5 tháng 5 năm Quý Hợi 1923 tại làng Long Tuyền, huyện Bình Thủy, tỉnh Cần Thơ (nay là phường Long Tuyền, quận Bình Thủy, TP. Cần Thơ). Cha là La Xương, mẹ là Lưu Thị, làm nghề nông. Năm lên 7 tuổi, theo cha về quê sống tại làng Long Yên, huyện Phong Thuận, phủ Triều Châu, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Sau khi tốt nghiệp phổ thông cấp 1, Sư phải nghỉ học theo cha trở lại Việt Nam sinh sống, trú tại tỉnh Cần Thơ, lúc đó Sư được 16 tuổi (1938)[2]. Người trong xóm hay gọi Sư là "Nấu không chín", ý nói thằng khờ[6].
Sư thường tranh thủ tự học trong lúc rảnh rỗi. Đến năm 26 tuổi (1948), Sư thi đậu bằng giáo viên Hoa văn, từng cộng tác biên soạn cho tờ báo Viễn Đông tiếng Hoa tại Chợ Lớn và được mời dạy ở các trường tiểu học tỉnh Tà Keo, Cao Miên (Nay là Campuchia), trường Khải Trí ở Cần Thơ, Trường Cái Vồn ở Vĩnh Long trong thời gian 10 năm. Năm 1958, sau khi thi lấy bằng Đông y sĩ cấp 1, Sư được mời làm đông y sĩ cho tiệm thuốc Tế Ngươn Đường Cà Mau, Minh Nguyệt Cư Sĩ Lâm tỉnh Cần Thơ để khám bệnh miễn phí cho dân trong thời gian 8 năm.[2]
Chính khi làm việc ở đây, nhân duyên với Phật pháp của Sư được có cơ hội phát triển. Trong tủ sách của Cư Sĩ Lâm có bộ Kinh Tục Tạng gồm 150 quyển, Sư định đọc hết toàn bộ, nhưng trải qua một năm chỉ xem được 7 quyển. Nghĩ rằng phải tốn hơn 20 năm để đọc hết bộ, nên sau đó Sư quyết định chỉ đọc phần Thiền tông. Cảm nhận được ý chỉ thiền học ứng hợp với căn cơ của mình, Sư tìm đến Pháp sư Diệu Duyên Kim Phật, trụ trì chùa Thảo Đường ở Chợ Lớn, là vị đã có nhiều năm thân cận thiền sư Lai Quả và thiền sư Hư Vân, để tham học về Tổ Sư Thiền.[2][8]
Thời kỳ xuất gia học đạo[sửa | sửa mã nguồn]
Ngày mồng 8 tháng 2 năm Quý Sửu 1973, lúc này đã 50 tuổi, Sư gát bỏ mọi duyên trần, tìm đến chùa Từ Ân, quận 11, Chợ Lớn, xin thế phát xuất gia với Hòa thượng Hoằng Tu (đời thứ 51 Tào Động tông) và ở lại đây tu học thiền môn quy tắc. Đến tháng 5 năm 1974, Sư được Bổn sư cho đi thọ Tam đàn Cụ túc giới tại giới đàn mở tại chùa Cực Lạc, Malaysia.
