Trường A Hàm 028.P3.28. KINH BỐ-TRA-BÀ-LẤU
Người nghe · 380 lượt xem

- 09/14/2026 06:14:38- 4428 Lượt xem
- 09/14/2026 06:14:38- 1336 Lượt xem
- 09/14/2026 06:14:38- 1333 Lượt xem
- 09/14/2026 06:14:38- 1098 Lượt xem
- 09/14/2026 06:14:38- 1079 Lượt xem
人
Citta called Hatthirohaputta (Hatthisāriputta).-A thera, son of an elephant trainer, who, having entered the Order, studied under the Buddha and gained special proficiency in distinguishing subtle differences in the meanings of words. Six times he left the Order and six times returned. His last quarrel was with Mahā Kotthita, who objected to his constant int...
Citta called Hatthirohaputta (Hatthisāriputta).-A thera, son of an elephant trainer, who, having entered the Order, studied under the Buddha and gained special proficiency in distinguishing subtle differences in the meanings of words. Six times he left the Order and six times returned. His last quarrel was with Mahā Kotthita, who objected to his constant interruptions of the Elder's discussions regarding the Abhidhamma. (This incident is recorded at A.iii.392ff).
Xuất hiện trong kinh Wiki Tâm Học -Danh sách : Kinh Trường Bộ 009 Kinh Bố-sá-bà-lâu (Potthapāda sutta)
Citta called Hatthirohaputta (Hatthisāriputta).-A thera, son of an elephant trainer, who, having entered the Order, studied under the Buddha and gained special proficiency in distinguishing subtle differences in the meanings of words. Six times he left the Order and six times returned. His last quarrel was with Mahā Kotthita, who objected to his constant interruptions of the Elder's discussions regarding the Abhidhamma. (This incident is recorded at A.iii.392ff).
It is said (DA.ii.378f.; AA.ii.688) that in the time of Kassapa Buddha, Citta and a friend entered the Order. When the friend expressed a desire to return to household life, Citta encouraged him to do so, coveting his belongings. This was the reason for Citta's inability to remain in the Order. He was a friend of Potthapāda, and when he had returned for the sixth time to a householder's life, Potthapāda brought him to the Buddha. Citta listened to their conversation and asked questions regarding personality. At the end of the discourse (recounted in the Potthapāda Sutta) Citta once more joined the Order, never again to leave it, for he soon after became an arahant (D.i.199ff).
The Kuddāla Jātaka (J.i.311f) gives the circumstances in which he first joined the Order. He was a youth of good family at Sāvatthi. One day, while on his way home from ploughing, he received from the bowl of a certain Elder some rich and dainty food. In order to gain similar food for himself, he became a monk, but soon after, lust overcame him and he left the homeless life. Even after he became an arahant his colleagues are said to have taunted him, asking when he would be leaving them, and it was only when the Buddha told them that such a time would never be were they satisfied.
The same story, except for certain details, is also found in the Dhammapada Commentary (DhA.i.305ff), but there Citta is called Cittahattha, and a different explanation is given of his name: esa cittavasiko hutvā vicarati ti Cittahatthan ti nāmam karimsu. It is further stated that on the last occasion of his leaving home he saw his pregnant wife lying asleep and was so filled with revolt that he returned to the Order. He started forth at once, a yellow robe tied round his waist, and as he walked to the vihāra, he became a sotāpanna. The monks were at first reluctant to re-ordain him, but his importunity was so great that they relented, and in a few days he became an arahant.
Chánh Kinh:
POTTHAPÀDA vấn hỏi đức Phật về vấn đề diệt tận các Tăng Thượng Tưởng
Đức Phật bác bỏ những quan niệm sai lạc về cái gọi là “linh hồn” và trình bày quan điểm của Ngài. Theo quan niệm xa xưa của một số vị Sa Môn, Bà La Môn ngoại đạo, có ba quan điểm luận thuyết như sau:
Khi các vị này khiến Tưởng nhập vào trong người thì người ấy có Tưởng. Khi kéo Tưởng ra ngoài, thì người ấy không có Tưởng.
