Nikaya Tâm HọcCon đường tuệ giác
Nikaya Tâm HọcKinh điển, nghiên cứu và các khu vực chính
Kinh sáchKinh điển, sách và tài liệu học Phật
Danh mục đầy đủ
Thời Phật Tại ThếBản đồ, Cuộc đời Đức Phật và Album ảnh
Bỏ qua menu, tới nội dung chính
Nikaya Tâm HọcKinh điển • Đức Phật • Nghiên cứu
Gangātīriya Thera ( Datta)
Nhân vật Phật học

Gangātīriya Thera ( Datta)

Một vị A-la-hán. Ngài là một gia chủ tên là Datta ở Sāvatthi . Khi phát hiện ra mình đã vô tình phạm tội loạn luân với cả mẹ và em gái, ngài vô cùng đau khổ và xuất gia. Ngài tu khổ hạnh, sống trong một túp lều lá cọ bên bờ sông Hằng, do đó mà ngài có tên như vậy. Suốt một năm, ngài im lặng; sang năm thứ hai, ngài chỉ nói chuyện với một người phụ nữ, người n...

154 lượt xem #1006 mã dữ liệu Nam giới tính 13.11.2025 ngày khởi tạo 14.09.2026 cập nhật
Khám phá theo quan hệ: Bài viết Nhân vật Địa danh Sitemap tri thức
THÔNG TIN KHÁI QUÁT

Dữ liệu nhân vật

Xem kinh liên quan ↓
Giới tính
Nam
Mã dữ liệu
#1006
Khởi tạo
13/11/2025
Cập nhật gần nhất
17/11/2025 16:56
Lượt xem
154
Trạng thái nội dung
Có nội dung chính
Tóm lược

Một vị A-la-hán. Ngài là một gia chủ tên là Datta ở Sāvatthi . Khi phát hiện ra mình đã vô tình phạm tội loạn luân với cả mẹ và em gái, ngài vô cùng đau khổ và xuất gia. Ngài tu khổ hạnh, sống trong một túp lều lá cọ bên bờ sông Hằng, do đó mà ngài có tên như vậy. Suốt một năm, ngài im lặng; sang năm thứ hai, ngài chỉ nói chuyện với một người phụ nữ, người này đã làm đổ sữa khi đang rót đầy bát cho ngài, vì muốn kiểm tra xem ngài có bị câm hay không. Sang năm thứ ba, ngài đắc quả A-la-hán. Vào thời Đức Phật Padumuttara, ông là một gia chủ và cung cấp đồ uống cho các nhà sư (Thag.v.127-8; ThagA.i.248f).

HỒ SƠ Gangātīriya Thera ( Datta)

  • Gangātīriya Thera

An arahant. He was a householder named Datta of Sāvatthi. On discovering that he had, though unwittingly, committed incest with both his mother and sister, he was overcome with anguish and left the world. He adopted a course of austerity, dwelling in a hut of palm leaves on the bank of the Ganges, hence his name. For a whole year he kept silence; in the second year he spoke but once to a woman who, in filling his bowl, spilt the milk, wishing to discover if he were dumb. In the third year he became an arahant.

In the time of Padumuttara Buddha he was a householder, and supplied drinks to monks (Thag.v.127-8; ThagA.i.248f).

It is said (ThagA.195f.; Thig.224f) that after Gangātiriya's conception his mother was driven out of her house in the absence of her husband, her mother-in-law suspecting her of infidelity. The child was born in a travellers' rest-house in Rājagaha, whither she had gone in search of her husband, and was taken away by a caravan leader who happened to see it when its mother was away bathing. Later the woman was carried away by a robber chief, by whom she had a daughter. One day, in a quarrel with her husband, she threw her daughter on the bed, wounding her on the head, and fearing her husband's wrath she fled to Rājagaha, where she became a courtesan and later mistress of Gangātiriya, who was unaware of his relationship to her. Some time afterwards he took to wife the robber's daughter as well. One day, while looking at the young wife's head, the older one saw the wound, and as a result of her questions learnt the truth. Filled with dismay, both mother and daughter became nuns, and Gangātiriya left the world as mentioned above.

Gangātiriya is perhaps to be identified with Udakadāyaka of the Apadāna. (Ap.ii.437; but the verses are also ascribed to Mahāgavaccha, ThagA.i.57).

  • Gangātīriya Thera

Một vị A-la-hán. Ngài là một gia chủ tên là Datta ở Sāvatthi . Khi phát hiện ra mình đã vô tình phạm tội loạn luân với cả mẹ và em gái, ngài vô cùng đau khổ và xuất gia. Ngài tu khổ hạnh, sống trong một túp lều lá cọ bên bờ sông Hằng, do đó mà ngài có tên như vậy. Suốt một năm, ngài im lặng; sang năm thứ hai, ngài chỉ nói chuyện với một người phụ nữ, người này đã làm đổ sữa khi đang rót đầy bát cho ngài, vì muốn kiểm tra xem ngài có bị câm hay không. Sang năm thứ ba, ngài đắc quả A-la-hán.