Từ đó, Sư chuyên tham câu thoại đầu “Khi chưa có trời đất ta là cái gì?“. Trải qua nhiều năm, một hôm, do đọc quyển Trung Quán Luận đến câu: "Do có nghĩa KHÔNG nên thành tựu tất cả pháp", Sư đốn ngộ ý chỉ “TỪ KHÔNG HIỂN DỤNG”, lại tỏ ngộ câu “KHÔNG sanh nơi đại giác, như biển nổi hòn bọt, vô số nước hữu lậu, đều từ KHÔNG sanh khởi" trong Kinh Lăng Nghiêm, với ý “Lấy VÔ TRỤ làm gốc” của Lục Tổ Huệ Năng; “Từ gốc VÔ TRỤ lập tất cả pháp” của Ngài Duy Ma Cật, vốn cùng một ý chỉ, VÔ TRỤ tức TÁNH KHÔNG, thể Chơn Như vốn KHÔNG mà tự hiển bày sự dụng; thể và dụng của Chư Phật với chúng sanh vốn chẳng hai chẳng khác, cùng khắp không gian thời gian, nơi thánh chẳng thêm, nơi phàm chẳng bớt, dù là phàm phu mà sức dụng của Phật Tánh chẳng kém hơn Phật, cũng chẳng từng gián đoạn, chỉ vì chúng sanh ứng dụng hàng ngày mà chẳng tự biết.[2][8]
Thời kỳ hoằng pháp[sửa | sửa mã nguồn]
Ngày mồng 2 tháng 4 năm Đinh Tỵ 1977, thừa lệnh Hòa Thượng Bổn sư, Sư ra hoằng pháp Tổ Sư Thiền, pháp môn Tham Thoại Đầu tại Chùa Từ Ân, đường Hùng Vương, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh. Đến năm 1983, tứ chúng quy tụ ngày càng đông. Phật tử theo tu học pháp Tổ Sư Thiền hơn 4000 người, mỗi lần tham dự thiền thất (7 ngày Tham Thiền) đều vượt trên 300 người.[2]
Tháng 2 năm Kỷ Tỵ 1989, Sư nhận lời thỉnh cầu của Phật tử ở hải ngoại, được Nhà nước cho phép sang định cư tại Mỹ Quốc. Tại đây, Sư sáng lập Từ Ân Thiền Đường ở thành phố Los Angeles, bang California để hoằng dương thiền học. Đến tham học tại đây, có Phật tử người Âu châu, Á châu và đông nhất là kiều bào người Việt Nam.[8]
Những năm sau đó, uy tín và đạo lực của Sư vang xa. Sư được cung thỉnh đến các nước như : Canada, Australia, Hong Kong, Đài Loan và các thiền đường tại Mỹ để giảng dạy pháp Tổ Sư Thiền. Tuy nhiên, Sư vẫn thường xuyên trở về Việt Nam để tiếp tục sự nghiệp thiền học mà Sư đã gầy dựng và truyền bá, cùng giảng dạy ở các tự viện Phật giáo trong thành phố Hồ Chí Minh, nơi có điều kiện mở thiền thất thỉnh cầu.[8]
Năm Bính Tý 1996, Sư về nước thành lập một trang trại trồng rau sạch, tên là "Vườn Vô Vi", không dùng phân bón hóa học và thuốc sát trùng tại huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh để làm kinh tế tự túc cho thiền đường. Lần lượt Sư được mời thỉnh đi đến các thiền đường ở các tỉnh thành như: Bà Rịa - Vũng Tàu, Khánh Hòa, Bình Định, Long An, Sóc Trăng, Tây Ninh... để thuyết giảng thiền học.[8]
Năm Mậu Dần 1998, Sư được chư tôn túc Giáo hội Phật giáo Việt Nam mời làm Ủy viên Ban Hoằng pháp Trung ương, chính thức là Giảng sư của Giáo hội, được phân công thuyết giảng tại các khóa bồi dưỡng Hoằng pháp do Giáo hội tổ chức tại các tỉnh thành.[8]
