Tất cả chúng con được biết Phật-giáo Nguyên-thuỷ Theravāda là nhờ ơn Ngài Sơ Tổ Hộ-Tông cùng với chư Trưởng-lão
khác đã dày công đem Phật-giáo Nguyên- thuỷ Theravāda về truyền bá trên đất nước Việt-Nam thân yêu này.
Tất cả chúng con đem hết lòng thành kính đảnh lễ Ngài Sơ Tổ Hộ-Tông cùng quý Ngài Trưởng-lão với tấm lòng chân thành tôn kính và tri ân sâu sắc của tất cả chúng con.
PHẬT-GIÁO NGUYÊN-THUỶ
THERAVĀDA
PHẬT-LỊCH 2560
NỀN-TẢNG-PHẬT-GIÁO
(MŪLABUDDHASĀSANA)
QUYỂN II
quy-yta-baûo
(TISARAṆA)
(Tái bản lần thứ nhì có sửa và bổ sung)
TỲ-KHƯU HỘ-PHÁP (DHAMMARAKKHITA BHIKKHU) (AGGAMAHĀPAṆḌITA)
NHÀ XUẤT BẢN TÔN GIÁO – 2017
Lời Nói Đầu
(Tái bản lần thứ nhì, có sửa và bổ sung)
Tái bản lần thứ nhì “Quyển II Quy-Y Tam-Bảo” có sửa và bổ sung, sắp xếp phần nội dung, để giúp cho độc giả dễ hiểu.
Quy-Y Tam-Bảo là đề tài rộng lớn, bần sư đã cố gắng sưu tầm gom nhặt từ các nguồn tài liệu đem trình bày trong quyển Quy-Y Tam-Bảo này, giúp cho độc giả hiểu biết một phần cơ bản trong Phật-giáo.
Tuy bần sư đã cố gắng hết sức mình tái bản quyển Quy-Y Tam-Bảo lần này cho được hoàn thiện, nhưng vì khả năng có hạn, nên cũng chỉ thực hiện được bấy nhiêu thôi! Bần sư tin chắc rằng:
“Soạn phẩm này vẫn còn nhiều chỗ sơ suất, thậm chí còn có chỗ sai nữa, ngoài khả năng hiểu biết của bần sư. Kính mong các bậc thiện-trí có tâm từ chỉ giáo, góp ý chân tình.
Kính xin quý vị xem soạn phẩm này như là của chung mà mỗi người trong chúng ta ai cũng có bổn phận đóng góp, để cho soạn phẩm này được hoàn hảo, hầu mong đem lại sự lợi ích chung, sự tiến hoá, sự an-lạc cho phần đông.”
Bần sư chân thành biết ơn quý vị.
PL. 2560 / DL. 2017
Rừng Núi Viên Không Xã Tóc Tiên, Huyện Tân Thành Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
Tỳ-Khưu Hộ-Pháp (Dhammarakkhita Bhikkhu) (Aggamahāpaṇḍita)
Namo Tassa Bhagavato Arahato Sammāsambuddhassa.
Con đem hết lòng thành kính đảnh lễ Đức-Thế-Tôn ấy, Đức A-ra-hán, Đức-Phật Chánh-Đẳng-Giác.
Paṇāmagāthā
Tilokekagaruṃ Buddhaṃ, pāyāsibhayahiṃsakaṃ.
Āyunopariyosānaṃ,
gacchāmi saraṇaṃ ahaṃ.
Ādimajjhantakalyāṇam, Buddhassa dhammamosadhaṃ. Nibbānapariyosānaṃ,
gacchāmi saraṇaṃ ahaṃ.
Tassa sāvakasaṃghañca, puññakkhettaṃ anuttaraṃ. Arahattapriyosānaṃ,
gacchāmi saraṇaṃ ahaṃ.
Buddhaṃ Dhammañca Saṃghañca, abhivandiya sādaraṃ.
Mūlabuddhasāsanan’ ti, Ayaṃ gantho mayā kato.
Kệ Đảnh Lễ Tam-Bảo
Đức-Thế-Tôn cao thượng nhất tam-giới, Dắt dẫn chúng-sinh thoát khỏi tai họa, Nguyện suốt đời con xin quy-y Phật,
Mong chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế.
Pháp của Ngài như linh dược nhiệm mầu, Hoàn hảo ở phần đầu giữa và cuối, Nguyện suốt đời con xin quy-y Pháp, Mong được chứng ngộ Niết-bàn thoát khổ.
Tăng bậc Thánh thanh-văn đệ-tử-Phật,
Là phước điền cao thượng của chúng-sinh, Nguyện suốt đời con xin quy-y Tăng, Mong được chứng đắc Thánh A-ra-hán.
Đức-Phật Đức-Pháp Đức-Tăng cao thượng, Con hết lòng thành kính lạy Tam-bảo,
Rồi gom nhặt biên soạn tập sách nhỏ,
Soạn phẩm này gọi “Nền-Tảng-Phật-Giáo”.
|
NỀN-TẢNG-PHẬT-GIÁO
(MŪLABUDDHASĀSANA)
QUYỂN II
QUY-Y TAM-BẢO (TISARAṆA)
Soạn giả: Tỳ-khưu Hộ-Pháp (Dhammarakkhita Bhikkhu) (Aggamahāpaṇḍita)
Lời Nói Đầu
Bộ Nền-Tảng-Phật-Giáo là một bộ sách gồm có 9 chương chia ra làm 7 quyển. Mỗi chương được khái quát như sau:
- Chương I: Ba Ngôi Cao Cả (Tiyagga)
- Đức-Phật (Buddha).
- Đức-Pháp (Dhamma).
- Đức-Tăng (Saṃgha).
- Chương II: Tam-Bảo (Ratanattaya)
- Đức-Phật-bảo (Buddharatana).
- Đức-Pháp-bảo (Dhammaratana).
- Đức-Tăng-bảo (Saṃgharatana)
- Chương III: Ân-Đức Tam-Bảo (Ratanattayaguṇa)
- Ân-Đức Phật-bảo (Buddhaguṇa).
- Ân-Đức Pháp-bảo (Dhammaguṇa).
- Ân-Đức Tăng-bảo (Saṃghaguṇa).
- Chương IV: Quy-Y Tam-Bảo (Tisaraṇa)
- Quy-y Phật-bảo (Buddhasaraṇa).
- Quy-y Pháp-bảo (Dhammasaraṇa).
- Quy-y Tăng-bảo (Saṃghasaraṇa).
- Chương V: Pháp-Hành-Giới (Sīlācāra)
- Giới của người tại gia cư-sĩ (Gahaṭṭhasīla).
- Giới của bậc xuất-gia tu-sĩ (Pabbajitasīla).
- Chương VI: Nghiệp Và Quả Của Nghiệp
(Kamma-kammaphala)
-
- Bốn loại nghiệp (Kammacatuka).
- Bất-thiện-nghiệp (Akusalakamma).
- Quả của bất-thiện-nghiệp (Akusalavipāka).
- Thiện-nghiệp (Kusalakamma).
- Quả của thiện-nghiệp (Kusalavipāka).
