NTPG.Q05.B04 P2. PHƯỚC-THIỆN HÀNH-THIỀN (Bhāvanākusala)
PHƯỚC-THIỆN HÀNH-THIỀN (Bhāvanākusala) Bhāvanākusala: Phước-thiện hành-thiền Định nghĩa Bhāvanā: “Kusaladhamme bhāveti uppādeti vaḍḍhatī’ti bhāvanā”. Trạng-thái nào làm cho thiện-pháp bậc cao phát sinh lên đầu tiên, rồi làm cho thiện-pháp ấy phát triển, trạng- thái ấy gọi là bhāvanākusala: phước-thiện hành-thiền.
ID:6036
Các tên gọi khác
General Information
Ngày khởi tạo : 2025-08-17 16:25:53
Edit time : 01/01/1970 00:00:00 - Số lần chỉnh sửa : 0
| Danh sách | : | Liên quan |
|---|---|---|
| : |
- PHƯỚC-THIỆN HÀNH-THIỀN (Bhāvanākusala)
Bhāvanākusala: Phước-thiện hành-thiền
Định nghĩa Bhāvanā:
“Kusaladhamme bhāveti uppādeti vaḍḍhatī’ti bhāvanā”.
Trạng-thái nào làm cho thiện-pháp bậc cao phát sinh lên đầu tiên, rồi làm cho thiện-pháp ấy phát triển, trạng- thái ấy gọi là bhāvanākusala: phước-thiện hành-thiền.
Định nghĩa bhāvanā có 2 giai đoạn:
- Giai đoạn đầu: Kusaladhamme bhāveti uppādeti:
Trạng-thái làm cho thiện-pháp bậc cao phát sinh lên đầu tiên.
- Giai đoạn sau: Kusaladhamme bhāveti vaḍḍhati:
Trạng-thái làm cho thiện-pháp bậc cao phát triển, và tăng trưởng lên.
Bhāvanā có 2 loại:
- Samathabhāvanā: Pháp-hành thiền-định.
- Vipassanābhāvanā: Pháp-hành thiền-tuệ.
Pháp-hành thiền-định là pháp-hành có định-tâm đồng sinh với thiện-tâm an trú trong một đề-mục thiền-định duy nhất (thuộc về đối-tượng chế-định-pháp (paññatti- dhamma)), ban đầu chế-ngự được phiền-não là 5 pháp- chướng-ngại (nivaraṇa) bằng 5 chi-thiền, dẫn đến chứng đắc 5 bậc thiền sắc-giới thiện-tâm và tiếp theo chứng đắc 4 bậc thiền vô-sắc-giới thiện-tâm.
Định-tâm an trú trong bậc thiền, hưởng sự an-lạc trong bậc thiền ấy.
Như vậy, gọi là pháp-hành thiền-định.
- Thế nào gọi là pháp-hành thiền-tuệ?
Pháp-hành thiền-tuệ là pháp-hành làm phát sinh trí- tuệ thiền-tuệ thấy rõ, biết rõ thật-tánh của sắc-pháp, danh-pháp tam-giới (thuộc về chân-nghĩa-pháp (para- matthadhamma)), trí-tuệ thiền-tuệ thấy rõ, biết rõ sự sinh, sự diệt của sắc-pháp, danh-pháp tam-giới, nên thấy rõ, biết rõ 3 trạng-thái chung: trạng-thái vô-thường, trạng-thái khổ, trạng-thái vô-ngã, dẫn đến chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, chứng đắc 4 Thánh-đạo, 4 Thánh- quả, Niết-bàn, diệt tận mọi phiền-não, mọi tham-ái, trở thành bậc Thánh A-ra-hán, giải thoát khổ tử sinh luân- hồi trong 3 giới 4 loài.
Như vậy, gọi là pháp-hành thiền-tuệ.
- Thực-hành pháp-hành thiền-định như thế nào?
Muốn thực-hành pháp-hành thiền-định, hành-giả cần phải học hỏi hiểu biết rõ 40 đề-mục thiền-định, rồi chọn một đề-mục thiền-định thích hợp với bản tính riêng của mình, làm đối tượng để thực-hành pháp-hành thiền-định, với đề-mục thiền-định ấy, cho được thuận lợi dễ phát triển thiền định.
Thiền-định gồm có 40 đề-mục:
- 10 đề-mục hình tròn (kasiṇa).
- 10 đề-mục tử thi (asubha).
- 10 đề-mục niệm-niệm (anussati).
- 4 đề-mục tứ vô-lượng-tâm (appamaññā).
- 1 đề-mục vật thực đáng gớm (āhāre paṭikkūlasaññā).
- 1 đề-mục phân tích tứ đại (catudhātuvavatthāna).
- 4 đề-mục vô-sắc-giới (āruppa).
(Nên xem bộ “Nền-Tảng-Phật-Giáo”, quyển VII, tập 1: “Pháp-Hành Thiền-Định”, cùng soạn giả).
Sau khi chọn một đề mục nào phù hợp với bản tính của mình xong, hành-giả nên tìm đến Ngài Trưởng-Lão thiền sư uyên thâm về pháp-học Phật-Giáo, đầy đủ kinh nghiệm về pháp-hành Phật-Giáo nhất là pháp-hành thiền-định, để nương nhờ học hỏi phương pháp thực- hành pháp-hành thiền-định về đề-mục thiền-định ấy.
Trong 40 đề-mục thiền-định làm đối tượng của pháp- hành thiền-định, mỗi đề-mục thiền-định có tính chất khả năng khác nhau như sau:
- 10 đề-mục thiền-định đạt đến cận-định (upacārasamādhi):
- Trong 40 đề-mục thiền-định đều đạt đến cận-định (upacārasamādhi) cả thảy, nhưng có 10 đề-mục thiền- định chỉ đạt đến upacārasamādhi: cận-định mà thôi, không thể dẫn đạt đến appanāsamādhi: an-định, nên không thể chứng đắc bậc thiền nào cả.
10 đề-mục thiền-định ấy là:
- Đề-mục niệm-niệm 9 Ân-Đức-Phật (Buddhānussati).
- Đề-mục niệm-niệm 6 Ân-Đức-Pháp (Dhammānussati).
- Đề-mục niệm-niệm 9 Ân-Đức-Tăng (Saṃghānussati).
- Đề-mục niệm-niệm về giới trong sạch của mình (Sīlānussati).
- Đề-mục niệm-niệm về sự bố-thí của mình (Cāgānussati).
- Đề-mục niệm-niệm về 5 pháp Chư-thiên có nơi mình (Devatānussati).
- Đề-mục niệm-niệm về trạng-thái tịch tịnh an-lạc Niết-bàn (Upasamānussati).
- Đề-mục niệm-niệm về sự chết (Maraṇānussati).
- Đề-mục vật thực đáng ghê tởm (Āhārepaṭikkūlasaññā).
