Nikaya Tâm HọcCon đường tuệ giác
Nikaya Tâm HọcKinh điển, nghiên cứu và các khu vực chính
Kinh sáchKinh điển, sách và tài liệu học Phật
Danh mục đầy đủ
Thời Phật Tại ThếBản đồ, Cuộc đời Đức Phật và Album ảnh
Bỏ qua menu, tới nội dung chính
Nikaya Tâm HọcKinh điển • Đức Phật • Nghiên cứu
 Tissa-kumāra (  Anh trai của Asoka)
Nhân vật Phật học

 Tissa-kumāra ( Anh trai của Asoka)

23. Tissa-kumāra. - Anh trai của Asoka và là phó vương của ông. Có lần ông hỏi Asoka tại sao các nhà sư không vui vẻ và hoạt bát. Để dạy ông lý do, Asoka đã cho ông lên ngôi một tuần, nói rằng vào cuối tuần đó ông sẽ bị xử tử. Lúc đó, Tissa nhận ra rằng các nhà sư, những người luôn ý thức về cái chết, không thể nào vui vẻ được. Sau đó, ngài xuất gia dưới sự...

230 lượt xem #1030 mã dữ liệu Nam giới tính 14.11.2025 ngày khởi tạo 09.09.2026 cập nhật
Khám phá theo quan hệ: Bài viết Nhân vật Địa danh Sitemap tri thức
THÔNG TIN KHÁI QUÁT

Dữ liệu nhân vật

Xem kinh liên quan ↓
Giới tính
Nam
Mã dữ liệu
#1030
Khởi tạo
14/11/2025
Cập nhật gần nhất
17/11/2025 16:42
Lượt xem
230
Trạng thái nội dung
Có nội dung chính
Tóm lược

23. Tissa-kumāra. - Anh trai của Asoka và là phó vương của ông. Có lần ông hỏi Asoka tại sao các nhà sư không vui vẻ và hoạt bát. Để dạy ông lý do, Asoka đã cho ông lên ngôi một tuần, nói rằng vào cuối tuần đó ông sẽ bị xử tử. Lúc đó, Tissa nhận ra rằng các nhà sư, những người luôn ý thức về cái chết, không thể nào vui vẻ được. Sau đó, ngài xuất gia dưới sự hướng dẫn của Yonaka Mahādhammarakkhita và sống tại Asokārāma, nơi ngài ngăn chặn việc sát hại các vị trưởng lão do vị quan do Asoka phái đến để bắt các vị sư cùng nhau tổ chức lễ Uposatha. Ngài đắc quả A-la-hán, và vì lòng yêu thích sự cô tịch, ngài được biết đến với danh hiệu Ekavihāriya. Thag.vv.537-46; ThagA.i.503f; Mhv.v.33, 60, 154ff, 241; SA.iii.125.

HỒ SƠ  Tissa-kumāra ( Anh trai của Asoka)

23. Tissa-kumāra.-Brother of Asoka and his vice-regent. He once asked Asoka why monks were not joyful and gay and Asoka, in order to teach him the reason, gave him the throne for a week, saying that at the end of the week he would be put to death. Tissa then realised that monks, who had the constant consciousness of death, could not be merry.

He later became a monk under Yonaka Mahādhammarakkhita and lived in the Asokārāma, where he prevented the murder of the theras by the minister sent by Asoka to make the monks hold the uposatha together. He became an arahant and, on account of his love of solitude, came to be known as Ekavihāriya. Thag.vv.537-46; ThagA.i.503f; Mhv.v.33, 60, 154ff, 241; SA.iii.125.

23. Tissa-kumāra. - Anh trai của Asoka và là phó vương của ông. Có lần ông hỏi Asoka tại sao các nhà sư không vui vẻ và hoạt bát. Để dạy ông lý do, Asoka đã cho ông lên ngôi một tuần, nói rằng vào cuối tuần đó ông sẽ bị xử tử. Lúc đó, Tissa nhận ra rằng các nhà sư, những người luôn ý thức về cái chết, không thể nào vui vẻ được.

Sau đó, ngài xuất gia dưới sự hướng dẫn của Yonaka Mahādhammarakkhita và sống tại Asokārāma, nơi ngài ngăn chặn việc sát hại các vị trưởng lão do vị quan do Asoka phái đến để bắt các vị sư cùng nhau tổ chức lễ Uposatha. Ngài đắc quả A-la-hán, và vì lòng yêu thích sự cô tịch, ngài được biết đến với danh hiệu Ekavihāriya. Thag.vv.537-46; ThagA.i.503f; Mhv.v.33, 60, 154ff, 241; SA.iii.125.

