Nikaya Tâm HọcCon đường tuệ giác
Nikaya Tâm HọcKinh điển, nghiên cứu và các khu vực chính
Kinh sáchKinh điển, sách và tài liệu học Phật
Danh mục đầy đủ
Thời Phật Tại ThếBản đồ, Cuộc đời Đức Phật và Album ảnh
Bỏ qua menu, tới nội dung chính
Nikaya Tâm HọcKinh điển • Đức Phật • Nghiên cứu
Bhūta Thera (có anh chị ruột bị Dạ Xoa ăn thịt)
Nhân vật Phật học

Bhūta Thera (có anh chị ruột bị Dạ Xoa ăn thịt)

1. Bhūta Thera. Con trai của một cố vấn rất giàu có ở Sāketa , người con út và duy nhất của ông, những đứa con khác đã bị một con Dạ-xoa ăn thịt . Do đó, đứa trẻ được bảo vệ cẩn thận khi sinh ra, nhưng con Dạ-xoa trong lúc đó đã đi hầu hạ Vessavana và chưa trở về. Cậu bé được đặt tên là Bhūta để cho các loài phi nhân có thể bảo vệ cậu. Cậu lớn lên trong cảnh...

165 lượt xem #1032 mã dữ liệu Nam giới tính 14.11.2025 ngày khởi tạo 12.09.2026 cập nhật
Khám phá theo quan hệ: Bài viết Nhân vật Địa danh Sitemap tri thức
THÔNG TIN KHÁI QUÁT

Dữ liệu nhân vật

Xem kinh liên quan ↓
Giới tính
Nam
Mã dữ liệu
#1032
Khởi tạo
14/11/2025
Cập nhật gần nhất
17/11/2025 16:41
Lượt xem
165
Trạng thái nội dung
Có nội dung chính
Tóm lược

1. Bhūta Thera. Con trai của một cố vấn rất giàu có ở Sāketa , người con út và duy nhất của ông, những đứa con khác đã bị một con Dạ-xoa ăn thịt . Do đó, đứa trẻ được bảo vệ cẩn thận khi sinh ra, nhưng con Dạ-xoa trong lúc đó đã đi hầu hạ Vessavana và chưa trở về. Cậu bé được đặt tên là Bhūta để cho các loài phi nhân có thể bảo vệ cậu. Cậu lớn lên trong cảnh xa hoa, nhưng giống như Yasa , sau khi nghe Đức Phật thuyết giảng ở Sāketa, cậu đã gia nhập Tăng đoàn và sống bên bờ sông Ajakaranī , nơi cậu đã chứng quả A-la-hán. Sau đó, khi đến thăm họ hàng, cậu đã ở lại Añjanavana . Họ đã cầu xin cậu ở lại đó, nhưng cậu đã từ chối. Vào thời Đức Phật Tất Đạt Đa, ông là một Bà La Môn, và khi gặp Đức Phật, ông đã ca ngợi Ngài bằng bốn vần kệ. Mười bốn kiếp trước, ông đã lên ngôi vua bốn lần dưới tên Uggata. Thag.vs.518 26; ThagA.i.493ff. Có lẽ ông giống hệt với Parappasādaka Thera của Apadāna. Ap.i.113f.

HỒ SƠ Bhūta Thera (có anh chị ruột bị Dạ Xoa ăn thịt)

1. Bhūta Thera. The son of a very wealthy councillor of Sāketa, his last and only child, the others having been devoured by a Yakkha. The child was, therefore, well guarded at his birth, but the Yakkha had meanwhile gone to wait on Vessavana and had not returned. The boy was called Bhūta so that non humans might protect him. He grew up in great luxury, but, like Yasa, having heard the Buddha preach at Sāketa, he entered the Order and dwelt on the banks of the Ajakaranī, where he attained arahantship. Later, when visiting his relations, he stayed in the Añjanavana. They besought him to remain there, but this he refused to do.

In the time of Siddhattha Buddha he was a brahmin and, seeing the Buddha, he sang his praises in four verses. Fourteen kappas ago he became king four times under the name of Uggata. Thag.vs.518 26; ThagA.i.493ff.

He is probably identical with Parappasādaka Thera of the Apadāna. Ap.i.113f.

1. Bhūta Thera. Con trai của một cố vấn rất giàu có ở Sāketa , người con út và duy nhất của ông, những đứa con khác đã bị một con Dạ-xoa ăn thịt . Do đó, đứa trẻ được bảo vệ cẩn thận khi sinh ra, nhưng con Dạ-xoa trong lúc đó đã đi hầu hạ Vessavana và chưa trở về. Cậu bé được đặt tên là Bhūta để cho các loài phi nhân có thể bảo vệ cậu. Cậu lớn lên trong cảnh xa hoa, nhưng giống như Yasa , sau khi nghe Đức Phật thuyết giảng ở Sāketa, cậu đã gia nhập Tăng đoàn và sống bên bờ sông Ajakaranī , nơi cậu đã chứng quả A-la-hán. Sau đó, khi đến thăm họ hàng, cậu đã ở lại Añjanavana . Họ đã cầu xin cậu ở lại đó, nhưng cậu đã từ chối.

Vào thời Đức Phật Tất Đạt Đa, ông là một Bà La Môn, và khi gặp Đức Phật, ông đã ca ngợi Ngài bằng bốn vần kệ. Mười bốn kiếp trước, ông đã lên ngôi vua bốn lần dưới tên Uggata. Thag.vs.518 26; ThagA.i.493ff.