- Đề-mục phân tích tứ-đại (catudhātuvavatthāna).
Bởi vì 10 đề-mục thiền-định này là những đề-mục thiền-định vô cùng vi-tế, vô cùng sâu sắc, rộng lớn mênh mông bao la, nên định-tâm không thể an trú trong một đối-tượng nào nhất định, cho nên, 10 đề-mục thiền-định này chỉ có khả năng đạt đến upcārasamādhi: tâm cận- định mà thôi.
Tâm cận-định này còn thuộc về dục-giới thiện-tâm.
30 đề-mục thiền-định chứng đắc bậc thiền
- 30 đề-mục thiền-định còn lại là:
- 10 đề-mục thiền-định (kasiṇa).
- 10 đề-mục thiền-định tử-thi (asubha).
- 1 đề-mục thiền-định niệm 32 thể trọc trong thân (kāyagatāsati).
- 1 đề-mục thiền-định hơi thở vào, hơi thở ra (ānāpānassati).
- 4 đề-mục thiền-định tứ vô-lượng-tâm (appamaññā).
- 4 đề-mục thiền-định vô-sắc (āruppa).
Như vậy, 30 đề-mục thiền-định này đều có khả năng tiến hành đạt đến apanāsamādhi: an-định, nên dẫn đến
chứng đắc bậc thiền sắc-giới thiện-tâm hoặc bậc thiền vô-sắc-giới thiện-tâm.
Hành-giả chứng đắc bậc thiền sắc-giới thiện-tâm nào hoặc bậc thiền vô-sắc-giới thiện-tâm nào, tùy theo mỗi đề-mục thiền-định ấy.
Đệ nhất thiền sắc-giới thiện-tâm
Trong 30 đề-mục thiền-định ấy, có 11 đề-mục thiền- định chỉ có khả năng dẫn đến chứng đắc đệ nhất thiền sắc-giới thiện-tâm mà thôi, đó là:
- 10 đề-mục thiền-định tử-thi (asubha).
- 1 đề-mục niệm 32 thể trọc (trược) trong thân (kāyagatāsati).
11 đề-mục thiền-định này chỉ có khả năng dẫn đến chứng đắc đệ nhất thiền sắc-giới thiện-tâm mà thôi.
Nếu hành-giả chọn 1 trong 11 đề-mục thiền-định này làm đối-tượng để thực-hành pháp-hành thiền-định thì đề- mục thiền-định ấy chỉ có khả năng dẫn đến chứng đắc đệ nhất thiền sắc-giới thiện-tâm mà thôi, bởi vì 11 đề-mục thiền-định này là đối-tượng thô, nên luôn luôn cần phải nương nhờ chi-thiền hướng-tâm (vitakka) đến đề-mục thiền-định ấy mới có thể dẫn đến chứng đắc đệ nhất thiền sắc-giới thiện-tâm được.
Nếu hành-giả muốn chứng đắc đệ nhị thiền sắc-giới thiện-tâm, v.v… bậc cao, thì hành-giả cần phải thay đổi sang đề-mục thiền-định khác.
4 bậc thiền sắc-giới bậc thấp
Trong 19 đề-mục thiền-định còn lại, có 3 đề-mục thiền-định chỉ có khả năng dẫn đến chứng đắc từ đệ nhất thiền sắc-giới thiện-tâm cho đến đệ tứ thiền sắc-giới thiện-tâm mà thôi, đó là
3 đề-mục thiền-định này chỉ có khả năng dẫn đến chứng đắc từ đệ nhất thiền sắc-giới thiện-tâm cho đến đệ tứ thiền sắc-giới thiện-tâm mà thôi.
Nếu hành-giả chọn 1 trong 3 đề-mục-thiền định vô- lượng-tâm này làm đối-tượng để thực-hành pháp-hành thiền-định thì đề-mục thiền-định vô-lượng-tâm này chỉ có khả năng dẫn đến chứng đắc từ đệ nhất thiền sắc-giới thiện-tâm cho đến đệ tứ thiền sắc-giới thiện-tâm mà thôi, không thể chứng đắc đến đệ ngũ thiền sắc-giới thiện-tâm được, bởi vì 3 đề-mục thiền-định vô-lượng-tâm này luôn luôn cần phải có chi-thiền lạc (sukha), mà đệ ngũ thiền sắc-giới thiện-tâm cần phải có chi-thiền xả (upekkhā) thay thế cho chi-thiền lạc.
Cho nên, muốn chứng đắc đệ ngũ thiền sắc-giới thiện- tâm, hành-giả cần phải thay đổi sang đề-mục niệm rải tâm xả (upekkhā) đến chúng-sinh vô lượng mà thôi, không thể có đề-mục thiền-định nào khác.
Đệ ngũ thiền sắc-giới thiện-tâm
- Đề-mục thiền-định niệm rải tâm xả (upekkhā) đến chúng-sinh vô lượng majjhattasattapaññatti không thương không ghét này chỉ có khả năng chứng đắc đệ ngũ thiền sắc-giới thiện-tâm mà thôi, nên hành-giả không thể sử dụng đề-mục thiền-định này khi bắt đầu thực-hành, mà chỉ sử dụng sau khi hành-giả đã chứng đắc đệ tứ thiền sắc-giới thiện-tâm của 1 trong 3 đề-mục thiền-định là đề-mục niệm rải tâm từ (mettā) hoặc đề-mục niệm rải tâm bi (karuṇā) hoặc đề-mục niệm rải tâm hỷ (muditā) đến chúng-sinh vô lượng mà thôi, bởi vì 4 đề-mục thiền- định tứ vô-lượng-tâm này cùng có đối-tượng chúng-sinh
chế-định (sattapaññatti) giống nhau, chỉ có khác tính chất mỗi loại chúng-sinh mà thôi.
5 bậc thiền sắc-giới thiện-tâm
- 11 đề-mục thiền-định là:
- 10 đề-mục thiền-định (kasiṇa).
- Đề-mục thiền-định hơi thở vào - hơi thở ra (ānāpānassati).
11 đề-mục thiền-định này có khả năng dẫn đến chứng đắc đầy đủ 5 bậc thiền sắc-giới-thiện-tâm.
Nếu hành-giả chọn 1 trong 11 đề-mục thiền-định này làm đối-tượng để thực-hành pháp-hành thiền-định thì mỗi đề-mục thiền-định ấy đều có khả năng dẫn đến chứng đắc từ đệ nhất thiền sắc-giới thiện-tâm cho đến đệ ngũ thiền sắc-giới thiện-tâm mà không cần phải thay đổi sang đề-mục thiền-định khác.
4 bậc thiền vô-sắc-giới thiện-tâm
Sau khi đã chứng đắc đầy đủ 5 bậc thiền sắc-giới thiện- tâm, hành-giả muốn tiếp tục thực-hành pháp-hành thiền- định, để chứng đắc 4 bậc thiền vô-sắc-giới thiện-tâm.