Năm Kỷ Mão 1999, Sư quyên góp từ các Phật tử ở hải ngoại, về Việt Nam thành lập phòng khám bệnh và phát thuốc miễn phí cho nhân dân (hiện nay đã trở thành Thiền Viện Duy Lực) tại xã Phước Tân, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.[8]
Thời kỳ viên tịch[sửa | sửa mã nguồn]
Suốt cuộc đời hành đạo, Sư tùy duyên hóa độ, tận tụy với sự nghiệp hoằng pháp lợi sanh. Sư ứng hiện ở đời làm nên bao công hạnh, để rồi khi hóa duyên đã mãn, Sư ra đi về cõi tịch tĩnh mà không chi bận lòng...[8]
Lúc 1 giờ 30 sáng (giờ Việt Nam), ngày 8 tháng 1 năm 2000, tức ngày mồng Hai tháng Chạp năm Kỷ Mão, Sư thâu thần thị tịch tại California, Mỹ Quốc, trụ thế 77 năm, hành đạo 25 mùa Hạ. Môn đồ pháp quyến trà tỳ nhục thân Sư, phân chia xá lợi, xây Bảo tháp tôn thờ ở Từ Ân Thiền Đường, Mỹ Quốc và ở chùa Từ Ân, Việt Nam.[2]
Trước tác[sửa | sửa mã nguồn]
Ngoài ra, Sư còn trước tác và dịch thuật từ tiếng Hán sang tiếng Việt hơn 20 loại kinh điển và ngữ lục. Lượng sách phát hành tại Việt Nam trên mấy mươi ngàn quyển, đã được xuất bản cùng tái bản nhiều lần. (Từ: Tổng kết Kinh Sách với file MP3[10])
Biên dịch (từ Hán sang Việt)[sửa | sửa mã nguồn]
- Bá Trượng Ngữ Lục và Quảng Lục
- Bửu Tạng Luận
- Cội Nguồn Truyền Thừa
- Công Án của Phật Thích Ca và Tổ Đạt Ma
- Đại Huệ Ngữ Lục
- Đại Thừa Tuyệt Đối Luận
- Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh
- Truyền Tâm Pháp Yếu
- Kinh Kim Cang
- Kinh Lăng Già
- Kinh Thủ Lăng Nghiêm
- Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Yếu chỉ
- Kinh Viên Giác
- Lâm Tế Ngữ Lục
- Nam Tuyền Ngữ Lục
- Kinh Pháp Bảo Đàn
- Tham Thiền Cảnh Ngữ
- Tham Thiền Phổ Thuyết
- Thiền Thất Khai Thị Lục
- Tín Tâm Minh Tịch Nghĩa Giải
- Triệu Luận Lược giải
- Chư Kinh Tập Yếu[11]
Biên soạn[sửa | sửa mã nguồn]
- Bát Nhã Tâm Kinh Lược giải
- Danh từ Thiền Học
- Đường lối thực hành Tham Tổ Sư Thiền, Thành Hội Phật Giáo, Thành phố Hồ Chí Minh, 1994.
- Duy Lực Ngữ Lục Quyển Thượng[12]
- Duy Lực Ngữ Lục Quyển Hạ[12]
- Góp Nhặt Lời Phật Tổ và Thánh Hiền
- Lược giảng Kinh Lăng Nghiêm[12]
- Lược giảng Tín Tâm Minh Tịch Nghĩa Giải [12]
- Phật Pháp với Thiền Tông
- Tâm Linh và Khoa Học trong Phật Pháp
- Vũ Trụ Quan Thế Kỷ 21
- Yếu Chỉ Kinh Hoa Nghiêm
- Yếu Chỉ Phật Pháp
- Yếu Chỉ Trung Quán Luận
Tham khảo & chú thích[sửa | sửa mã nguồn]
- ^ "Thế danh" tức là tên khai sinh, tên tục (Lời người tạo trang).
- ^ a b c d e f g “Giới Thiệu”. Tổ Sư Thiền. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2023.
- ^ “Tiểu Sử HT Thích Duy Lực”. Giác Ngộ Online. 27 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2023.
- ^ “Đường Lối Thực Hành Tham Tổ Sư Thiền”. khosachcu.com. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2023.
- ^ Pháp tự và pháp danh Sư được thầy Hoằng Tu khi truyền giới đặt sau này (Lời người tạo trang)
- ^ Thích, Duy Lực (2016). Duy Lực Ngữ Lục. Quyển Hạ. NXB Tôn giáo. tr. 19.