- Chương VII: Phước-Thiện (Puñña-kusala)
- 10 nhân phát sinh phước-thiện (Puññakriyāvatthu). 8- Chương VIII: Pháp-Hạnh Ba-La-Mật (Pāramī)
- 30 pháp-hạnh ba-la-mật (Tiṃsapāramī).
9- Chương IX: Pháp-Hành-Thiền (Bhāvanā)
-
- Pháp-hành thiền-định (Samathabhāvanā).
- Pháp-hành thiền-tuệ (Vipassanābhāvanā).
9 chương chia ra làm 7 quyển như sau:
- Quyển I: Tam-Bảo (Ratanattaya) gồm có 2 chương là chương I và chương II.
- Quyển II: Quy-Y Tam-Bảo (Tiaraṇa) gồm có 2 chương là chương III và chương IV.
- Quyển III: Pháp-Hành-Giới (Sīlācāra) có 1 chương là chương V.
- Quyển IV: Nghiệp Và Quả Của Nghiệp (Kamma- kammaphala) có 1 chương là chương VI.
- Quyển V: Phước-Thiện (Puñña-kusala) có 1 chương là chương VII.
- Quyển VI: Pháp-Hạnh Ba-La-Mật (Pāramī) có 1 chương là chương VIII gồm có 3 tập: tập 1, tập 2, tập 3.
- Quyển VII: Pháp-Hành-Thiền (Bhāvanā) có 1 chương là chương IX gồm có 2 tập: tập 1, tập 2.
Như vậy, bộ Nền-Tảng-Phật-Giáo gồm có 9 chương chia ra thành 10 quyển.
Bộ Nền-Tảng-Phật-Giáo gồm có 9 chương được sắp đặt theo tuần tự như sau:
- Chương I: Ba Ngôi Cao Cả (Tiyagga)
Phật-giáo có 3 ngôi cao cả thật xứng đáng tôn kính là
-
- Đức-Phật (Buddha) từ khi bắt đầu cho đến kết thúc.
- Đức-Pháp (Dhamma) từ khi bắt đầu cho đến kết thúc.
- Đức-Tăng (Saṃgha) từ khi bắt đầu cho đến kết thúc. 2- Chương II: Tam-Bảo (Ratanattaya)
- Đức-Phật có 5 đức-tính quý báu cao thượng nên gọi
là Đức-Phật-bảo (Buddharatana).
-
- Đức-Pháp có 5 đức-tính quý báu cao thượng nên gọi là Đức-Pháp-bảo (Dhammaratana).
- Đức-Tăng có 5 đức-tính quý báu cao thượng nên gọi là Đức-Tăng-bảo (Saṃgharatana).
- Chương III: Ân-Đức Tam-Bảo (Ratanattayaguṇa)
- Đức-Phật có 9 ân-đức nên gọi là ân-đức Phật-bảo (Buddhaguṇa).
- Đức-Pháp có 6 ân-đức nên gọi là ân-đức Pháp-bảo (Dhammaguṇa).
- Đức-Tăng có 9 ân-đức nên gọi là ân-đức Tăng-bảo (Saṃghaguṇa).
- Chương IV: Quy-Y Tam-Bảo (Tisaraṇa)
Người nào có đức-tin trong sạch nơi Tam-bảo: Đức- Phật-bảo, Đức-Pháp-bảo, Đức-Tăng-bảo, tha thiết muốn trở thành hàng thanh-văn đệ-tử của Đức-Phật, Đức-Pháp, Đức-Tăng, người ấy kính xin làm lễ thọ phép quy-y Tam-bảo:
-
- Quy-y Phật-bảo (Buddhasaraṇa),
- Quy-y Pháp-bảo (Dhammasaraṇa),
- Quy-y Tăng-bảo (Saṃghasaraṇa).
- Chương V: Pháp-Hành-Giới (Sīlācāra)
Các hàng thanh-văn biết hổ-thẹn tội-lỗi, biết ghê-sợ tội-lỗi thì mới giữ gìn giới của mình được trong sạch trọn vẹn, giữ gìn giới là giữ gìn phẩm-hạnh cao quý của hàng thanh-văn đệ-tử của Đức-Phật, Đức-Pháp, Đức-Tăng.
-
- Đối với hàng tại gia là cận-sự-nam (upāsaka) hoặc cận-sự-nữ (upāsikā) cần phải giữ gìn giới của mình cho được trong sạch trọn vẹn, đó là giới của người tại gia cư-sĩ (Gahaṭṭhasīla).
- Đối với hàng xuất-gia là tỳ-khưu, sa-di, tu-nữ cần phải giữ gìn giới của mình cho được trong sạch trọn vẹn, đó là giới của bậc xuất-gia tu-sĩ (Pabbajitasīla).
- Chương VI: Nghiệp Và Quả Của Nghiệp
(Kamma-kammaphala)
Các hàng thanh-văn đệ-tử của Đức-Phật, giữ gìn giới của mình cho được trong sạch trọn vẹn, cần phải có đức-tin trong sạch nơi Tam-bảo: Đức-Phật-bảo, Đức- Pháp-bảo, Đức-Tăng-bảo, tin nghiệp và quả của nghiệp.
Các hàng thanh-văn phải nên học hỏi hiểu rõ:
-
- Bốn loại nghiệp (Kammacatuka).
- Bất-thiện-nghiệp (Akusalakamma).
- Quả của bất-thiện-nghiệp (Akusalavipāka).
- Thiện-nghiệp (Kusalakamma).
- Quả của thiện-nghiệp (Kusalavipāka).
- Chương VII: Phước-Thiện (Puñña-kusala)
- 10 nhân phát sinh phước-thiện (Puññakriyāvatthu).
Các thanh-văn đệ-tử tin nghiệp và quả của nghiệp của mình, nên lựa chọn tạo 10 phước-thiện để trở thành tam-nhân đại-thiện-nghiệp bậc cao (tihetuka-ukkaṭṭha- kusalakamma) để cho quả tái-sinh kiếp sau trở thành hạng người tam-nhân (tihetukapuggala).
- Chương VIII: Pháp-Hạnh Ba-La-Mật (Pāramī).
- 30 pháp-hạnh ba-la-mật (Tiṃsapāramī).
- Để trở thành Đức-Phật Chánh-Đẳng-Giác, Đức- Bồ-tát Chánh-Đẳng-Giác cần phải tạo đầy đủ 30 pháp- hạnh ba-la-mật: 10 pháp-hạnh ba-la-mật bậc hạ, 10 pháp-hạnh ba-la-mật bậc trung, 10 pháp-hạnh ba-la- mật bậc thượng, mới trở thành Đức-Phật Chánh-Đẳng- Giác độc nhất vô nhị trong toàn cõi-giới chúng-sinh.
- Để trở thành Đức-Phật Độc-Giác, Đức-Bồ-tát Độc- Giác cần phải tạo đầy đủ 20 pháp-hạnh ba-la-mật: 10 pháp-hạnh ba-la-mật bậc hạ, 10 pháp-hạnh ba-la-mật bậc trung, mới trở thành Đức-Phật Độc-Giác. Đức-Phật Độc-Giác có thể có nhiều Vị trong cùng một thời-kỳ.