Mỗi đề-mục thiền-định vô-sắc chỉ có khả năng chứng đắc mỗi bậc thiền vô-sắc-giới thiện-tâm riêng biệt mà thôi như sau:
- Đề-mục thiền-định vô-sắc thứ nhất là đề-mục ākāsapaññatti chỉ dẫn đến chứng đắc đệ nhất thiền vô- sắc-giới thiện-tâm gọi là ākāsānañcāyatanakusalacitta: không-vô-biên-xứ thiện-tâm mà thôi.
- Đề-mục thiền-định vô-sắc thứ nhì là đề-mục ākāsānañcāyatanakusalacitta chỉ dẫn đến chứng đắc đệ nhị thiền vô-sắc-giới thiện-tâm gọi là viññāṇañcāyatana- kusalacitta: thức-vô-biên-xứ thiện-tâm mà thôi.
- Đề-mục thiền-định vô-sắc thứ ba là đề-mục natthibhāvapaññatti chỉ dẫn đến chứng đắc đệ tam thiền vô-sắc-giới thiện-tâm gọi là ākiñcaññāyatanakusala- citta: vô-sở-hữu-xứ thiện-tâm mà thôi.
- Đề-mục thiền-định vô-sắc thứ tư là đề-mục ākiñcaññāyatanakusalacitta chỉ dẫn đến chứng đắc đệ tứ thiền vô-sắc-giới thiện-tâm gọi là nevasaññānāsaññā- yatanakusalacitta: phi-tưởng phi-phi-tưởng-xứ thiện-tâm mà thôi.
Đó là 4 đề-mục thiền-định vô-sắc mà mỗi đề-mục riêng biệt làm đối-tượng có khả năng dẫn đến chứng đắc mỗi bậc thiền vô-sắc-giới thiện-tâm riêng biệt.
Như vậy, pháp-hành thiền-định có 40 đề-mục thiền- định chia ra làm 3 loại:
- Đề-mục thiền-định dẫn đến cận-định (upacāra- samādhi) có 10 đề-mục, vẫn còn dục-giới thiện-tâm.
- Đề-mục thiền-định dẫn đến an-định (appanā- samādhi) có 26 đề-mục, chứng đắc 5 bậc thiền sắc-giới thiện-tâm.
- Đề-mục thiền-định vô-sắc dẫn đến an-định (appanāsamādhi) có 4 đề-mục vô-sắc mà mỗi đề-mục thiền-định vô-sắc chỉ dẫn đến chứng đắc mỗi bậc thiền vô-sắc-giới thiện-tâm riêng biệt mà thôi.
- Sắc-giới thiện-tâm có 5 bậc thiền
Đối với hành-giả thuộc hạng người mandapuggala hành-giả có trí-tuệ chậm thực-hành pháp-hành thiền- định có khả năng chứng đắc 5 bậc thiền sắc-giới thiện- tâm theo tuần tự như sau:
- Đệ nhất thiền sắc-giới-tâm có 5 chi-thiền là vitakka (hướng-tâm), vicāra (quan-sát), pīti (hỷ), sukha (lạc),
ekaggatā (nhất-tâm) do chế ngự đè nén được 5 pháp- chướng-ngại (nivāraṇa) là tham-dục (kāmacchanda), sân- hận (byāpada), buồn-chán - buồn-ngủ (thīna-middha), phóng-tâm - hối-hận (uddhacca-kukkucca), hoài-nghi (vicikicchā).
Mỗi chi-thiền có khả năng chế ngự được mỗi pháp- chướng-ngại như sau:
- Hướng-tâm chế ngự được buồn-chán - buồn-ngủ.
- Quan-sát chế ngự được hoài-nghi.
- Hỷ chế ngự được sân-hận.
- Lạc chế ngự được phóng-tâm - hối-hận.
- Nhất-tâm chế ngự được tham-dục.
- Đệ nhị thiền sắc-giới-tâm có 4 chi-thiền là vicāra (quan-sát), pīti (hỷ), sukha (lạc), ekaggatā (nhất-tâm) do chế ngự được chi-thiền vitakka (hướng-tâm), bởi vì chi- thiền này có trạng-thái thô.
- Đệ tam thiền sắc-giới-tâm có 3 chi-thiền là pīti (hỷ), sukha (lạc), ekaggatā (nhất-tâm) do chế ngự được chi-thiền vicāra (quan-sát), bởi vì chi-thiền này có trạng-thái thô.
- Đệ tứ thiền sắc-giới-tâm có 2 chi-thiền là sukha (lạc), ekaggatā (nhất-tâm) do chế ngự được chi-thiền pīti (hỷ), bởi vì chi-thiền này có trạng-thái thô.
- Đệ ngũ thiền sắc-giới-tâm có 2 chi-thiền là upekkhā (xả), ekaggatā (nhất-tâm) do chế ngự bằng cách thay thế được chi-thiền sukha (lạc), bởi vì chi-thiền này có trạng-thái thô.
- Sắc-giới thiện-tâm có 4 bậc thiền
Đối với hành-giả thuộc hạng người tikkhapuggala
hành-giả có trí-tuệ sắc bén nhanh nhạy thực-hành pháp-
hành thiền-định có khả năng suy xét thấy rõ, biết rõ trạng-thái thô của chi-thiền vitakka (hướng-tâm) và chi- thiền vicāra (quan-sát) cùng một lúc, nên đệ nhị thiền sắc-giới thiện-tâm có 3 chi-thiền là pīti (hỷ), sukha (lạc), ekaggatā (nhất-tâm). Cho nên, hành-giả thuộc hạng người tikkhapuggala chỉ có 4 bậc thiền sắc-giới thiện- tâm theo tuần tự như sau:
- Đệ nhất thiền sắc-giới thiện-tâm có 5 chi-thiền là vitakka (hướng-tâm), vicāra (quan-sát), pīti (hỷ), sukha (lạc), ekaggatā (nhất-tâm) do chế ngự đè nén được 5 pháp-chướng-ngại (nivāraṇa) là tham-dục (kāmac- chanda), sân-hận (byāpada), buồn-chán - buồn-ngủ (thina-middha), phóng-tâm - hối-hận (uddhacca- kukkucca), hoài-nghi (vicikicchā).
- Đệ nhị thiền sắc-giới thiện-tâm có 3 chi-thiền là pīti (hỷ), sukha (lạc), ekaggatā (nhất-tâm) do chế ngự được 2 chi-thiền là chi-thiền vitakka (hướng-tâm) và chi- thiền vicāra (quan-sát) cùng một lúc, bởi vì 2 chi-thiền này có trạng-thái thô.
- Đệ tam thiền sắc-giới thiện-tâm có 2 chi-thiền là sukha (lạc), ekaggatā (nhất-tâm) do chế ngự được chi- thiền pīti (hỷ), bởi vì chi-thiền này có trạng-thái thô.