- ^ DUY LỰC NGỮ LỤC QUYỂN THƯỢNG P.2 - KHÔNG NHẠC NỀN., truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2023
- ^ a b c d e f g h “HÒA THƯỢNG THÍCH DUY LỰC (1923 – 2000) - Chùa Phật học Xá Lợi”. chuaxaloi.vn. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2023.
- ^ a b Tham, Thien (29 tháng 11 năm 2021). “Từ Ân Thiền Đường”. Tổ Sư Thiền. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2023.
- ^ Thiền, Duy Lực (12 tháng 11 năm 2011). “Tổng kết Kinh Sách do Hòa thượng Thích Duy Lực dịch và trứ tác”. Duy Lực Thiền. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2023.
- ^ Bao gồm các kinh Kim Cang, Bát Nhã, Pháp Hoa, Hoa Nghiêm, Pháp Bảo Đàn, Duy Ma, Viên Giác, Triệu Luận (Lời người tạo trang)
- ^ a b c d Đệ tử sưu tập dựa trên băng giảng (Lời người tạo trang)
Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]
Trang web[sửa | sửa mã nguồn]
Kênh Youtube[sửa | sửa mã nguồn]
.- CHIA SẺ
0:00/0:00
0:00
GNO - Sáng nay,13-1 (1-12-Canh Tý), tại chùa Phật Đà (quận 3, TP.HCM) môn đồ pháp quyến đã trang nghiêm tổ chức lễ tưởng niệm lần thứ 21 ngày Hòa thượng Thích Duy Lực viên tịch.
Buổi lễ diễn ra trang nghiêm với nghi thức niêm hương tưởng niệm dưới sự chứng minh của Hòa thượng Thích Tịnh Hạnh, Thành viên Hội đồng Chứng minh, Chứng minh Ban Trị sự GHPGVN TP.HCM, cùng chư tôn đức Hội đồng Trị sự, các ban, viện Trung ương, Phật giáo TP.HCM và quận 3.
Hòa thượng Thích Duy Lực sinh năm 1923 tại làng Long Tuyền, huyện Bình Thủy, tỉnh Cần Thơ.
Năm lên 7 tuổi, ngài theo cha về quê sống tại làng Long Yên, huyện Phong Thuận, phủ Triều Châu, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Sau khi tốt nghiệp phổ thông cấp 1, năm 16 tuổi, theo cha trở lại Việt Nam sinh sống, việc học bị gián đoạn.
![]() |
|
Đông đảo chư Tăng Ni, Phật tử tham dự tưởng niệm - Ảnh: Pháp Hiện |
Ngài thường tranh thủ tự học trong lúc rỗi rảnh. Đến năm 26 tuổi (1948), ngài thi đậu bằng giáo viên Hoa văn, cộng tác biên soạn cho báo Viễn Đông tiếng Hoa tại Chợ Lớn và được mời dạy ở các trường tiểu học tỉnh Tà-keo (Campuchia), trường Khải Trí ở Cần Thơ, trường Cái Vồn ở Vĩnh Long trong thời gian 10 năm.
Năm 1958, sau khi thi lấy bằng Đông y sĩ cấp 1, ngài được mời làm đông y sĩ cho tiệm thuốc Tế Ngươn Đường (Cà Mau), Minh Nguyệt cư sĩ Lâm tỉnh Cần Thơ, khám bệnh miễn phí cho dân trong thời gian 8 năm.
Trong tủ sách của cư sĩ Lâm có bộ Tục Tạng, 150 quyển, đọc được 7 quyển, sau quyết định chỉ xem phần về Thiền tông. Lúc đó ngài theo pháp sư Diệu Duyên tham học Tổ sư thiền.
Năm 1973, ngài được Hòa thượng Hoằng Tu cho xuất gia tu học tại chùa Từ Ân, quận 11 (Chợ Lớn). Tháng 5 năm 1974, ngài được thọ tam đàn Cụ túc giới tại chùa Cực Lạc (Malaysia).