Wiki Tâm Học -Danh sách : Trưởng lão tăng kệ - Phần 234 - Chương 10 : (CCXXXIV) Ekavihàriya (Tissa Kumàra) (Thera. 57)

(CCXXXIV) Ekavihàriya (Tissa Kumàra) (Thera. 57)


Ngài sanh ra, sau khi đức Phật đã nhập Niết-bàn là con trai nhỏ nhất của vua Dhammàsoka. Vua Asoka, đến năm thứ 218 sau khi đức Phật nhập Niết-bàn, đã thống nhất toàn thể Ấn Ðộ trong một đế quốc. Vua phong em trai thứ ngài là Tissa làm Phó vương, và vận động em ngài ủng hộ cho Giáo hội.
Còn ngài trong khi đi săn thấy Trưởng lão Mahà Dhammarakkhita ngồi dưới gốc cây, cảm xúc rất mạnh, tự mình muốn sống trong rừng. Khi ngài chứng kiến Trưởng lão hiện thần thông, ngài trở về lâu đài, và nói với vua Asoka ngài muốn từ bỏ cuộc đời thế tục. Vua Asoka không thể làm ngài thay đổi sự quyết định của mình. Tha thiết sống đời sống một ẩn sĩ, ngài nói lên những bài kệ như sau:
537. Khi trước mặt sau lưng,
Không có một người nào,
Như vậy an lạc lớn,
Sống một mình trong rừng.
538. Ta sẽ đi một mình,
Ðến ngôi rừng Phật khen,
Hưởng an lạc đã được,
Vị Tỷ-kheo thọ hưởng,
Nhờ sống đời tinh tấn,
Sống riêng chỉ một mình.
539. Ta sẽ gấp vào rừng,
Một mình, sống lý tưởng,
Ngôi rừng được loài voi,
Cuồng loạn sống tự do,
Trú xứ đem hoan hỷ,
Cho ẩn sĩ thiền định.
540. Trong ngôi rừng Sì-ta,
Với núi hang nước mát,
Sau khi rửa tay chân,
Ta kinh hành một mình.
541. Sống một, không sống hai,
Trong rừng lớn đẹp đẽ,
Ta sẽ sống tại đấy,
Việc xong, không lậu hoặc.
542. Như vậy, ta muốn làm,
Mong ước nguyện thành tựu,
Ta sẽ có lòng tin,
Không ai làm ai được.
543. Ta cột áo giáp lại,
Sẽ vào trong rừng sâu,
Ta không ra khỏi rừng,
Nếu chưa đạt lậu tận.
544. Trong khi gió nhẹ thổi,
Mát lạnh, thơm mùi hương,
Ta ngồi trên chỏm núi,
Ta sẽ phá vô minh.
545. Trên tấm thảm hang động,
Trải đầy những hoa rừng,
Ta hưởng lạc giải thoát,
Tại vòng đai núi rừng.
546. Chí nguyện ta viên mãn,
Giống như mặt trăng rằm.
Mọi lậu hoặc tận trừ,
Nay không còn tái sanh.

.

A HÀM

Xuất hiện trong các kinh A Hàm

Xem dạng thẻ →
Chưa có dữ liệu A Hàm liên kết.

Chưa có dữ liệu bản đồ cho nhân vật này.
KINH ĐIỂN Xuất hiện trong Nikaya

Xuất hiện ở nikaya khác ( tiểu bộ kinh )

TẠP A HÀM

Các bài kinh A Hàm có liên hệ với nhân vật





Đánh giá nội dungBài này hữu ích với bạn?/5 · 0 đánh giá
\n\n
ĐIỀU HƯỚNG TỪ DATABASE

Mạng liên kết nội dung

Liên kết bên dưới được dựng phía server từ các quan hệ đang có trong cơ sở dữ liệu Nikaya Tâm Học.

2liên kết

Kinh & bài có nhân vật

1 mục

Các bài/Kinh liên kết trực tiếp với nhân vật này.

Nhóm nhân vật

1 mục

Mở danh sách nhân vật cùng nhóm hiện hữu.