- Đệ tứ thiền sắc-giới thiện-tâm có 2 chi-thiền là upekkhā (xả), ekaggatā (nhất-tâm) do chế ngự bằng cách thay thế được chi-thiền sukha (lạc), bởi vì chi-thiền này có trạng-thái thô.
Vô-sắc-giới thiện-tâm có 4 bậc thiền
Đề-mục thiền-định vô-sắc có 4 đề-mục mà mỗi đề- mục chỉ có thể dẫn đến chứng đắc mỗi bậc thiền vô-sắc- giới thiện-tâm riêng biệt mà thôi như sau:
- Đệ nhất thiền vô-sắc-giới thiện-tâm gọi là “không- vô-biên-xứ thiện-tâm” có 2 chi-thiền là upekkhā (xả), ekaggatā (nhất-tâm).
- Đệ nhị thiền vô-sắc-giới thiện-tâm gọi là “thức-vô- biên-xứ thiện-tâm” có 2 chi-thiền là upekkhā (xả), ekaggatā (nhất-tâm).
- Đệ tam thiền vô-sắc-giới thiện-tâm gọi là “vô-sở- hữu-xứ thiện-tâm” có 2 chi-thiền là upekkhā (xả), ekaggatā (nhất-tâm).
- Đệ tứ thiền vô-sắc-giới thiện-tâm gọi là “phi-tưởng phi-phi-tưởng-xứ thiện-tâm” có 2 chi-thiền là upekkhā (xả), ekaggatā (nhất-tâm).
Như vậy, mỗi bậc thiền vô-sắc-giới thiện-tâm đều có 2 chi-thiền giống nhau là upekkhā (xả), ekaggatā (nhất- tâm), nhưng mỗi bậc thiền vô-sắc-giới thiện-tâm có mỗi đối-tượng thiền-định vô-sắc riêng biệt khác nhau, vô- sắc-giới thiện-tâm bậc cao vi tế hơn vô-sắc-giới thiện- tâm bậc thấp.
Để tìm hiểu phương pháp thực-hành pháp-hành thiền- định để chứng đắc 5 bậc thiền sắc-giới thiện-tâm và 4 bậc thiền vô-sắc-giới thiện-tâm, hành-giả nên xem bộ Nền-Tảng-Phật-Giáo, quyển VII, tập 1: “Pháp-Hành Thiền-Định” cùng soạn giả.
-
- Phước-thiện hành-thiền (Bhāvanākusala) phần pháp-hành thiền-định trong 10 phước-thiện này chỉ có giới hạn trong dục-giới thiện-tâm mà thôi.
Cho nên, hành-giả thực-hành pháp-hành thiền-định có khả năng đạt đến cận-định (upacārasamādhi) và an-định (appanāsamādhi) chứng đắc các bậc thiền sắc-giới thiện-tâm, vô-sắc-giới thiện-tâm nhưng phước-thiện hành thiền chỉ kể đến cận-định (upacārasamādhi) mà
thôi, bởi vì tâm cận-định này vẫn còn thuộc về dục-giới thiện-tâm.
-
- Thực-hành pháp hành-thiền tuệ như thế nào?
Hành-giả muốn thực-hành pháp-hành thiền-tuệ cần phải hiểu biết rõ các đối-tượng thiền-tuệ thuộc chân- nghĩa-pháp (paramatthadhamma), đó là thân, thọ, tâm, pháp trong kinh Tứ Niệm-Xứ, hoặc sắc-pháp, danh- pháp thuộc về chân-nghĩa-pháp (paramatthadhamma).
Đối-tượng tứ niệm-xứ
- Thân niệm-xứ gồm có 14 phần (pabba).
- Thọ niệm-xứ có 1 đối-tượng chia ra làm 9 loại thọ.
- Tâm niệm-xứ có 1 đối-tượng chia ra làm 16 loại tâm.
- Pháp niệm-xứ gồm có 5 phần (pabba).
Như vậy, đối-tượng tứ niệm-xứ gồm có 21 đối-tượng.
- Thân niệm-xứ gồm có 14 phần (pabba).
- Niệm hơi thở vào, hơi thở ra.
- Niệm tứ oai-nghi: đi, đứng, ngồi, nằm.
- Niệm các oai-nghi-phụ: đi tới trước, đi lui sau, quay bên phải, quay bên trái, co tay vào, co chân vào, duỗi tay ra, duỗi chân ra,…
- Niệm 32 thể trọc (trược) trong thân: tóc, lông, móng, răng, da,…
- Niệm tứ đại: địa đại (đất), thuỷ đại (nước), hoả đại (lửa), phong đại (gió).
- Niệm tưởng thân của mình như tử thi bỏ nghĩa địa đã trải qua 1-2-3 ngày.
- Niệm tưởng thân của mình như tử thi bỏ nghĩa địa, bị quạ, diều, chó rừng,… cắn xé ăn thịt.
- Niệm tưởng thân của mình như tử thi bỏ nghĩa địa, chỉ còn bộ xương dính máu và thịt, có gân ràng rịt.
- Niệm tưởng thân của mình như tử thi bỏ nghĩa địa, chỉ còn bộ xương dính máu, thịt rã rời.
- Niệm tưởng thân của mình như tử thi bỏ nghĩa địa, chỉ còn bộ xương khô, không còn máu và thịt nữa.
- Niệm tưởng thân của mình như tử thi bỏ nghĩa địa, chỉ còn bộ xương rã rời, rải rác mọi nơi.
- Niệm tưởng thân của mình như tử thi bỏ nghĩa địa, chỉ còn bộ xương màu trắng.
- Niệm tưởng thân của mình như tử thi bỏ nghĩa địa, chỉ còn đống xương trắng.
- Niệm tưởng thân của mình như tử thi bỏ nghĩa địa, chỉ còn bột xương trắng.
14 phần (pabba) của thân niệm-xứ thuộc về sắc-pháp.
- Thọ niệm-xứ có 1 đối-tượng chia ra làm 9 loại thọ:
- Sukhavedanā: Thọ lạc.
- Dukkhavedanā: Thọ khổ.
- Adukkhamasukhavedanā: Thọ không khổ không lạc.
- Sāmisasukhavedanā: Thọ lạc nương nhờ ngũ-dục.(1)
- Nirāmisasukhavedanā: Thọ lạc không nương nhờ ngũ-dục.
- Sāmisadukkhavedanā: Thọ khổ nương nhờ ngũ-dục.
- Nirāmisadukkhavedanā: Thọ khổ không nương nhờ ngũ-dục.
- Sāmisa adukkhamasukhavedanā: Thọ không khổ không lạc nương nhờ ngũ-dục.
- Nirāmisa adukkhamasukhavedanā: Thọ không khổ không lạc, không nương nhờ ngũ-dục.