- Để trở thành bậc Thánh Tối-thượng thanh-văn đệ- tử của Đức-Phật, bậc Thánh Đại-thanh-văn đệ-tử, bậc Thánh thanh-văn đệ-tử hạng thường, chư vị Bồ-tát thanh-văn đệ-tử ấy đều cần phải tạo đầy đủ 10 pháp- hạnh ba-la-mật bậc hạ theo mỗi ngôi vị của mình.
Đến thời-kỳ Đức-Phật Chánh-Đẳng-Giác ấy xuất hiện trên thế gian, chư vị Bồ-tát thanh-văn đệ-tử ấy đến hầu đảnh lễ Đức-Phật, lắng nghe chánh-pháp của Đức-Phật, rồi thực-hành pháp-hành thiền-tuệ dẫn đến chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, chứng đắc 4 Thánh-đạo, 4 Thánh- quả và Niết-bàn, trở thành 4 bậc Thánh-nhân là bậc Thánh Nhập-lưu, bậc Thánh Nhất-lai, bậc Thánh Bất- lai, bậc Thánh A-ra-hán là bậc Thánh thanh-văn đệ-tử Đức-Phật, tuỳ theo năng lực của 10 pháp-hạnh ba-la- mật và 5 pháp-chủ: tín-pháp-chủ, tấn-pháp-chủ, niệm- pháp-chủ, định-pháp-chủ, tuệ-pháp-chủ của mỗi ngôi vị đúng như ý nguyện trong tiền-kiếp quá-khứ của mỗi vị.
- Chương IX: Pháp-Hành-Thiền (Bhāvanā)
- Pháp-hành thiền-định (Samathabhāvanā).
- Pháp-hành thiền-tuệ (Vipassanābhāvanā).
- Hành-giả là hạng người tam-nhân thực-hành pháp-hành thiền-định, có khả năng dẫn đến chứng đắc 5 bậc thiền sắc-giới, 4 bậc thiền vô-sắc-giới, 5 phép thần- thông thế gian, tuỳ theo khả năng của mỗi vị hành-giả.
Nếu hành-giả chứng đắc 5 bậc thiền sắc-giới thiện- tâm và vô-sắc-giới thiện-tâm, sau khi hành-giả chết, chỉ có bậc thiền vô-sắc-giới thiện-nghiệp trong bậc thiền vô- sắc-giới thiện-tâm nào cao cuối cùng, mới có quyền ưu tiên cho quả tái-sinh kiếp sau hoá-sinh làm vị phạm- thiên trên tầng trời tương xứng với bậc thiền vô-sắc-giới quả-tâm ấy. Các bậc thiền thiện-tâm còn lại đều trở
thành vô-hiệu-quả-nghiệp (ahosikamma) không còn có cơ-hội cho quả được nữa.
- Hành-giả là hạng người tam-nhân thực-hành pháp- hành thiền-tuệ, có khả năng dẫn đến chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, chứng đắc 4 Thánh-đạo, 4 Thánh-quả và Niết-bàn, trở thành bậc Thánh A-ra-hán, rồi sẽ tịch diệt Niết-bàn, giải thoát khổ tử sinh luân-hồi trong tam-giới.
Quyển I: Tam-Bảo (Ratanattaya) gồm có chương I và chương II đã trình bày xong, tiếp theo
Quyển II: Quy-Y Tam-Bảo (Tiaraṇa):
Quyển II: Quy-Y Tam-Bảo (Tisaraṇa) gồm có 2 chương là chương III và chương IV.
Chương III: Ân-Đức Tam-Bảo (Ratanattayaguṇa):
-
- Ân-đức Phật-bảo (Buddhaguṇa) có 9 ân-đức-Phật.
- Ân-đức Pháp-bảo (Dhammaguṇa) có 6 ân-đức-Pháp.
- Ân-đức Tăng-bảo (Saṃghaguṇa) có 9 ân-đức-Tăng.
9 Ân-đức-Phật, 6 ân-đức-Pháp, 9 ân-đức-Tăng là đối- tượng dễ phát sinh đức-tin trong sạch nơi Tam-bảo, mà đức-tin là pháp dẫn đầu mọi thiện-pháp từ dục-giới thiện-pháp, sắc-giới thiện-pháp, vô-sắc-giới thiện-pháp cho đến siêu-tam-giới thiện-pháp cao thượng nhất.
Cho nên, các hàng thanh-văn cần phải học hỏi, hiểu biết rõ đầy đủ 9 ân-đức-Phật, 6 ân-đức-Pháp, 9 ân-đức- Tăng, bởi vì ân-đức Tam-bảo là đối-tượng dễ phát sinh đức-tin trong sạch nơi Tam-bảo.
Ân-đức Tam-bảo có tầm quan trọng trong Phật-giáo.
- Ân-đức Tam-bảo là đề-mục của thiền-định
Trong 40 đề-mục thiền-định, có 10 đề-mục niệm-niệm (ānussati) có 3 đề-mục đầu là:
-
- Đề-mục niệm-niệm ân-đức-Phật đó là niệm-niệm 9 ân-đức-Phật.
- Đề-mục niệm-niệm ân-đức-Pháp đó là niệm-niệm 6 ân-đức-Pháp.
- Đề-mục niệm-niệm ân-Đức-Tăng đó là niệm-niệm 9 ân-đức-Tăng.
Như vậy:
-
- 9 ân-đức-Phật là đối-tượng-thiền-định của đề-mục niệm-niệm 9 Ân-đức-Phật.
- 6 ân-đức-Pháp là đối-tượng-thiền-định của đề-mục niệm-niệm 6 ân-đức-Pháp.
- 9 ân-đức-Tăng là đối-tượng-thiền-định của đề-mục niệm-niệm 9 ân-đức-Tăng.
3 đề-mục niệm-niệm ân-đức Tam-bảo: niệm-niệm Ân- đức Phật-bảo, niệm-niệm ân-đức Pháp-bảo, niệm-niệm ân-đức Tăng-bảo này chỉ có trong Phật-giáo mà thôi, không có ngoài Phật-giáo. Còn lại các đề-mục thiền- định khác, có trong Phật-giáo và ngoài Phật-giáo.
- Ân-đức Tam-bảo là đối-tượng của phép quy-y Tam-bảo
Phép quy-y Tam-bảo theo pháp-tam-giới (lokiyasaraṇa- gamana) được thành tựu là do nhờ đối-tượng ân-đức Tam-bảo
- Khi thọ phép quy-y Phật-bảo với đại-thiện-tâm hợp với trí-tuệ có đối-tượng là 9 Ân-đức-Phật.
- Khi thọ phép quy-y Pháp-bảo với đại-thiện-tâm hợp với trí-tuệ có đối-tượng là 6 ân-đức-Pháp.
- Khi thọ phép quy-y Tăng-bảo với đại-thiện-tâm hợp với trí-tuệ có đối-tượng là 9 ân-đức-Tăng.
