Maha Kokālika ( Tỳ kheo phe cánh với Devadatta)
1. Kokālika (Kokāliya). - Một vị sư, một trong những người ủng hộ chính của Devadatta . Biết được sức mạnh của Đức Phật , lúc đầu, ông không muốn tham gia vào âm mưu của Devadatta chống lại Ngài, nhưng sau đó đã để mình bị thuyết phục sau khi nghe âm mưu được giải thích (Vin.ii.196; iii.171). Khi các nhà sư đổ lỗi cho Devadatta về những hành vi sai trái của ông, Kokālika luôn sẵn sàng bảo vệ ông (Vin.iii.174). Khi những thành quả của Devadatta giảm sút, Kokālika đi khắp nơi ca ngợi ông, sự ra đời, những thành tựu và sự thánh thiện của ông, và nhiều người đã tin ông (J.ii.438f). Ông là một người bạn tuyệt vời của Thullanandā (Vin.iv.335).
ID:626
Các tên gọi khác
General Information
| Roll | : | 125 |
|---|---|---|
| Academic Year | : | 2020 |
| Gender | : | Nam |
| Khởi tạo | : | 2025-06-09 12:37:47 |
| Chỉnh sửa gần nhất | : | 11/18/2025 19:00:59 |
1. Kokālika (Kokāliya).-A monk, one of the chief partisans of Devadatta. Knowing the Buddha's might, he was, at first, reluctant to join in Devadatta's plot against him, but later allowed himself to be persuaded on hearing the scheme explained (Vin.ii.196; iii.171). When the monks blamed Devadatta for his misdeeds, Kokālika was always ready to defend him (Vin.iii.174). When Devadatta's gains diminished, Kokālika went about praising him, his birth, accomplishments and holiness, and many believed him (J.ii.438f). He was a great friend of Thullanandā (Vin.iv.335). We are told that once he expressed resentment because he had never been asked to recite the texts; so one day the monks gave him his chance. He ate his favourite soup, and at sundown, wearing a blue lower robe and an outer robe of white and carrying an elegantly carved fan, he appeared in the assembly. But when he tried to recite sweat poured from his body and he was utterly confused. Henceforth the monks knew that his claim to learning was but pretence (J.ii.65f). Several Jātakas are related showing how, in previous births also, Kokālika had come to grief because of his fondness for talk and how he had been the accomplice of Devadatta. He is identified with Buddhaghosa says (SNA.ii.473; AA.ii.850; SA.i.167) that this Kokālika was a brahmin and a pupil of Devadatta, and that he was called Mahā Kokālika to distinguish him from another Kokālika who was similarly called Cūla Kokālika (see Kokālika 2). There seems to be great confusions in the stories of these two men - if they were really two. In the Jātaka Commentary, for instance, the introductory stories of several of the Jātakas refer to the Takkāriya Jātaka for details of Kokālika, obviously having in mind Devadatta's partisan; but the introductory story of the Takkāriya Jātaka is identical with that related elsewhere of Cūla Kokālika. See also DhA.iv.91f, where the story of the talkative tortoise is related to Kokālika of the Kokālika Sutta which, according to Buddhaghosa (SNA.ii.473) refers to Cūla Kokālika. In the Vyaggha Jātaka (J.ii.356) Kokālika is mentioned as having tried to persuade Sāriputta and Moggallāna to go with him to his own country and as having been very angry when they refused. Possibly this story also refers to Cūla Kokālika. See also Devadatta. 1. Kokālika (Kokāliya). - Một vị sư, một trong những người ủng hộ chính của Devadatta . Biết được sức mạnh của Đức Phật , lúc đầu, ông không muốn tham gia vào âm mưu của Devadatta chống lại Ngài, nhưng sau đó đã để mình bị thuyết phục sau khi nghe âm mưu được giải thích (Vin.ii.196; iii.171). Khi các nhà sư đổ lỗi cho Devadatta về những hành vi sai trái của ông, Kokālika luôn sẵn sàng bảo vệ ông (Vin.iii.174). Khi những thành quả của Devadatta giảm sút, Kokālika đi khắp nơi ca ngợi ông, sự ra đời, những thành tựu và sự thánh thiện của ông, và nhiều người đã tin ông (J.ii.438f). Ông là một người bạn tuyệt vời của Thullanandā (Vin.iv.335). Chúng ta được kể rằng có lần ông đã bày tỏ sự phẫn nộ vì ông chưa bao giờ được yêu cầu đọc lại các văn bản; vì vậy một ngày nọ, các nhà sư đã cho ông cơ hội. Ngài ăn món súp ưa thích, và lúc hoàng hôn, mặc áo ngoài màu xanh lam, áo trong màu trắng, tay cầm một chiếc quạt chạm trổ tinh xảo, ngài xuất hiện trước hội chúng. Nhưng khi ngài cố gắng tụng niệm, mồ hôi tuôn ra từ khắp người và ngài hoàn toàn bối rối. Từ đó, các nhà sư biết rằng lời tuyên bố học thức của ngài chỉ là giả vờ (J.ii.65f). Một số câu chuyện Jātaka có liên quan cho thấy rằng, trong những kiếp trước, Kokālika cũng đã gặp phải đau khổ vì sở thích nói chuyện và vì ông đã là đồng phạm của Devadatta. Ông được xác định là Buddhaghosa nói (SNA.ii.473; AA.ii.850; SA.i.167) rằng Kokālika này là một bà-la-môn và là học trò của Devadatta, và ông được gọi là Mahā Kokālika để phân biệt với một Kokālika khác cũng được gọi là Cūla Kokālika (xem Kokālika 2). Dường như có rất nhiều sự nhầm lẫn trong câu chuyện về hai người này - nếu họ thực sự là hai. Ví dụ, trong Chú giải Jātaka, những câu chuyện mở đầu của một số truyện Jātaka đề cập đến Takkāriya Jātaka để biết chi tiết về Kokālika, rõ ràng là ám chỉ đến người theo phe Devadatta; nhưng câu chuyện mở đầu của Takkāriya Jātaka lại giống hệt với câu chuyện được kể ở những nơi khác về Cūla Kokālika. Xem thêm DhA.iv.91f, trong đó câu chuyện về con rùa lắm lời có liên quan đến Kokālika của Kokālika Sutta , theo Buddhaghosa (SNA.ii.473) thì ám chỉ đến Cūla Kokālika. Trong Vyaggha Jātaka (J.ii.356), Kokālika được nhắc đến là đã cố gắng thuyết phục Sāriputta và Moggallāna đi cùng mình về quê hương và đã rất tức giận khi họ từ chối. Có lẽ câu chuyện này cũng ám chỉ Cūla Kokālika. Xem thêm Devadatta .
Đây là vị tỳ kheo xuất hiện cả trong luật tạng Pali ( giới tỳ kheo) ; vị này thuộc phe cánh Devadatta
Điều học thứ nhất về chia rẽ hội chúng
Xuất hiện trong các kinh A Hàm

Mốc I : Hoàn cảnh trước khi Phật ra đời
Mốc II : Sự kiện Phật đản sanh
Mốc III: Giai đoạn tuổi thơ của Bồ tát Tất Đạt Đa
Mốc IV : Giai đoạn trưởng thành - xuất gia
Mốc V : Tầm đạo
Mốc VI : Thành đạo
Mốc VII: Những vị đệ tử đầu tiên
Mốc VIII : Tăng đoàn lớn mạnh
Mốc IX: Mười ba năm cuối cuộc đời Đức Phật
Mốc X : Đức Phật nhập niết bàn