1 đối-tượng của thọ niệm-xứ chia ra làm 9 loại thọ thuộc về danh-pháp.
1 Ngũ-dục: sắc-dục, thanh-dục, hương-dục, vị-dục, xúc-dục.
- Sarāgacitta: Tâm có tham đó là tham tâm-sở đồng sinh với 8 tham-tâm.
- Vītarāgacitta: Tâm không có tham đó là các tam- giới thiện-tâm và các phi-thiện-ác-tâm (abyākatacitta)(1).
- Sadosacitta: Tâm có sân đó là sân-tâm-sở đồng sinh với 2 sân-tâm.
- Vītadosacitta: Tâm không có sân đó là các tam-giới thiện-tâm và các phi-thiện-ác-tâm (abyākatacitta).
- Samohacitta: Tâm có si đó là si tâm-sở đồng sinh với 12 bất-thiện-tâm.
- Vītamohacitta: Tâm không có si đó là các tam-giới thiện-tâm và các phi-thiện-ác-tâm (abyākatacitta).
- Saṃkhittacitta: Tâm buồn ngủ đó là buồn-ngủ tâm- sở đồng sinh với 4 tham-tâm và 1 sân-tâm cần tác động, có 5 tâm.
- Vikkhittacitta: Tâm phóng tâm đó là phóng-tâm tâm-sở đồng sinh với 12 bất-thiện-tâm.
- Mahaggatacitta: Tâm cao hơn dục-giới-tâm đó là
sắc-giới thiện-tâm và vô-sắc-giới thiện-tâm.
- Amahaggatacitta: Tâm không cao đó là dục-giới-tâm. 11- Sa uttaracitta: Tâm có pháp cao hơn đó là dục-
giới-tâm.
- Anuttaracitta: Tâm không có pháp cao hơn đó là
sắc-giới thiện-tâm và vô-sắc-giới thiện-tâm.
- Samāhitacitta: Tâm có định đó là tâm cận-định, tâm an-định.
- Asamāhitacitta: Tâm không có định đó là tâm không thực-hành pháp-hành thiền-định.
1 Abyākatacitta đó là 36 quả-tâm, 20 duy-tác-tâm.
- Vimuttacitta: Tâm giải thoát khỏi phiền-não bằng cách diệt-từng-thời (tadaṅgappahāna), diệt-chế-ngự (vikkhambhanappahāna) đó là tam-giới thiện-tâm.
- Avimuttacitta: Tâm không giải thoát khỏi phiền-não,
đó là bất-thiện-tâm, tam-giới quả-tâm, phi-thiện-ác-tâm.
1 đối-tượng của tâm niệm-xứ chia ra làm 16 loại tâm thuộc về danh-pháp.
- Pháp niệm-xứ gồm có 5 phần (pabba)
- Nivaraṇapabba: Năm pháp-chướng-ngại.
- Khandhapabba: Ngũ-uẩn-chấp-thủ.
- Āyatanapabba: Thập-nhị-xứ.
- Bojjhaṅgapabba: Thất-giác-chi.
- Saccapabba: Tứ Thánh-đế.
- Nivaraṇapabba: Năm pháp-chướng-ngại
Hành-giả thực-hành pháp-hành-thiền-định ban đầu thường gặp các pháp-chướng-ngại làm cản trở mọi thiện- pháp không phát triển được.
Năm pháp-chướng-ngại (nivaraṇa) là:
- Kāmacchanda: Tham-dục trong ngũ-dục là pháp- chướng-ngại đó là tham tâm-sở đồng sinh với 8 tham-tâm.
- Byāpāda: Sân-hận là pháp-chướng-ngại đó là sân tâm-sở đồng sinh với 2 sân-tâm.
- Thinamiddha: Buồn-chán - buồn-ngủ là pháp-chướng ngại đó là buồn-chán tâm-sở và buồn-ngủ tâm-sở đồng sinh với 4 tham-tâm và 1 sân-tâm cần tác động.
- Uddhaccakukkucca: Phóng-tâm - hối-hận là pháp- chướng-ngại đó là phóng-tâm tâm-sở đồng sinh với 12 bất-thiện-tâm và hối-hận tâm-sở đồng sinh với 2 sân-tâm.
- Vicikicchā: Hoài-nghi là pháp-chướng-ngại đó là
hoài-nghi tâm-sở đồng sinh với si-tâm hợp với hoài-nghi.
Năm pháp-chướng-ngại của pháp niệm-xứ này thuộc về danh-pháp.
Năm pháp-chướng-ngại này trực tiếp làm chướng ngại đối với hành-giả thực-hành pháp-hành thiền-định, nhưng đối với hành-giả thực-hành pháp-hành thiền-tuệ thì 5 pháp-chướng-ngại này là đối-tượng của pháp-hành tứ niệm-xứ hoặc pháp-hành thiền-tuệ.
* Hành-giả thực-hành pháp-hành tứ niệm-xứ hoặc pháp-hành thiền-tuệ, khi pháp-chướng-ngại nào phát sinh, hành-giả có trí-tuệ-thiền-tuệ thấy rõ, biết rõ đối- tượng pháp-chướng-ngại ấy thuộc về danh-pháp có sự sinh, sự diệt, nên có 3 trạng-thái-chung: trạng-thái vô- thường, trạng-thái khổ, trạng-thái vô-ngã của danh- pháp, dẫn đến chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, chứng đắc 4 Thánh-đạo, 4 Thánh quả và Niết-bàn được.
Cho nên, 5 pháp-chướng-ngại là 1 trong 5 pabba đối- tượng của phần pháp niệm-xứ.
- Khandhapabba: Ngũ-uẩn chấp-thủ:
Ngũ-uẩn chấp-thủ (pañcupadānakkhandha) nghĩa là ngũ-uẩn là đối-tượng của 4 pháp-chấp-thủ (tham-dục chấp-thủ, tà-kiến chấp-thủ, pháp-thường-hành chấp-thủ, ngã-kiến chấp-thủ, do tham tâm-sở và tà-kiến tâm-sở).
Ngũ-uẩn chấp-thủ có 5 uẩn là:
- Sắc-uẩn chấp-thủ đó là 28 sắc-pháp là đối-tượng của pháp-chấp-thủ.
- Thọ-uẩn chấp-thủ đó là thọ tâm-sở đồng sinh với 81 tam-giới-tâm là đối-tượng của pháp-chấp-thủ.
- Tưởng-uẩn chấp-thủ đó là tưởng tâm-sở đồng sinh với 81 tam-giới-tâm là đối-tượng của pháp-chấp-thủ.
- Hành-uẩn chấp-thủ đó là 50 tâm-sở (không có thọ tâm-sở và tưởng tâm-sở) đồng sinh với 81 tam-giới-tâm là đối-tượng của pháp-chấp-thủ.