Như vậy, đối với hạng phàm-nhân, ân-đức Tam-bảo thật là tối ư quan trọng, bởi vì ân-đức Tam-bảo là đối- tượng chính hỗ trợ cho phép quy-y Tam-bảo theo pháp tam-giới được thành tựu.
- Nếu là người nam phàm-nhân tại gia, thì người ấy trở thành cận-sự-nam (upāsaka).
- Nếu là người nữ phàm-nhân tại gia, thì người ấy trở thành cận-sự-nữ (upāsikā) trong giáo-pháp của Đức- Phật Gotama.
- Nếu là giới-tử xuất gia, thì giới-tử ấy trở thành vị sa- di (sāmaṇera) trong giáo-pháp của Đức-Phật Gotama.
Do đó, chương III Ân-đức Tam-bảo là đối-tượng của chương IV Quy-y Tam-bảo.
Chương IV: Quy-Y Tam-bảo (Tisaraṇa)
-
- Quy-y Phật-bảo (Buddhasaraṇa).
- Quy-y Pháp-bảo (Dhammasaraṇa).
- Quy-y Tăng-bảo (Saṃghasaraṇa).
Quy-y Phật-bảo, quy-y Pháp-bảo, quy-y Tăng-bảo là một phép gọi là phép quy-y Tam-bảo, để trở thành người cận-sự-nam (upāsaka) hoặc cận-sự-nữ (upāsikā) trong giáo pháp của Đức-Phật Gotama.
Phép quy-y Tam-bảo có 2 phép:
- Phép quy-y Tam-bảo theo pháp siêu-tam-giới (Lokuttarasaraṇagamana).
- Phép quy-y Tam-bảo theo pháp tam-giới (Lokiyasaraṇagamana).
Phép quy-y Tam-bảo theo pháp-siêu-tam-giới như thế nào?
Một người đến hầu Đức-Phật, lắng nghe Đức-Phật thuyết pháp, rồi thực-hành pháp-hành thiền-tuệ dẫn đến chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, chứng đắc Thánh-đạo. Ngay khi sát-na Thánh-đạo-tâm phát sinh có đối-tượng Niết-bàn, diệt-đoạn-tuyệt được phiền-não, đồng thời bậc Thánh-nhân ấy đã thành tựu phép quy-y Tam-bảo theo pháp siêu-tam-giới (Lokuttarasaraṇagamana).
Tuy đã thành tựu phép quy-y Tam-bảo theo pháp- siêu-tam-giới ở trong tâm rồi, nhưng bậc Thánh-nhân tại gia ấy vẫn còn phải thọ phép quy-y Tam-bảo theo pháp-tam-giới, trước sự hiện diện của Đức-Phật, hoặc bậc thanh-văn đệ-tử của Đức-Phật; kính xin Ngài (quý Ngài) chứng minh và công nhận bậc Thánh-nhân tại gia ấy là người cận-sự-nam (upāsaka) hoặc người cận-sự- nữ (upāsikā) đã quy-y Tam-bảo kể từ đó cho đến trọn đời, trọn kiếp.
Khi ấy, bậc Thánh-nhân tại gia ấy mới được chính thức gọi là người cận-sự-nam (upāsaka) hoặc người cận- sự-nữ (upāsikā) trong giáo-pháp của Đức-Phật Gotama.
Phép quy-y Tam-bảo theo pháp-tam-giới như thế nào?
Những hạng phàm-nhân tại gia là bậc thiện-trí có đức-tin trong sạch nơi Tam-bảo, có trí-tuệ sáng suốt học hỏi hiểu rõ 9 ân-đức-Phật, 6 ân-Đức-Pháp, 9 ân-Đức- Tăng, có nhận thức đúng đắn rằng: Đức-Phật cao thượng, Đức-Pháp cao thượng, Đức-Tăng cao thượng; có ý nguyện muốn trở thành người cận-sự-nam (upāsaka) (hoặc người cận-sự-nữ) (upāsikā) trong giáo- pháp của Đức-Phật Gotama.
Người ấy đến hầu Đức-Phật, hoặc bậc thanh-văn đệ- tử của Đức-Phật, thành kính xin làm lễ thọ phép quy-y Tam-bảo.
- Khi thọ phép quy-y Phật-bảo với đại-thiện-tâm hợp với trí-tuệ có đối-tượng 9 ân-đức-Phật.
- Khi thọ phép quy-y Pháp-bảo với đại-thiện-tâm hợp với trí-tuệ có đối-tượng 6 ân-Đức-Pháp.
- Khi thọ phép quy-y Tăng-bảo với đại-thiện-tâm hợp với trí-tuệ có đối-tượng 9 ân-Đức-Tăng.
Hạng phàm-nhân ấy thọ phép quy-y Tam-bảo với đại- thiện-tâm hợp với trí-tuệ có đối-tượng ân-đức Tam-bảo, đồng thời diệt bằng cách chế ngự được phiền-não. Ngay khi ấy, hạng phàm-nhân ấy thành tựu phép quy-y Tam- bảo theo pháp-tam-giới (lokiyasaranagamana), trở thành người cận-sự-nam (upāsaka) hoặc người cận-sự-nữ (upāsikā) trong giáo-pháp của Đức-Phật Gotama.
Như vậy, phép quy-y Tam-bảo này không chỉ đối với các hàng phàm-nhân tại gia mà còn đối với các bậc Thánh-nhân tại gia nữa.
Các bậc Thánh-nhân tại gia được thành tựu 2 phép quy-y Tam-bảo: phép quy-y Tam-bảo theo pháp-siêu- tam-giới và phép quy-y Tam-bảo theo pháp-tam-giới.
Còn các hạng phàm-nhân tại gia chỉ thành tựu phép quy-y Tam-bảo theo pháp-tam-giới mà thôi, chưa thành tựu được phép quy-y Tam-bảo theo pháp-siêu-tam-giới.
Nếu khi nào hạng phàm-nhân thực-hành pháp-hành thiền-tuệ, có khả năng chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, chứng đắc Thánh-đạo, Thánh-quả và Niết-bàn trở thành bậc Thánh-nhân thì khi ấy vị Thánh-nhân ấy mới thành tựu được phép quy-y Tam-bảo theo pháp-siêu-tam-giới.
- Đối với các hạng phàm-nhân tại gia, nếu muốn thành tựu phép quy-y Tam-bảo theo pháp-tam-giới, để trở thành người cận-sự-nam (upāsaka) hoặc người cận- sự-nữ (upāsikā) thật sự trong giáo-pháp của Đức-Phật Gotama, trước tiên, người ấy cần phải có đức-tin nơi Tam-bảo, có trí-tuệ sáng suốt, học hỏi, hiểu rõ 9 ân- đức-Phật, 6 ân-Đức-Pháp, 9 ân-Đức-Tăng; bởi vì, những ân-đức Tam-bảo này là đối-tượng chính của đại- thiện-tâm hợp với trí-tuệ trong phép quy-y Tam-bảo.
- Khi thọ phép quy-y Phật-bảo với đại-thiện-tâm hợp với trí-tuệ có đối-tượng 9 ân-đức-Phật.