Đức Phật giải thích tuần tự cách thức diệt trừ các Tưởng
Đức Phật bác bỏ các luận thuyết trên và giải thích chính nhờ sự tu tập, các Tưởng có sanh có diệt. Ngài trình bày các định ở Sắc Giới để chứng minh sự sanh, sự diệt của các Tưởng trong Thiền Định.
Khi đạt đến Tưởng tột đỉnh, tự mình khởi lên Tưởng rằng, “Tâm còn suy tưởng có hại mà thôi, không suy tưởng mới tốt hơn. Nếu cứ tiếp tục suy tưởng, khi những tưởng này diệt đi, thì nhưng thô tưởng khác lại khởi lên; do vậy, đừng có suy tưởng.” Do không có suy tưởng, các tưởng được diệt tận, và các thô tưởng khác không khởi lên, vị tỳ khưu ấy cảm nhận sự diệt tận các Tưởng. Như vậy, sự chứng đạt trí tuệ diệt trừ dần dần các tăng thượng Tưởng.
Đức Phật nói đến sự khác biệt giữa một Tưởng và nhiều Tưởng, về Tưởng và Trí, về Tưởng và Tự Ngã
Với một cảm thọ về sự diệt tận của một Tưởng tiếp sau một Tưởng khác, vị tỳ khưu ấy sẽ đạt đến nhiều Tưởng tuyệt đỉnh sai khác, tiếp nối nhau và cho đến Tưởng tuyệt đỉnh cuối cùng.
Do duyên với Tưởng, Trí mới sanh khởi. Tưởng sanh khởi trước, Trí mới khởi sanh sau. Do Tưởng sanh thì Trí mới sanh.
Cần phải hiểu có ba loại Ngã Chấp:
Với người còn dị kiến, niềm tin và lý tưởng sai khác nhau, thiên tư và hạnh nguyện sai khác nhau, thì thật khó biết được về “Tưởng là tự ngã” hay “Tưởng khác, Tự Ngã khác.”
Phật không bàn luận về Vũ Trụ Quan và Nhận Định Quan
Với thái độ không độc tôn và không quá khích của mình về những vấn đề bất khả thuyết của Vũ Trụ Quan và Nhận Định Quan, như thế giới là Thường hay Vô Thường, đức Phật đã không đề cập đến vì không thuộc về đích giải thoát, không thuộc về pháp căn bản của Phạm Hạnh, không đưa đến yểm ly, ly dục, thắng trí, giác ngộ, và Níp Bàn.
Đức Phật không trả lời về thế giới Vô Thường hay Thường Tồn, Hữu Biên hay Vô Biên, Sinh Mạng và Thân Thể là một hay sai khác, Như Lai tồn tại hay không tồn tại sau khi tịch diệt, v.v… Đức Phật chỉ đề cập đến Tứ Đế, bốn chân lý Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Vì những vấn đề này thuộc về đích giải thoát, đưa đến Ly Dục, thuộc về pháp căn bản của Phạm Hạnh, và an vui Níp Bàn.
Khi dứt Pháp Thoại với POTTHAPÀDA thì cũng phải lẽ, nên Đức Thế Tôn từ chỗ ngồi, đứng dậy ra về. Và với phương pháp như thực, chân chánh, dùng Pháp làm cơ bản và quy tắc đã làm cho POTTHAPÀDA buộc miệng tán thành Đức Phật trước những du sĩ ngoại đạo hiện diện tại đấy.