![]() |
|
Hòa thượng Thích Tịnh Hạnh ban đạo từ - Ảnh: Pháp Hiện |
Ngày 2-4-1977, thừa lệnh Hòa thượng Bổn sư, ngài ra hoằng pháp Tổ Sư thiền tại chùa Từ Ân (quận 11). Đến năm 1983, tứ chúng quy tụ ngày càng đông, Phật tử theo tu học pháp Tổ Sư thiền hơn 4.000 người, mỗi lần tham dự thiền thất đều vượt trên 300 người.
Từ những năm 1990, ngài thường đi giảng thiền ở nhiều nơi trên thế giới. Đến thiền đường học đạo có người Tây, Âu và Á Châu, trong đó người Việt Nam là đông nhất.
Những năm cuối đời, ngài thường được thỉnh đến giảng tại các nước và vùng lãnh thổ trên thế giới như: chùa Chánh Giác ở Toronto Canada, chùa Quan Âm ở Brisbane - Australia, tịnh xá Đại Bi ở Đài Loan và một số chùa ở Hồng Kông. Nhất là các thiền đường ở Mỹ để giảng dạy pháp Tổ Sư Thiền và thính chúng lui tới tu học đông đảo.
Ngoài ra, ngài còn trước tác và dịch thuật từ tiếng Hán sang tiếng Việt hơn 20 loại kinh điển và ngữ lục. Lượng sách phát hành tại Việt Nam trên mấy mươi ngàn quyển.
Đến năm 1998, ngài được mời làm Ủy viên Ban Hoằng pháp Trung ương GHPGVN, thỉnh giảng tại các khóa bồi dưỡng Hoằng pháp ngắn hạn ở Bình Định, TP.HCM.
Ngài thâu thần thị tịch lúc 1 giờ 30 ngày 2-12-Kỷ Mão (2000), trụ thế 77 năm.
Như Danh
GNO - Sáng nay,13-1 (1-12-Canh Tý), tại chùa Phật Đà (quận 3, TP.HCM) môn đồ pháp quyến đã trang nghiêm tổ chức lễ tưởng niệm lần thứ 21 ngày Hòa thượng Thích Duy Lực viên tịch.
Buổi lễ diễn ra trang nghiêm với nghi thức niêm hương tưởng niệm dưới sự chứng minh của Hòa thượng Thích Tịnh Hạnh, Thành viên Hội đồng Chứng minh, Chứng minh Ban Trị sự GHPGVN TP.HCM, cùng chư tôn đức Hội đồng Trị sự, các ban, viện Trung ương, Phật giáo TP.HCM và quận 3.
Hòa thượng Thích Duy Lực sinh năm 1923 tại làng Long Tuyền, huyện Bình Thủy, tỉnh Cần Thơ.
Năm lên 7 tuổi, ngài theo cha về quê sống tại làng Long Yên, huyện Phong Thuận, phủ Triều Châu, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Sau khi tốt nghiệp phổ thông cấp 1, năm 16 tuổi, theo cha trở lại Việt Nam sinh sống, việc học bị gián đoạn.
![]() |
|
Đông đảo chư Tăng Ni, Phật tử tham dự tưởng niệm - Ảnh: Pháp Hiện |
Ngài thường tranh thủ tự học trong lúc rỗi rảnh. Đến năm 26 tuổi (1948), ngài thi đậu bằng giáo viên Hoa văn, cộng tác biên soạn cho báo Viễn Đông tiếng Hoa tại Chợ Lớn và được mời dạy ở các trường tiểu học tỉnh Tà-keo (Campuchia), trường Khải Trí ở Cần Thơ, trường Cái Vồn ở Vĩnh Long trong thời gian 10 năm.