- Thức-uẩn chấp-thủ đó là 81 tam-giới-tâm là đối tượng của pháp-chấp-thủ.
Ngũ-uẩn chấp-thủ của pháp niệm-xứ thuộc về sắc- pháp và danh-pháp.
- Āyatanapabba: Thập-nhị-xứ
Thập nhị xứ có 12 xứ chia ra 2 bên:
Bên trong có 6 xứ và bên ngoài có 6 xứ như sau:
- Bên trong có 6 xứ:
- Cakkhāyatana: Nhãn-xứ đó là nhãn-tịnh-sắc làm duyên cho nhãn-thức-tâm với tâm-sở phát sinh.
- Sotāyatana: Nhĩ-xứ đó là nhĩ-tịnh-sắc làm duyên cho nhĩ-thức-tâm với tâm-sở phát sinh.
- Ghānāyatana: Tỷ-xứ đó là tỷ-tịnh-sắc làm duyên cho tỷ-thức-tâm với tâm-sở phát sinh.
- Jivhāyatana: Thiệt-xứ đó là thiệt-tịnh-sắc làm duyên cho thiệt-thức-tâm với tâm-sở phát sinh.
- Kayāyatana: Thân-xứ đó là thân tịnh-sắc làm duyên cho thân-thức-tâm với tâm-sở phát sinh.
- Manāyatana: Ý-xứ đó là tất cả tâm làm duyên cho
ý-thức-tâm với tâm-sở phát sinh.
- Bên ngoài có 6 xứ:
- Rūpāyatana: Sắc-xứ làm đối-tượng cho nhãn-thức- tâm với tâm-sở phát sinh. là
- Saddāyatana: Thanh-xứ làm đối-tượng cho nhĩ- thức-tâm với tâm-sở phát sinh.
- Gandhāyatana: Hương-xứ làm đối-tượng cho tỷ- thức-tâm với tâm-sở phát sinh.
- Rasāyatana: Vị-xứ làm đối-tượng cho thiệt-thức- tâm với tâm-sở phát sinh.
- Phoṭṭhabbāyatana: Xúc-xứ làm đối-tượng cho
thân-thức-tâm với tâm-sở phát sinh.
- Dhammāyatana: Pháp-xứ đó là 52 tâm-sở, 16 sắc- pháp vi-tế, Niết-bàn làm đối-tượng cho các tâm với tâm- sở phát sinh.
Khi 6 xứ bên trong tiếp xúc với 6 xứ bên ngoài, phát sinh 6 lộ-trình-tâm, để tâm với tâm-sở phát sinh:
- Khi nhãn-xứ tiếp xúc với sắc-xứ, nên phát sinh
nhãn-môn-lộ-trình-tâm.
- Khi nhĩ-xứ tiếp xúc với thanh-xứ, nên phát sinh nhĩ- môn-lộ-trình-tâm.
- Khi tỷ-xứ tiếp xúc với hương-xứ, nên phát sinh tỷ- môn-lộ-trình-tâm.
- Khi thiệt-xứ tiếp xúc với vị-xứ, nên phát sinh thiệt- môn-lộ-trình-tâm.
- Khi thân-xứ tiếp xúc với xúc-xứ, nên phát sinh thân- môn-lộ-trình-tâm.
- Khi ý-xứ tiếp xúc với pháp-xứ, nên phát sinh ý-môn- lộ-trình-tâm.
Thập-nhị-xứ của phần pháp niệm-xứ thuộc về sắc- pháp và danh-pháp.
- Bojjhaṅgapabba: Thất-giác-chi
Thất-giác-chi có 7 pháp giác-chi, là 7 pháp làm nhân- duyên chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, chứng đắc 4 Thánh-đạo, 4 Thánh-quả.
Thất-giác-chi có 7 pháp:
- Satisambojjhaṅga: Pháp niệm giác-chi làm nhân- duyên chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, chứng đắc 4 Thánh-đạo, 4 Thánh-quả, có chi-pháp là niệm tâm-sở
đồng sinh với 8 đại-thiện-tâm, 8 đại-duy-tác-tâm, 26 tác-hành-thiền-tâm (appanājavanacitta).
- Dhammavicayasambojjhaṅga: Pháp phân-tích giác-chi làm nhân-duyên chứng ngộ chân-lý tứ Thánh- đế, chứng đắc 4 Thánh-đạo, 4 Thánh-quả, có chi-pháp là trí-tuệ tâm-sở đồng sinh với 4 đại-thiện-tâm hợp với trí- tuệ, 4 đại-duy-tác-tâm hợp với trí-tuệ, 26 tác-hành- thiền-tâm.
- Vīriyasambojjhaṅga: Pháp tinh-tấn giác-chi làm nhân-duyên chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, chứng đắc 4 Thánh-đạo, 4 Thánh-quả, có chi-pháp là tinh-tấn tâm- sở đồng sinh với 8 đại-thiện-tâm, 8 đại-duy-tác-tâm, 26 tác-hành-thiền- tâm.
- Pītisambojjhaṅga: Pháp hỷ giác-chi làm nhân- duyên chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, chứng đắc 4 Thánh-đạo, 4 Thánh-quả, có chi-pháp là hỷ tâm-sở đồng sinh với 4 đại-thiện-tâm đồng sinh với hỷ, 4 đại-duy-tác- tâm đồng sinh với hỷ, 3 sắc-giới-thiện-tâm, 3 sắc-giới- duy-tác-tâm.
- Passaddhisambojjhaṅga: Pháp an-tịnh giác-chi làm nhân-duyên chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, chứng đắc 4 Thánh-đạo, 4 Thánh-quả, có chi-pháp là an-tịnh tâm-sở đồng sinh với 8 đại-thiện-tâm, 8 đại-duy-tác-tâm, 26 tác-hành-thiền-tâm.
- Samādhisambojjhaṅga: Pháp định giác-chi làm nhân-duyên chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, chứng đắc 4 Thánh-đạo, 4 Thánh-quả, có chi-pháp là nhất-tâm tâm- sở đồng sinh với 8 đại-thiện-tâm, 8 đại-duy-tác-tâm, 26 tác-hành-thiền-tâm.
- Upekkhāsambojjhaṅga: Pháp xả giác-chi làm nhân-duyên chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, chứng đắc 4 Thánh-đạo, 4 Thánh-quả, có chi-pháp là trung-dung
tâm-sở đồng sinh với 8 đại-thiện-tâm, 8 đại-duy-tác-tâm, 26 tác-hành-thiền-tâm.
Thất-giác-chi của phần pháp niệm-xứ thuộc về danh- pháp.
- Saccapabba: Tứ-đế
Tứ Thánh-đế là sự-thật chân-lý của bậc Thánh-nhân chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, chứng đắc 4 Thánh- đạo, 4 Thánh-quả và Niết-bàn.