Có lẽ ông giống hệt với Parappasādaka Thera của Apadāna. Ap.i.113f.

Wiki Tâm Học -Danh sách : Trưởng lão tăng kệ - Phần 232 - Chương 9 : (CCXXXII) Bhùta (Thera. 54)

(CCXXXII) Bhùta (Thera. 54)


Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh tại ngoại thành Sàketa, con một hội viên giàu có trong Hội đồng thành phố, ngài là con út và người con độc nhất được sống sót, các người con khác bị một con Dạ-xoa thù nghịch ăn thịt. Ngài được canh gác cẩn mật, và con Dạ-xoa bận lên hầu Vessavana nên không về nữa. Khi đến tuổi đặt tên, ngài được đặt tên là Bhùta, vì do nguyện cầu được sanh ngài: ‘Mong rằng các hàng phi nhân có lòng từ hộ trì cho đứa trẻ’. Nhờ công đức của mình, ngài lớn lên không bị tai nạn gì, được nuôi dưỡng trong ba lâu đài như Yasa. Khi bậc Ðạo Sư đến Sàketa, ngài cùng với các cư sĩ khác đến tịnh xá nghe thuyết pháp. Sau khi xuất gia, ngài sống trong một hang động, trên bờ sông Ajakaranì. Tại đấy, ngài chứng quả A-la-hán. Sau đó ngài về thăm các bà con vì lòng từ mẫn và ở trong rừng Anjana. Khi các bà con yêu cầu ngài ở lại, vì lợi ích chung cho các bà con và cho ngài, ngài nói ngài ưa thích đời sống xuất gia và nói lên những bài kệ như sau, trước khi từ biệt các bà con:
518. Khi bậc trí thấy được,
Già chết là đau khổ,
Tại đấy, kẻ phàm phu,
Không thấy, chấp thủ khổ.
Sau khi liễu tri khổ,
Chánh niệm, tu thiền định,
Không tìm thấy lạc nào,
Ưu việt hơn lạc này.
519. Khi đoạn tận được ái,
Ái đem khổ, độc hại,
Tạo hý luận trói buộc,
Ðẩy mạnh đến đau khổ,
Sau khi đoạn tận ái,
Chánh niệm, tu thiền định,
Không tìm thấy lạc nào,
Ưu việt hơn lạc này.
520. Khi với tuệ, thấy được,
Con đường lành vô thượng,
Gồm hai lần bốn phần,
Tịnh trừ mọi phiền não,
Sau khi thấy với tuệ;
Chánh niệm tu thiền định,
Không tìm thấy lạc nào,
Ưu việt hơn lạc này.
521. Khi tu tập con đường,
Không sầu, không cấu uế,
Vô vi, an tịnh đạo,
Tịnh trừ mọi phiền não,
Chặt trói buộc kiết sử,
Chánh niệm, tu thiền định,
Không tìm thấy lạc nào,
Ưu việt hơn lạc này.
522. Khi trên trời vang rền,
Tiếng trống mây giông tố,
Khắp con đường chim bay,
Dòng mưa dày đặc đổ,
Tỷ-kheo đi đến hang,
Tu tập, ngồi thiền định,
Không tìm thấy lạc nào,
Ư u việt hơn lạc này.
523. Khi trên những bờ sông,
Những vòng hoa rừng núi,
Nở lên và chói sáng,
Với nhiều màu nhiều sắc,
Với tâm tư thoải mái,
Ngồi thiền trên bờ sông,
Không tìm thấy lạc nào,
Ưu việt hơn lạc này.
524. Khi nửa đêm, rừng vắng,
Trời đổ trận mưa rào,
Loài có ngà có nanh,
Ðang sống đang gầm thét,
Tỷ-kheo đến triền núi,
Ngồi yên lặng tọa thiền,
Không tìm thấy lạc nào,
Ưu việt hơn lạc này.
525. Khi tầm tứ chế ngự
Giữa núi, trong hang động
Thoải mái tự ngồi thiền,
Không sợ không chướng ngại
Không tìm thấy lạc nào,
Ưu việt hơn lạc này.
526. Khi ngồi được hỷ lạc,
Không uế chướng, không sầu,
Không tù túng, thoát ái,
Không bị mũi tên đâm,
Mọi lậu hoặc chấm dứt,
Vị ấy ngồi tọa thiền,
Không tìm thấy lạc nào,
Ưu việt hơn lạc này.


 

.

A HÀM

Xuất hiện trong các kinh A Hàm

Xem dạng thẻ →
Chưa có dữ liệu A Hàm liên kết.

Chưa có dữ liệu bản đồ cho nhân vật này.
KINH ĐIỂN Xuất hiện trong Nikaya

Xuất hiện ở nikaya khác ( tiểu bộ kinh )

TẠP A HÀM

Các bài kinh A Hàm có liên hệ với nhân vật





Đánh giá nội dungBài này hữu ích với bạn?/5 · 0 đánh giá
\n\n
ĐIỀU HƯỚNG TỪ DATABASE

Mạng liên kết nội dung

Liên kết bên dưới được dựng phía server từ các quan hệ đang có trong cơ sở dữ liệu Nikaya Tâm Học.

2liên kết

Kinh & bài có nhân vật

1 mục

Các bài/Kinh liên kết trực tiếp với nhân vật này.

Nhóm nhân vật

1 mục

Mở danh sách nhân vật cùng nhóm hiện hữu.