- Khi thọ phép quy-y Pháp-bảo với đại-thiện-tâm hợp với trí-tuệ có đối-tượng 6 ân-Đức-Pháp.
- Khi thọ phép quy-y Tăng-bảo với đại-thiện-tâm hợp với trí-tuệ có đối-tượng 9 ân-Đức-Tăng.
Khi đại-thiện-tâm hợp với trí-tuệ có ân-đức Tam-bảo làm phận sự thọ phép quy-y Tam-bảo, trước sự hiện diện của Đức-Phật, hoặc bậc Thánh thanh-văn hoặc bậc phàm thanh-văn đệ-tử của Đức-Phật, người ấy kính xin Ngài (hoặc quý Ngài) chứng minh và công nhận người ấy là người cận-sự-nam (upāsaka) hoặc người cận-sự- nữ (upāsikā) đã quy-y Tam-bảo, kể từ lúc đó cho đến trọn đời, trọn kiếp.
- Trong đời có số người quan niệm rằng: “Trong gia đình có thờ tượng Đức-Phật, ta là người có đức-tin nơi Tam-bảo, hằng ngày thường lễ bái cúng dường Tam- bảo, đến chùa làm mọi phước-thiện như bố-thí, cúng dường đến chư tỳ-khưu-Tăng, v.v…
Nư vậy, đương nhiên ta là người cận-sự-nam (upāsaka) hoặc người cận-sự-nữ (upāsikā) trong Phật- giáo rồi!”
Nhưng thật ra, dù những người ấy đã tạo những phước-thiện như vậy, vẫn chưa đủ tiêu chuẩn để chính thức trở thành người cận-sự-nam (upāsaka) hoặc người cận-sự-nữ (upāsikā) trong giáo-pháp của Đức-Phật Gotama. Những người ấy chỉ có thể gọi là người có đại- thiện-tâm tín ngưỡng trong Phật-giáo, hoặc là người có đức-tin nơi Tam-bảo mà thôi.
Để chính thức trở thành một người cận-sự-nam (upāsaka) hoặc người cận-sự-nữ (upāsikā) thật sự trong giáo-pháp của Đức-Phật Gotama, những hạng phàm- nhân tại gia ấy cần phải thành tựu phép quy-y Tam-bảo theo pháp-tam-giới, nhờ có sự hiện diện của bậc thanh- văn đệ-tử của Đức-Phật, kính xin Ngài chứng minh và công nhận người ấy là người cận-sự-nam (upāsaka) hoặc người cận-sự-nữ (upāsikā) đã quy-y Tam-bảo cho đến trọn đời, trọn kiếp. Khi ấy, người ấy mới chính thức được trở thành cận-sự-nam (upāsaka) hoặc người cận- sự-nữ (upāsikā), là một trong tứ chúng đệ-tử của Đức- Phật Gotama.
Trong giáo-pháp của Đức-Phật Gotama có tứ chúng đệ-tử là tỳ-khưu (bhikkhu), tỳ-khưu-ni (bhikkhuni), cận- sự-nam (upāsaka), cận-sự-nữ (upāsikā).
Khi một người đã trở thành cận-sự-nam (upāsaka) hoặc người cận-sự-nữ (upāsikā) là có một địa vị cao quý trong Phật-giáo. Cho nên, mỗi người cận-sự-nam (upāsaka) hoặc người cận-sự-nữ (upāsikā) đã quy-y Tam-bảo rồi, trở thành một trong tứ chúng đệ-tử trong giáo-pháp của Đức-Phật Gotama, người ấy được gần gũi thân cận nơi Tam-bảo: Đức-Phật-bảo, Đức-Pháp- bảo, Đức-Tăng-bảo, có quyền thừa hưởng Pháp-bảo cao-thượng của Đức-Phật, có bổn phận hộ trì Tam-bảo, giữ gìn duy trì Pháp-bảo cao thượng cho được trường
tồn lâu dài trên thế gian này, để đem lại sự lợi ích cao thượng, sự tiến hóa cao thượng từ dục-giới thiện-pháp, sắc-giới thiện-pháp, vô-sắc-giới thiện-pháp cho đến siêu-tam-giới thiện-pháp cao thượng đó là 4 Thánh-đạo- tâm có quả là 4 Thánh-quả-tâm và Niết-bàn.
Quyển sách “Quy-Y Tam-Bảo” này, bần sư đã dày công sưu tầm, gom nhặt mọi phép quy-y Tam-bảo, bắt đầu từ phép quy-y Nhị-Bảo đầu tiên của hai anh em lái buôn Tapussa và Bhallika, tại cội cây Rājayatana gần cội Đại-Bồ-đề, sau khi Đức-Phật Gotama đã an hưởng pháp vị giải thoát suốt 7 tuần lễ tại 7 nơi, gồm 49 ngày, xung quanh cội Đại-Bồ-đề của Đức-Phật Gotama.
Tiếp theo sau là phép quy-y Tam-bảo đầu tiên của thân phụ và thân mẫu của Ngài Trưởng-lão Yasa, và các phép quy-y Tam-bảo khác nhau từ thời xưa cho đến phép quy-y Tam-bảo phổ thông thời nay, hiện đang lưu truyền trong các nước Phật-giáo Theravāda như: Nước Srilankā (Tích-lan), nước Myanmar (Miến-Điện), nước Thái-Lan, nước Campuchia, nước Lào, Phật-giáo Nguyên-thủy tại Việt Nam, v.v…
Trong quyển sách “Quy-Y Tam-Bảo” này, bần sư đã cố gắng hết sức mình để sưu tầm, gom nhặt những nguồn tài liệu có liên quan đến quy-y Tam-bảo, từ Tam- Tạng Pāḷi và các Chú-giải Pāḷi chỉ được bấy nhiêu thôi!
Tuy bần sư cố gắng hết mình giảng giải để giúp cho độc giả tìm hiểu rõ về phép quy-y Tam-bảo, song vì khả năng có hạn, nên chắc chắn không tránh khỏi những điều sơ sót, thậm chí còn có chỗ sai ngoài khả năng hiểu biết của bần sư.
Để lần sau tái bản được hoàn thiện hơn, kính mong chư bậc thiện-trí có tâm từ chỉ giáo, góp ý chân tình.
Kính xin quý vị xem soạn phẩm này như là của chung, mà mỗi người trong chúng ta, ai cũng có bổn phận đóng góp xây dựng, để cho soạn phẩm này được hoàn hảo, hầu mong đem lại sự lợi ích chung, sự tiến hóa, sự an-lạc cho phần đông chúng ta. Bần sư kính cẩn đón nhận những lời đóng góp phê bình xây dựng ấy của chư bậc thiện-trí, và kính xin quý Ngài ghi nhận nơi đây lòng chân thành biết ơn sâu sắc của bần sư.
Quyển sách “Quy-Y Tam-Bảo” tái bản lần thứ nhì này có sửa và bổ sung được hoàn thành do nhờ có nhiều người giúp đỡ như Dhammavara Sāmaṇera xem bản thảo Dhammanandā upāsikā đã tận tâm xem kỹ lại bản thảo, dàn trang, làm thành quyển sách; các thí-chủ trong nước và ngoài nước có đức-tin trong sạch lo ấn hành và đã được Nhà xuất bản Tôn-giáo cho phép ấn hành.