Năm 1958, sau khi thi lấy bằng Đông y sĩ cấp 1, ngài được mời làm đông y sĩ cho tiệm thuốc Tế Ngươn Đường (Cà Mau), Minh Nguyệt cư sĩ Lâm tỉnh Cần Thơ, khám bệnh miễn phí cho dân trong thời gian 8 năm.
Trong tủ sách của cư sĩ Lâm có bộ Tục Tạng, 150 quyển, đọc được 7 quyển, sau quyết định chỉ xem phần về Thiền tông. Lúc đó ngài theo pháp sư Diệu Duyên tham học Tổ sư thiền.
Năm 1973, ngài được Hòa thượng Hoằng Tu cho xuất gia tu học tại chùa Từ Ân, quận 11 (Chợ Lớn). Tháng 5 năm 1974, ngài được thọ tam đàn Cụ túc giới tại chùa Cực Lạc (Malaysia).
![]() |
|
Hòa thượng Thích Tịnh Hạnh ban đạo từ - Ảnh: Pháp Hiện |
Ngày 2-4-1977, thừa lệnh Hòa thượng Bổn sư, ngài ra hoằng pháp Tổ Sư thiền tại chùa Từ Ân (quận 11). Đến năm 1983, tứ chúng quy tụ ngày càng đông, Phật tử theo tu học pháp Tổ Sư thiền hơn 4.000 người, mỗi lần tham dự thiền thất đều vượt trên 300 người.
Từ những năm 1990, ngài thường đi giảng thiền ở nhiều nơi trên thế giới. Đến thiền đường học đạo có người Tây, Âu và Á Châu, trong đó người Việt Nam là đông nhất.
Những năm cuối đời, ngài thường được thỉnh đến giảng tại các nước và vùng lãnh thổ trên thế giới như: chùa Chánh Giác ở Toronto Canada, chùa Quan Âm ở Brisbane - Australia, tịnh xá Đại Bi ở Đài Loan và một số chùa ở Hồng Kông. Nhất là các thiền đường ở Mỹ để giảng dạy pháp Tổ Sư Thiền và thính chúng lui tới tu học đông đảo.
Ngoài ra, ngài còn trước tác và dịch thuật từ tiếng Hán sang tiếng Việt hơn 20 loại kinh điển và ngữ lục. Lượng sách phát hành tại Việt Nam trên mấy mươi ngàn quyển.
Đến năm 1998, ngài được mời làm Ủy viên Ban Hoằng pháp Trung ương GHPGVN, thỉnh giảng tại các khóa bồi dưỡng Hoằng pháp ngắn hạn ở Bình Định, TP.HCM.
Ngài thâu thần thị tịch lúc 1 giờ 30 ngày 2-12-Kỷ Mão (2000), trụ thế 77 năm.
Như Danh
Xuất hiện ở nikaya khác ( tiểu bộ kinh )
Các bài kinh A Hàm có liên hệ với nhân vật
Báo lỗi nội dung
Chọn vấn đề bạn phát hiện. Quản trị viên sẽ nhận báo cáo kèm đúng trang hiện tại.
Mạng liên kết nội dung
Liên kết bên dưới được dựng phía server từ các quan hệ đang có trong cơ sở dữ liệu Nikaya Tâm Học.
Nhóm nhân vật
2 mụcMở danh sách nhân vật cùng nhóm hiện hữu.

Mốc I : Hoàn cảnh trước khi Phật ra đời
Mốc II : Sự kiện Phật đản sanh
Mốc III: Giai đoạn tuổi thơ của Bồ tát Tất Đạt Đa
Mốc IV : Giai đoạn trưởng thành - xuất gia
Mốc V : Tầm đạo
Mốc VI : Thành đạo
Mốc VII: Những vị đệ tử đầu tiên
Mốc VIII : Tăng đoàn lớn mạnh
Mốc IX: Mười ba năm cuối cuộc đời Đức Phật
Mốc X : Đức Phật nhập niết bàn