Vào thời Đức Phật Padumuttara, ông là một gia chủ và cung cấp đồ uống cho các nhà sư (Thag.v.127-8; ThagA.i.248f).

Người ta nói (ThagA.195f.; Thig.224f) rằng sau khi thụ thai Gangātiriya, mẹ của bà đã bị đuổi khỏi nhà vì chồng bà vắng nhà, mẹ chồng bà nghi ngờ bà không chung thủy. Đứa trẻ được sinh ra trong một nhà nghỉ của khách lữ hành ở Rājagaha , nơi bà đã đến để tìm chồng mình, và bị một người dẫn đầu đoàn lữ hành tình cờ nhìn thấy đứa trẻ khi mẹ của nó đang tắm. Sau đó, người phụ nữ bị một tên cướp bắt đi, và ông ta đã sinh cho bà một cô con gái. Một ngày nọ, trong một cuộc cãi vã với chồng, bà đã ném con gái mình lên giường, làm cô bé bị thương ở đầu, và sợ cơn thịnh nộ của chồng, bà đã bỏ trốn đến Rājagaha, nơi bà trở thành một kỹ nữ và sau đó là tình nhân của Gangātiriya, người không biết về mối quan hệ của ông với bà. Một thời gian sau, ông cũng lấy con gái của tên cướp làm vợ. Một ngày nọ, khi nhìn vào đầu người vợ trẻ, người mẹ già nhìn thấy vết thương, và nhờ những câu hỏi của bà mà bà đã biết được sự thật. Quá đau buồn, cả hai mẹ con đều xuất gia, và Gangātiriya đã từ bỏ thế gian như đã đề cập ở trên.

Gangātiriya có lẽ được đồng nhất với Udakadāyaka của Apadāna. (Ap.ii.437; nhưng những câu thơ này cũng được cho là của Mahāgavaccha, ThagA.i.57).

Wiki Tâm Học -Danh sách : Trưởng lão tăng kệ - Phần 124 - Chương 2 : (CXXIV) Gangàtiriya (Thera. 18)

(CXXIV) Gangàtiriya (Thera. 18)

Trong thời đức Phật tại thế, ngài sanh ở Sàvatthi làm con một thị dân, được đặt tên là Datta. Trong đời sống thế tục, vì ngu si ngài phạm lỗi lầm, biết được lỗi lầm của mình, ngài sanh sầu khổ và xuất gia. Hối hận vì hành vi của mình, ngài chọn đời sống khổ hạnh, ở trên bờ sông Hằng, làm một chòi lá để ở; do vậy, ngài được gọi là Gangàtiriya (người ở trên bờ sông Hằng). Ngài nguyện không nói với một ai, như vậy cả năm, ngài không thốt ra một lời nào. Trong năm thứ hai, một nữ nhân trong làng thường cúng dường ngài, muốn biết ngài có câm hay không khi dâng sữa cúng dường, làm đổ sữa ra ngoài. Ngài mới nói: ‘Thôi vừa rồi, bà chị’. Nhưng đến năm thứ ba, ngài chứng quả A-la-hán, ngài nói lên chánh trí của ngài ngang qua lời bài kệ, tán thán hạnh cũ của ngài:

127. Trên bờ sông Hằng Hà,

Dùng ba lá thốt nốt,

Ta dựng lên cho ta

Một chòi lá nho nhỏ,

Bát ta là cái ghè,

Dùng cúng sữa người chết,

Còn y áo của ta

Lượm chắp từ đống rác.

128. Suốt hai năm sống vậy.

Ta chỉ nói một chữ,

Trong khoảng năm thứ ba,

Khối si ám tan tành.

.

A HÀM

Xuất hiện trong các kinh A Hàm

Xem dạng thẻ →
Chưa có dữ liệu A Hàm liên kết.

Chưa có dữ liệu bản đồ cho nhân vật này.
KINH ĐIỂN Xuất hiện trong Nikaya

Xuất hiện ở nikaya khác ( tiểu bộ kinh )

TẠP A HÀM

Các bài kinh A Hàm có liên hệ với nhân vật





Đánh giá nội dungBài này hữu ích với bạn?/5 · 0 đánh giá
\n\n
ĐIỀU HƯỚNG TỪ DATABASE

Mạng liên kết nội dung

Liên kết bên dưới được dựng phía server từ các quan hệ đang có trong cơ sở dữ liệu Nikaya Tâm Học.

2liên kết

Kinh & bài có nhân vật

1 mục

Các bài/Kinh liên kết trực tiếp với nhân vật này.

Nhóm nhân vật

1 mục

Mở danh sách nhân vật cùng nhóm hiện hữu.