Bần sư vô cùng hoan hỷ và biết ơn tất cả quý vị.
Nhân dịp này, con là Dhammarakkhita Bhikkhu (tỳ- khưu Hộ-Pháp) thành kính dâng phần pháp thí thanh cao này đến Ngài Đại-Trưởng-Lão Hộ-Tông, Vaṃsa- rakkhitamahāthera là sư phụ của con, đồng thời đến Ngài Đại-Trưởng-Lão Thiện-Luật, Ngài Đại-Trưởng- Lão Bửu-Chơn, Ngài Đại-Trưởng-Lão Giới-Nghiêm, Ngài Trưởng-lão Hộ-Giác (chùa Từ Quang), Ngài Trưởng lão Hộ-Nhẫn (chùa Thiền-lâm, Huế) cùng chư Trưởng-Lão, chư Đại-đức khác đã dày công đem Phật- giáo Nguyên-thủy (Theravāda) về truyền bá trên quê hương Việt Nam thân yêu, và xin kính dâng phần phước- thiện thanh cao này đến chư Đại-Trưởng-Lão ở nước Thái-Lan, nước Myanmar (Miến-Điện), đã có công dạy dỗ con về pháp-học và pháp-hành.
Con kính mong quý Ngài hoan hỷ.
Idaṃ no ñātinaṃ hotu, sukhitā hontu ñātayo.
Phước-thiện pháp-thí thanh cao này, xin hồi hướng đến tất cả bà con thân quyến của chúng con, từ kiếp hiện-tại cho đến vô lượng kiếp trong quá-khứ, cầu mong quý vị hoan hỷ nhận phần phước-thiện thanh cao này để thoát khỏi cảnh khổ, được an-lạc lâu dài.
Imaṃ puññābhāgaṃ mātāpitu-ācariya-ñāti- mittānañ ceva sesasabbasattānañca dema, sabbepi te puññapattiṃ laddhāna sukhitā hontu, dukkhā muccantu sabbattha.
Chúng con thành tâm hồi hướng, chia phần phước- thiện pháp-thí thanh cao này đến ông bà, cha mẹ, thầy tổ, thân quyến, bạn hữu cùng tất cả chúng-sinh từ cõi địa-ngục, a-su-ra, ngạ-quỷ, súc-sinh, nhân-loại, chư- thiên trong các cõi trời dục-giới, chư phạm-thiên trong các cõi trời sắc-giới, ... Xin tất cả quý vị hoan hỷ nhận phần phước-thiện pháp-thí thanh cao này, cầu mong quý vị thoát mọi cảnh khổ, hưởng được mọi sự an-lạc lâu dài trong khắp mọi nơi.
Idaṃ me dhammadānaṃ āsavakkhayāvahaṃ hotu.
Phước-thiện pháp-thí thanh cao này của mỗi người chúng con, xin làm duyên lành dẫn dắt mỗi người chúng con đến chứng đắc A-ra-hán Thánh-đạo, A-ra- hán Thánh-quả và Niết-bàn, diệt-đoạn-tuyệt mọi phiền- não trầm-luân, giải thoát khổ tử sinh luân-hồi trong 3 giới 4 loài.
Nếu mỗi người trong chúng con chưa diệt-đoạn-tuyệt được mọi phiền-não trầm-luân, chưa giải thoát khổ sinh, vẫn còn tử sinh luân-hồi, thì do năng lực phước-thiện pháp-thí thanh cao này ngăn cản mọi ác-nghiệp không
có cơ hội cho quả tái-sinh trong 4 cõi ác-giới: địa-ngục, a-su-ra, ngạ-quỷ, súc-sinh; và cũng do năng lực phước- thiện thanh cao này chỉ hỗ trợ thiện-nghiệp cho quả tái- sinh trong cõi thiện-giới: cõi người, các cõi trời dục- giới… mà thôi.
Được sinh kiếp nào, mỗi người trong chúng con đều là người có chánh-kiến, có đức-tin trong sạch nơi Tam- bảo, tin nghiệp và quả của nghiệp, có duyên lành được gần gũi thân cận với bậc thiện-trí, lắng nghe chánh- pháp của bậc thiện-trí, có đức-tin trong sạch nơi bậc thiện-trí, cố gắng tinh-tấn thực-hành theo lời giáo-huấn của bậc thiện-trí, không ngừng tạo mọi pháp-hạnh ba- la-mật cho sớm được đầy đủ trọn vẹn, để mong sớm chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, mong chứng đắc 4 Thánh-đạo, 4 Thánh-quả và Niết-bàn, mong diệt-đoạn- tuyệt mọi phiền-não trầm-luân, trở thành bậc Thánh-A- ra-hán.
Trong kiếp tử sinh luân-hồi, mỗi khi chúng con được nghe tin lành Đức-Phật, Đức-Pháp, Đức-Tăng ngự nơi nào, dù gần dù xa, chúng con liền phát sinh đại-thiện- tâm hỷ lạc, có đức-tin trong sạch nơi Đức-Phật, Đức- Pháp, Đức-Tăng, quyết tâm tìm đến nơi ấy, để hầu đảnh lễ Đức-Thế-Tôn, hoặc chư Thánh thanh-văn đệ-tử của Ngài, lắng nghe chánh-pháp, cố gắng tinh-tấn thực- hành theo chánh-pháp của Ngài, để mong chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, chứng đắc 4 Thánh-đạo, 4 Thánh- quả và Niết-bàn, diệt-đoạn-tuyệt mọi phiền-não, mọi tham-ái, trở thành bậc Thánh A-ra-hán sẽ tịch diệt Niết- bàn, giải thoát khổ tử sinh luân-hồi trong 3 giới 4 loài.
Nay, chúng con hết lòng thành kính thọ phép quy-y Tam-bảo: quy-y nơi Đức-Phật-bảo, quy-y nơi Đức-
Pháp-bảo, quy-y nơi Đức-Tăng-bảo và thành tâm hộ trì Tam-bảo cho đến trọn đời, trọn kiếp.
Do nhờ năng lực phước-thiện thanh cao này, cầu mong cho mỗi người chúng con luôn luôn có duyên lành, tạo được nhân tốt sâu sắc trong Phật-giáo.
Do nhờ năng lực phước-thiện pháp-thí thanh cao này theo hỗ trợ, nhắc nhở cho mỗi người chúng con trong mỗi kiếp, dù khi được thành tựu quả-báu ở cõi người (manussasampatti) hưởng được mọi sự an-lạc đầy đủ trong cõi người như thế nào, cũng không đắm say trong cõi người; hoặc dù khi được thành tựu quả-báu ở cõi trời (devasampatti) hưởng được mọi an-lạc đầy đủ trong cõi trời như thế nào, cũng không đắm say trong cõi trời.