- Dukkha ariyasacca: Khổ-Thánh-đế là sự-thật chân-lý của chư bậc Thánh-nhân đã chứng ngộ, đó là:
- Tái-sinh kiếp sau là khổ, già là khổ, chết là khổ, sầu não, khóc than, khổ thân, khổ tâm, khổ cùng cực.
- Phải gần gũi, thân cận với người không yêu thương là khổ.
- Phải xa lìa người yêu thương là khổ.
- Mong muốn đừng có sinh, có già, có bệnh, có chết,.. mà không thể nào được như ý là khổ.
Tóm lại, chấp-thủ trong ngũ-uẩn do tham muốn và tà-kiến là khổ.
- Dukkhasamudaya-ariyasacca: Nhân sinh khổ-Thánh- đế là sự-thật chân-lý của chư bậc Thánh-nhân đã chứng ngộ, đó là tham-ái dắt dẫn tái-sinh kiếp sau hợp với tham muốn, hài lòng, say mê trong các đối-tượng, đắm say trong kiếp sống. Nhân sinh khổ-Thánh-đế ấy là:
- Dục-ái (kāmataṇhā) là tham-ái trong 6 đối-tượng ái (sắc-ái, thanh-ái, hương-ái, vị-ái, xúc-ái, pháp-ái).
- Hữu-ái (bhavataṇhā) là tham-ái trong 6 đối-tượng ái hợp với thường-kiến, và tham-ái trong bậc thiền sắc-giới, bậc thiền vô-sắc-giới, trong cõi sắc-giới, cõi vô-sắc-giới.
- Phi-hữu-ái (vibhavataṇhā) là tham-ái trong 6 đối- tượng ái hợp với đoạn-kiến.
- Dukkhanirodha ariyasacca: Diệt khổ-Thánh-đế là sự-thật chân-lý của chư bậc Thánh-nhân đã chứng ngộ, đó là Niết-bàn là pháp diệt tận mọi say mê do tham-ái ấy không còn dư sót bằng 4 Thánh-đạo-tuệ, xả ly, từ bỏ chấp-thủ trong ngũ-uẩn, giải thoát khổ, không còn luyến ái, không còn dính mắc nữa.
- Dukkhanirodhagāminī paṭipadā ariyasacca: Pháp- hành dẫn đến diệt khổ-Thánh-đế là sự-thật chân-lý của chư bậc Thánh-nhân đã chứng ngộ, đó là Thánh-đạo hợp đủ 8 chánh: chánh-kiến, chánh-tư-duy, chánh-ngữ, chánh-nghiệp, chánh-mạng, chánh-tinh-tấn, chánh- niệm, chánh-định.
Tứ-đế của phần pháp niệm-xứ thuộc về sắc-pháp, danh-pháp.
Như vậy, đối-tượng của tứ-niệm-xứ là thân, thọ, tâm, pháp gồm có 21 pabba (phần) mà mỗi pabba đều có khả năng dẫn đến chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, chứng đắc 4 Thánh-đạo, 4 Thánh-quả và Niết-bàn, trở thành bậc Thánh A-ra-hán cả thảy.
Sau khi hành-giả đã học hỏi hiểu rõ đối-tượng thân, thọ, tâm, pháp gồm có 21 pabba trong pháp-hành tứ- niệm-xứ hoặc đối-tượng sắc-pháp, danh-pháp trong pháp-hành thiền-tuệ thuộc về chân-nghĩa-pháp (paramattha- dhamma) xong, hành-giả nên tìm đến Ngài Trưởng-lão thiền-sư uyên thâm về pháp-học Phật-giáo, đầy đủ kinh nghiệm về pháp-hành Phật-giáo nhất là pháp-hành thiền-tuệ, để nương nhờ học hỏi phương pháp thực-hành pháp-hành thiền-tuệ.
Hành-giả thực-hành pháp-hành tứ-niệm-xứ có đối- tượng thân, thọ, tâm, pháp hoặc thực-hành pháp-hành thiền-tuệ có đối-tượng thiền-tuệ sắc-pháp, danh-pháp
dẫn đến phát sinh trí-tuệ thiền-tuệ theo tuần tự từ trí-tuệ thiền-tuệ tam-giới (lokiyavipassanā) cho đến trí-tuệ thiền-tuệ siêu-tam-giới (lokuttaravipassanā) gồm có 16 loại trí-tuệ thiền-tuệ theo tuần tự như sau:
- Trí-tuệ thứ nhất gọi là nāmarūpaparicchedañāṇa: trí-tuệ thấy rõ, biết rõ thật-tánh của sắc-pháp, danh- pháp đúng theo chân-nghĩa-pháp (paramatthadhamma) là pháp-vô-ngã (anattā) không phải là ta, không phải là người, không phải là đàn ông, không phải là đàn bà, không phải là chúng-sinh, v.v… tiếp đến,
- Trí-tuệ thứ nhì gọi là nāmarūpapaccayapariggaha- ñāṇa: trí-tuệ thấy rõ, biết rõ nhân-duyên phát sinh mỗi sắc-pháp, mỗi danh-pháp, tiếp đến,
- Trí-tuệ thiền-tuệ thứ 3 gọi là sammasanañāṇa: trí- tuệ thiền-tuệ thấy rõ, biết rõ sự diệt của sắc-pháp, danh- pháp, do nhân-duyên diệt, nên thấy rõ, biết rõ trạng-thái vô thường, trạng-thái khổ, trạng-thái vô-ngã của sắc- pháp, danh-pháp, tiếp đến,
- Trí-tuệ thiền-tuệ thứ 4 gọi là udayabbayānupas- sanāñāṇa: trí-tuệ thiền-tuệ thấy rõ, biết rõ sự sinh, sự diệt của sắc-pháp, danh-pháp tam-giới, nên thấy rõ, biết rõ 3 trạng-thái-chung: trạng-thái vô-thường, trạng-thái khổ, trạng-thái vô-ngã của sắc-pháp, danh-pháp tam- giới, tiếp đến,
- Trí-tuệ thiền-tuệ thứ 5 gọi là bhaṅgānupassanā- ñāṇa: trí-tuệ thiền-tuệ thấy rõ, biết rõ đặc biệt sự diệt của sắc-pháp, danh-pháp tam-giới, nên thấy rõ, biết rõ 3 trạng-thái-chung: trạng-thái vô-thường, trạng-thái khổ, trạng-thái vô-ngã của sắc-pháp, danh-pháp tam-giới, tiếp đến,
- Trí-tuệ thiền-tuệ thứ 6 gọi là bhayatupaṭṭhānañāṇa:
trí-tuệ thiền-tuệ thấy rõ, biết rõ sự diệt của sắc-pháp, của danh-pháp thật đáng kinh sợ, tiếp đến,
- Trí-tuệ thiền-tuệ thứ 7 gọi là ādīnavānupassanā- ñāṇa: trí-tuệ thiền-tuệ thấy rõ, biết rõ sắc-pháp, danh- pháp thật đầy tội chướng, tiếp đến,
- Trí-tuệ thiền-tuệ thứ 8 gọi là nibbidānupassanā- ñāṇa: trí-tuệ thiền-tuệ thấy rõ, biết rõ sắc-pháp, danh- pháp thật đáng nhàm chán, tiếp đến,
- Trí-tuệ thiền-tuệ thứ 9 gọi là muñcitukamyatā- ñāṇa: trí-tuệ thiền-tuệ tha thiết mong thoát khỏi sắc- pháp, danh-pháp, tiếp đến,
- Trí-tuệ thiền-tuệ thứ 10 gọi là paṭisaṅkhānupas- sanāñāṇa: trí-tuệ thiền-tuệ thấy rõ, biết rõ trở lại sắc- pháp, danh-pháp có 3 trạng-thái-chung: trạng-thái vô- thường, trạng-thái khổ, trạng-thái vô-ngã của sắc-pháp, danh-pháp một cách rõ ràng, để tìm ra phương-pháp giải thoát khỏi khổ-đế của sắc-pháp, của danh-pháp, tiếp đến,
- Trí-tuệ thiền-tuệ thứ 11 gọi là saṅkhārupekkhā- ñāṇa: trí-tuệ thiền-tuệ thấy rõ, biết rõ sắc-pháp, danh- pháp thật sự là pháp-vô-ngã, nên trí-tuệ thiền-tuệ đặt tâm-trung-dung trong sắc-pháp, danh-pháp có trạng- thái vô-thường, hoặc trạng-thái khổ, hoặc trạng-thái vô- ngã làm đối tượng, tiếp đến,
- Trí-tuệ thiền-tuệ thứ 12 gọi là saccānuloma- ñāṇa: trí-tuệ thiền-tuệ thuận dòng theo 8 trí-tuệ thiền- tuệ phần trước và thuận dòng theo 37 pháp chứng đắc Thánh-đạo (bodhipakkhiyadhamma) phần sau, tiếp đến
- Trí-tuệ thiền-tuệ thứ 13 gọi là gotrabhuñāṇa: trí- tuệ thiền-tuệ chuyển dòng từ phàm-nhân sang dòng bậc Thánh-nhân, (hoặc chuyển dòng từ Thánh-nhân bậc
thấp lên Thánh-nhân bậc cao) vì thấy rõ, biết rõ Niết-bàn là đối tượng, tiếp đến,
- Trí-tuệ thiền-tuệ siêu-tam-giới thứ 14 gọi là Maggañāṇa: Thánh-đạo-tuệ (1) là trí-tuệ thiền-tuệ siêu- tam-giới có Niết-bàn làm đối-tượng, có khả năng đặc biệt diệt tận được mọi phiền-não, mọi tham-ái tùy theo khả năng của mỗi Thánh-đạo-tuệ, tiếp đến,
- Trí-tuệ thiền-tuệ siêu-tam-giới thứ 15 gọi là Phalañāṇa: Thánh-quả-tuệ(2)là trí-tuệ thiền-tuệ siêu- tam-giới có Niết-bàn là đối tượng, tiếp đến,
- Trí-tuệ thiền-tuệ thứ 16 gọi là paccavekkhaṇa- ñāṇa: trí-tuệ đặc biệt quán triệt Thánh-đạo nào, Thánh- quả nào đã chứng đắc, Niết-bàn đã chứng ngộ, phiền-não nào đã bị diệt tận và phiền-não nào chưa bị diệt tận được.
Hành-giả thực-hành pháp-hành thiền-tuệ có khả năng làm cho phát sinh 16 loại trí-tuệ thiền-tuệ trở thành bậc Thánh-nhân.
Phước-thiện hành-thiền (Bhāvanākusala) phần pháp- hành thiền-tuệ trong 10 phước-thiện này chỉ có giới hạn trong dục-giới thiện-tâm mà thôi.
Cho nên, nếu hành-giả thực-hành pháp-hành thiền- tuệ có khả năng phát sinh 16 loại trí-tuệ thiền-tuệ thì chỉ kể từ trí-tuệ thứ nhất nāmarūpaparicchedañāṇa cho đến trí-tuệ thiền-tuệ thứ 11 saṅkhārupekkhāñāṇa mà thôi, bởi vì 11 loại trí-tuệ thiền-tuệ này vẫn còn thuộc về dục-giới thiện-tâm có đối-tượng sắc-pháp, danh- pháp trong tam-giới.
1 Thánh-đạo-tuệ có 4 loại: Nhập-lưu Thánh-đạo-tuệ, Nhất-lai Thánh-đạo- tuệ, Bất-lai Thánh-đạo-tuệ, A-ra-hán Thánh-đạo-tuệ.
2 Thánh-quả-tuệ có 4 loại: Nhập-lưu Thánh-quả-tuệ, Nhất-lai Thánh-quả- tuệ, Bất-lai Thánh-quả-tuệ, A-ra-hán Thánh-quả-tuệ.
Còn trí-tuệ thiền-tuệ siêu-tam-giới thứ 14 gọi là
Maggañāṇa thuộc về siêu-tam-giới thiện-tâm.
Những tính chất của phước-thiện hành thiền
- Kusalavaḍḍhāpanalakkhaṇa: Phước-thiện hành- thiền có trạng-thái làm cho thiện-pháp phát triển.
- Akusalapahānarasa: Phước-thiện hành-thiền có phận sự diệt bất-thiện-pháp (ác-pháp).
- Sattācārokkamanapaccuppaṭṭhāna: Phước-thiện hành-thiền đúng theo phương pháp thực-hành pháp hành-thiền là quả hiện hữu.
- Yonisomanasikārapadaṭṭhāna: Sự hiểu đúng trong tâm phương pháp thực-hành pháp hành-thiền là nguyên nhân gần của phước-thiện hành-thiền.
- Paṭikkhepadhamma: Pháp nghịch với phước-thiện hành-thiền đó là tâm si.
- Anuññātadhamma: Pháp giúp hỗ-trợ cho phước- thiện hành-thiền đó là trí-tuệ.
(Xong phần phước-thiện hành-thiền)
.

Mốc I : Hoàn cảnh trước khi Phật ra đời
Mốc II : Sự kiện Phật đản sanh
Mốc III: Giai đoạn tuổi thơ của Bồ tát Tất Đạt Đa
Mốc IV : Giai đoạn trưởng thành - xuất gia
Mốc V : Tầm đạo
Mốc VI : Thành đạo
Mốc VII: Những vị đệ tử đầu tiên
Mốc VIII : Tăng đoàn lớn mạnh
Mốc IX: Mười ba năm cuối cuộc đời Đức Phật
Mốc X : Đức Phật nhập niết bàn