Hai phương cách thuyết giảng của đức Phật
Hai ngày sau, CITTA HATTHISÀRIPUTTA và du sĩ ngoại đạo POTTHAPÀDA đi đến đảnh lễ đức Phật và nghe pháp. Đức Phật đã nói với CITTA HATTHISÀRIPUTTA và POTTHAPÀDA về hai phương cách thuyết giảng của Ngài như sau:
*Đức Phật bác bỏ mọi chủ kiến bất chánh phi lý về “Sau khi chết, Tự Ngã hoàn toàn hạnh phúc, vô bệnh”:
Pháp nhũ mà đức Phật khải thuyết nhằm diệt trừ mọi ngã chấp (ba Ngã Chấp kể trên) đã làm cho Tịnh Pháp được tăng trưởng, ngay hiện tại tự mình giác ngộ, thực chứng, thông đạt và an trú trí huệ, sung mãn quảng đại, thời khoan khoái sanh, hoan hỷ, khinh an, chánh niệm, chánh trí, lạc trú sanh khởi, và tuyệt diệt mọi khổ đau. Đó là những lời nói chân chánh hợp lý, khiến cho người thực hành theo được tự mình giác ngộ, thực chứng và an trú trí huệ, sung mãn quảng đại.
Đức Phật chỉ cách nhận định về ba Ngã Chấp theo Thời Gian
Để trả lời câu hỏi của CITTA HATTHISÀRIPUTTA về sự tồn tại của ba Ngã Chấp, đức Phật đã xác định như sau:
Tuy nhiên, tất cả những pháp kể trên chỉ là những danh tự thế gian, ngôn ngữ thế gian, danh xưng thế gian, ký pháp thế gian. Đức Phật dùng chúng, nhưng không chấp trước vào những pháp này
Sự tán thán và quy ngưỡng của POTTHAPÀDA và CITTA HATTHISÀRIPUTTA
Đức Thế Tôn khéo thuyết giảng Pháp Thoại, với nhiều phương tiện trình bày và giải thích, đã làm cho hai du sĩ ngoại đạo này tán thán, tỏ niềm tịnh tín, xin Quy Y Tam Bảo, và trọn đời quy ngưỡng.
Cuối cùng được sự chấp thuận của đức Phật, CITTA HATTHISÀRIPUTTA đã xuất gia và thọ Cụ Túc Giới. Với nhiệt tâm cần mẫn, độc cư an tịnh, không phóng dật, không bao lâu vị tỳ khưu này chứng được mục đích tối thượng mà con cháu các lương gia đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, hướng đến.
Đó là Vô Thượng Phạm Hạnh ngay trong hiện tại, tự tác chứng và an trú. Sanh đã tận. Phạm Hạnh đã thành. Việc nên làm đã làm. Sau đời này, sẽ không có đời sống khác nữa.
.
Chọn vấn đề bạn phát hiện. Quản trị viên sẽ nhận báo cáo kèm đúng trang hiện tại.
Liên kết bên dưới được dựng phía server từ các quan hệ đang có trong cơ sở dữ liệu Nikaya Tâm Học.
Các bài/Kinh liên kết trực tiếp với nhân vật này.
Mở danh sách nhân vật cùng nhóm hiện hữu.
Tính từ bài chung và địa danh chung ở backend.
- 09/14/2026 06:14:38- 822 Lượt xem
- 09/14/2026 06:14:38- 822 Lượt xem
- 09/14/2026 06:14:38- 822 Lượt xem
- 09/14/2026 06:14:38- 713 Lượt xem
- 09/14/2026 06:14:38- 713 Lượt xem
- 09/14/2026 06:14:38- 1055 Lượt xem
- 09/14/2026 06:14:38- 1289 Lượt xem
- 09/14/2026 06:14:38- 895 Lượt xem
- 09/14/2026 06:14:38- 1060 Lượt xem
- 09/14/2026 06:14:38- 774 Lượt xem
- 07/24/2026 20:48:16- 445 Lượt xem
- 07/24/2026 20:48:04- 443 Lượt xem
- 07/24/2026 20:47:51- 455 Lượt xem
- 07/24/2026 20:43:50- 379 Lượt xem
- 07/24/2026 20:43:37- 392 Lượt xem
- 07/24/2026 20:42:49- 412 Lượt xem
- 07/24/2026 20:42:36- 401 Lượt xem
- 07/24/2026 20:42:19- 412 Lượt xem