Thật ra, mục đích cứu cánh cao cả của mỗi chúng con chỉ có cầu mong sớm thành tựu quả-báu chứng ngộ Niết-bàn (Nibbānasampatti) mà thôi, để mong giải thoát khổ tử sinh luân-hồi trong 3 giới 4 loài.
Icchitaṃ patthitaṃ amhaṃ, Khippameva samijjhatu.
Điều mong ước, ý nguyện của chúng con Cầu mong sớm được thành tựu như ý.
PL. 2560 / DL. 2016
Rừng Núi Viên Không Xã Tóc Tiên, Huyện Tân Thành Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
Tỳ-khưu Hộ-Pháp (Dhammarakkhita Bhikkhu) (Aggamahāpaṇḍita)
|
KỆ LỄ BÁI TAM-BẢO LỜI NÓI ĐẦU
MỤC LỤC
Ý nghĩa 9 Ân-đức Phật-bảo................................................ 2
Giảng giải về 9 Ân-đức Phật-bảo........................................ 3
- Phiền-não có 10 loại...................................................... 5
- Tính chất của phiền-não có 3 loại................................. 6
- Tham-ái có 108 loại...................................................... 9
- Vòng Tam-luân........................................................... 19
- Giải thích vòng Tam-luân.......................................... 20
- Phiền-não-luân làm nhân duyên tạo Nghiệp-luân... 21
- Nghiệp-luân cho Quả-luân...................................... 21
- Quả-luân sinh Phiền-não-luân................................ 22
- Niệm ân-đức Arahaṃ.................................................... 24
- Chân-lý tứ Thánh-đế.................................................... 26
- Ñeyyadhamma............................................................. 27
- Niệm Ân-đức Sammāsambuddho.................................. 28
- Tam-minh..................................................................... 30
- Bát-minh....................................................................... 31
- 15 Đức-hạnh cao thượng.............................................. 32
- Niệm Ân-đức Vijjācaraṇasampanno.............................. 33
- Tam-Tổng-Pháp có 3 loại............................................. 39
- Tam-giới...................................................................... 41
- Niệm Ân-đức Lokavidū................................................. 45
Anuttaro purisadammasārathi.............. 46
- Giáo hóa người ác trở thành bậc Thánh-nhân............... 46
- Giáo hóa dạ xoa ác trở thành bậc Thánh-nhân............. 47
- Giáo hóa phạm thiên tà-kiến trở thành chánh-kiến....... 47
- Giáo hóa loài súc-sinh.................................................. 48
- Niệm Ân-đức Anuttaro purisadammasārathi................. 49
Satthā devamanussānaṃ..................... 50
- Sự lợi ích an-lạc kiếp hiện-tại....................................... 51
- Sự lợi ích an-lạc những kiếp vị-lai................................ 53
- Sự lợi ích an-lạc cao thượng Niết Bàn.......................... 56
- Niệm Ân-đức Satthādevamanussānaṃ.......................... 60
- Niệm Ân-đức Buddho................................................... 63
- Ân-đức Bhagavā: Đức-Thế-Tôn có 6 ân-đức chính..... 67
- 5 phận sự của Đức Phật................................................ 69
- Niệm Ân-đức Bhagavā.................................................. 72
- Phương pháp niệm-niệm 9 Ân-đức Phật-bảo................. 74
- Pháp-hành Thiền-tuệ...................................................... 78
Ý nghĩa 6 Ân-đức Pháp-bảo............................................. 90
Giảng Giải Về 6 Ân-đức Pháp-bảo................................... 91
- Đồ biểu Nhập-lưu Thánh-đạo lộ-trình-tâm
(Sotāpattimaggavīthicitta)............ 98
Paccattaṃ veditabbo viññūhi........... 104
- Thánh-đạo lộ-trình-tâm (Maggavīthicitta).................. 105
- Khả năng đặc biệt của mỗi bậc Thánh-nhân............... 106
- Bậc Thánh-nhân nhập Thánh-quả............................... 107
- Ân-đức Pháp-bảo được thực chứng............................. 108
- 6 Ân-đức Pháp-bảo....................................................... 110
- Đề-mục niệm 6 Ân-đức Pháp-bảo (Dhammānussati)... 111
- Phương pháp niệm-niệm 6 Ân-đức Pháp-bảo............... 111
- Quả báu trong kiếp hiện-tại........................................... 113
- Quả báu trong những kiếp vị-lai................................... 114
- Pháp-hành Thiền-tuệ..................................................... 115
- Nhận xét về đề-mục niệm Ân-đức Pháp-bảo................ 119
Ý nghĩa 9 Ân-đức Tăng-bảo........................................... 120
Giảng giải về 9 Ân-đức Tăng-bảo................................... 122
Mahākassapattherapiṇḍapātadinnavatthu......... 133
- Kinh Kulasutta............................................................ 137
- Tích bố-thí cơm cháy.................................................. 140
- Tích Sāriputtattheramātupeta....................................... 142
- Tích Vihāravimāna...................................................... 146
- Tích Đức-vua trời Sakka đảnh lễ chư tỳ-khưu-Tăng
Kinh Saṃghavandanāsutta.................... 148
Anuttaraṃ puññakkhettaṃ................. 150
- Tích thiên nữ Lajādevadhītā........................................ 151
- Tích ông Puṇṇa............................................................ 153
- Quả báu phước-thiện bố-thí đến Tỳ-khưu-Tăng........... 159
- Đề-mục niệm 9 Ân-đức Tăng-bảo (Saṃghānussati).... 159
- Phương pháp niệm Ân-đức Tăng-bảo........................... 160
- Quả báu đặc biệt niệm 9 Ân-đức Tăng-bảo.................. 167
Siṅgālamātutherī............ 226
-
- Người cúng dường đến Đức-Phật đầu tiên................. 242
- Quy-y Nhị-bảo đầu tiên............................................... 243
- Tuyên dương cận sự nam quy-y đầu tiên................... 244
- Công-tử Yasa xuất gia................................................. 245
- Quy-y Tam-bảo đầu tiên............................................. 248
- Người nữ quy-y Tam-bảo đầu tiên............................. 253
- Tuyên dương cận-sự-nữ quy-y Tam-bảo đầu tiên..... 255
- Bậc thiện-trí biết rõ Đức-Phật mới quy-y Tam-bảo .255
- Nơi nương nhờ............................................................. 271
- Nguyên nhân quy-y Tam-bảo..................................... 274
- Quy-y Tam-bảo có 2 phép chính................................... 275
- Phép quy-y Tam-bảo theo pháp siêu-tam-giới........... 275
- Thứ bậc của Phép quy-y Tam-bảo
- Phép quy-y Tam-bảo theo pháp siêu-tam-giới........... 275
-
-
- Thánh-đạo-tâm liền cho quả Thánh-quả-tâm.............. 277
- Nhập Thánh-quả để hưởng an-lạc Niết-bàn............... 278
- Quả báu của Thánh-nhân trong kiếp vị-lai.................. 278
- Chư Thánh-nhân thọ Phép quy-y Tam-bảo................. 279
- Chứng đắc Thánh A-ra-hán tịch diệt Niết-bàn............ 281
- Chứng đắc Thánh A-ra-hán rồi xin xuất gia............... 283
- 3 bậc Thánh-nhân tại gia............................................. 285
- Phép quy-y Tam-bảo theo pháp tam-giới................... 287
-
theo pháp Tam-giới............. 288
theo pháp Tam-giới............. 289
-
-
- 4 Hạng người quy-y Tam-bảo theo pháp Tam-giới.... 291
- Quy-y Tam-bảo không thành tựu và thành tựu........... 294
- Phép quy-y Tam-bảo bị đứt - không bị đứt................. 298
- Phép quy-y Tam-bảo vững chắc................................. 301
- Phép quy-y Tam-bảo không vững chắc...................... 302
- Nhân làm ô nhiễm phép quy-y Tam-bảo.................... 303
- Phiền-não ấy phát sinh trong những trường hợp......... 304
- Nhân làm trong sạch lại Phép quy-y Tam-bảo............ 305
- Quy-y Tam-bảo với đức-tin trong sạch....................... 306
-
- Quả báu của Phép quy-y Tam-bảo và thọ trì ngũ-giới... 310
- Tích Satullapakāyikā, Kinh Sabbhisutta................... 310
-
-
- Phép quy-y Tam-bảo thời xưa..................................... 315
- Phép quy-y Tam-bảo thời nay..................................... 319
- Phép quy-y Tam-bảo phổ thông.................................. 320
- Cách thức thành tựu Phép quy-y Tam-bảo.................. 323
- Thai nhi thọ Phép quy-y Tam-bảo............................. 328
- Trẻ sơ sinh thọ Phép quy-y Tam-bảo......................... 329
- Lợi ích của Phép quy-y Tam-bảo................................ 333
- Sự lợi ích chung của Phép quy-y Tam-bảo................ 333
- Sự lợi ích riêng của mỗi Phép quy-y.......................... 335
- Địa vị cận-sự-nam, cận-sự-nữ trong Phật-giáo........... 338
-
- Thọ Phép quy-y Tam-bảo phổ thông............................ 343
- Thọ Phép quy-y Tam-bảo thành thói quen tốt.............. 353
- Phép quy-y Tam-bảo theo pháp siêu-tam-giới và quả báu 356
- Phép quy-y Tam-bảo theo pháp tam-giới và quả báu... 358
- Tích quả báu của phép quy-y Tam-bảo......................... 362
- Tích ngư dân tên Damila.............................................. 365
- 10 Quả báu của Phép quy-y Tam-bảo........................... 368
- Kinh Sakkasutta.......................................................... 369
- Tầm quan trọng của Phép quy-y Tam-bảo.................... 370
- Nghi thức thọ Tỳ-khưu................................................. 371
- Nghi thức lễ xuất gia trở thành Sa-di............................ 374
- Người cận-sự-nam - cận-sự-nữ trong Phật-giáo............. 380
- Kinh Mahānāmasutta................................................... 382
- Cận sự-nam - cận-sự-nữ thấp hèn hoặc cao quý.......... 386
- 5 Chi pháp cao quý....................................................... 387
- Kinh Gavesīsutta........................................................... 390
- Lễ sám hối Tam-bảo..................................................... 398
- Bài sám hối Tam-bảo.................................................... 399
- Nội dung bài sám hối Tam-bảo..................................... 400
- Lễ xin thọ Phép quy-y Tam-bảo và thọ trì ngũ-giới..... 401
* Phép quy-y Tam-bảo 3 câu cùng một lúc,
hoàn toàn bằng tiếng Pāḷi.......... 414
- Đảnh lễ Đức-Phật....................................................... 415
- Thọ Phép quy-y Tam-bảo.......................................... 415
- Thọ trì ngũ-giới.......................................................... 415
- Bài kệ khẳng định quy-y Tam-bảo............................. 416
- Cách thứ nhì: Tiếng Pāḷi có nghĩa tiếng Việt.............. 417
- Bài kệ sám hối Đức-Phật-bảo.................................... 417
- Bài kệ sám hối Đức-Pháp-bảo................................... 417
- Bài kệ sám hối Đức-Tăng-bảo................................... 418
- Bài kệ cầu nguyện...................................................... 419
- Xin thọ Phép quy-y Tam-bảo và thọ trì ngũ-giới....... 419
- Phép quy-y Tam-bảo và ngũ-giới.............................. 419
- Đảnh lễ Đức-Phật....................................................... 420
- Thọ Phép quy-y Tam-bảo.......................................... 420
- Thọ trì ngũ-giới.......................................................... 420
- Bài kệ khẳng định quy-y Tam-bảo............................. 423
- Cách thứ ba: Hoàn toàn bằng nghĩa tiếng Việt.......... 424
và ngũ-giới bằng nghĩa tiếng Việt........ 425
-
- Bài kệ sám hối Đức-Phật-bảo.................................... 425
- Bài kệ sám hối Đức-Pháp-bảo................................... 425
- Bài kệ sám hối Đức-Tăng-bảo................................... 425
- Bài kệ cầu nguyện...................................................... 426
- Xin thọ Phép quy-y Tam-bảo và thọ trì ngũ-giới........ 426
- Đảnh lễ Đức-Phật....................................................... 427
- Thọ Phép quy-y Tam-bảo.......................................... 427
- Nghi thức tự thọ Phép quy-y Tam-bảo....................... 432
- Lễ sám hối Tam-bảo.............................................. 432
- Bài kệ cầu nguyện.................................................. 433
- Đảnh lễ Đức-Phật................................................... 433
- Tự thọ Phép quy-y Tam-bảo.................................. 433
- Tự thọ trì ngũ-giới.................................................. 433
- Bài kệ khẳng định quy-y Tam-bảo......................... 434
- Kính xin Ngài công nhận....................................... 434
- Hương tam quy và ngũ-giới......................................... 435
- Nghi thức thọ Phép quy-y Tam-bảo và thọ trì bát-giới .438
- Bài kệ sám hối Đức-Phật-bảo.................................... 439
- Bài kệ sám hối Đức-Pháp-bảo................................... 439
- Bài kệ sám hối Đức-Tăng-bảo................................... 440
- Xin Thọ Phép quy-y Tam-bảo và thọ trì bát-giới...... 440
bát-giới uposathasīla........... 441
- Đảnh lễ Đức-Phật....................................................... 442
- Thọ Phép quy-y Tam-bảo.......................................... 442
- Thọ trì bát-giới uposathasīla...................................... 443
- Bài kệ khẳng định quy-y Tam-bảo............................ 444
|

Mốc I : Hoàn cảnh trước khi Phật ra đời
Mốc II : Sự kiện Phật đản sanh
Mốc III: Giai đoạn tuổi thơ của Bồ tát Tất Đạt Đa
Mốc IV : Giai đoạn trưởng thành - xuất gia
Mốc V : Tầm đạo
Mốc VI : Thành đạo
Mốc VII: Những vị đệ tử đầu tiên
Mốc VIII : Tăng đoàn lớn mạnh
Mốc IX: Mười ba năm cuối cuộc đời Đức Phật
Mốc X : Đức Phật nhập niết bàn