Nikaya Tâm HọcCon đường tuệ giác
Nikaya Tâm HọcKinh điển, nghiên cứu và các khu vực chính
Kinh sáchKinh điển, sách và tài liệu học Phật
Danh mục đầy đủ
Thời Phật Tại ThếBản đồ, Cuộc đời Đức Phật và Album ảnh
Bỏ qua menu, tới nội dung chính
Nikaya Tâm HọcKinh điển • Đức Phật • Nghiên cứu
Thư viện Nikaya Tâm HọcKhông gian tra cứu Đức Phật, Kinh Nikaya, A Hàm và tư liệu liên quan
Danh sách : Thời Phật tại thế
Gồm những người , vật , chư thiên ... xuất hiện trong thời Phật tại thế được ghi chép trong kinh tạng nguyên thủy và 1 số ít
Tìm kiếm nhanh
Phân loại theo :

Gồm những người , vật , chư thiên ... xuất hiện trong thời Phật tại thế được ghi chép trong kinh tạng nguyên thủy và 1 số ít 

 

Nội dung đang được xây dựng 

+ Gia đình , thân hữu Bồ tát Tất Đạt Đa và Thành Ca Tỳ La Vệ.

+ Top 10  vị đại đệ tử 

+ 80 vị trưởng lão

+ Ni trưởng và thánh ni

+ Cận sự nam

+ Cận sự nữ

+ Chư thiên , phi nhân  ...

+ Cừu nhân...

 

Danh sách nhân vật Màu nền thể hiện loại nhân vật theo quy ước dữ liệu gốc.
Chú giải màu nhân vật
Phật Chánh Đẳng Giác Bích Chi Phật A-la-hán Bồ-tát Tỳ-kheo Cận sự nam/nữ Cừu nhân Chư thiên A-tu-la Ma vương Ngạ quỷ Súc sinh Khác
ĐẠI TRƯỞNG LÃO BĀHIYA DĀRUCĪRIYA A-la-hán

ĐẠI TRƯỞNG LÃO BĀHIYA DĀRUCĪRIYA (Tên gốc của vị trưởng lão này là Bāhiya chỉ về quốc độ nơi vị ấy sinh ra. Về sau vị ấy được gọi là Bāhiya Dārucīriya, ‘ Bāhiya mặc vải sợi’ vì vị ấy mặc chiếc áo bằng sợi vỏ cây). Nguyện vọng quá khứ Bāhiya Dārucīriya tương lai sanh vào một gia đinh danh giá trong kinh thành Haṃsāvatī, thời của Đức Phật Padumuttara. Cũng như các vị đại trưởng lão tương lai khác, vị ấy viếng thăm tịnh xá của Đức Phật và trong khi nghe pháp, đã chứng kiến một vị tỳ khưu được Đức Phật công bố là Tối thắng trong số những vị tỳ khưu đạt sự giác ngộ mau lẹ. Vị ấy cảm thấy hoan hỉ muốn bắt chước với vị tỳ khưu ấy, sau khi tổ chức đại thí vị ấy bày tỏ ước nguyện trước Đức Phật về địa vị ấy trong tương lai. Đức Phật thấy rằng ước nguyện của vị ấy sẽ được thành tựu và Ngài đã nói lời tiên tri.

Giới tính: Nam Nguyên quán: Không rõ
A-la-hán Không rõ
Cập nhật: 22/08/2026 Xem chi tiết →
ĐẠI TRƯỞNG LÃO KAṄKHĀ REVATA – đệ nhất về tu thiền A-la-hán

Cách đây một trăm ngàn đại kiếp, trong thời kỳ của Đức Phật Padumuttara, trưởng lão Kaṅkhā Revata cùng những người khác đến tịnh xá, giống như những vị trưởng lão đương lai xưa kia. Và trong khi đang đứng ở mé ngoài của thính chúng và nghe pháp, vị ấy trông thấy Đức Phật ban danh hiệu etadagga cho một vị tỳ khưu nọ là đệ nhất trong những vị tỳ khưu tu thiền. Khi nghĩ rằng: “ Ta cũng nên trở thành người giống như vị tỳ khưu này,” bèn thỉnh Đức Phật vào lúc Ngài thuyết pháp xong và tổ chức đại thí đến Đức Phật. Trong bảy ngày, giống như những Thinh văn bồ tát khác, vị ấy phát nguyện như vầy: “ Bạch Đức Thế Tôn, do kết quả của việc phước adhikāra này, con không mong cầu bất cứ loại hạnh phúc nào khác ngoài danh hiệu etadagga trong số những người chuyên tâm hành thiền trong thời kỳ giáo pháp của một vị Phật đương lai, như vị tỳ khưu đã được ban danh hiệu cách đây bảy ngày.”

Giới tính: Nam Nguyên quán: Kosala
A-la-hán Kosala
Cập nhật: 20/08/2026 Xem chi tiết →
Tôn giả Nadīkassapa – người anh giữa trong nhóm ba vị đạo sĩ thờ lửa ( top 80 trưởng lão – nhóm phải) A-la-hán

Tôn giả Nadīkassapa – người anh giữa trong nhóm ba vị đạo sĩ thờ lửa Brother of Uruvela Kassapa and one of the Tebhātika Jatila (three brothers). He received his name from living on the bank of the Nerañjarā at the head of three hundred ascetics. (Thag.340-44; ThagA.i.434, etc.)  For his story see s.v. Uruvela Kassapa.

Giới tính: Nam Nguyên quán: Ma Kiệt Đà
A-la-hán Ma Kiệt Đà
Cập nhật: 20/08/2026 Xem chi tiết →
Tôn giả Gayākassapa – người em út trong nhóm ba vị đạo sĩ thờ lửa( top 80 trưởng lão nhóm phải) A-la-hán

One of the three Kassapa brothers, the Tebhātika-Jatilā (q.v.). On leaving the world with his brothers and becoming an ascetic, he gathered round him a company of two hundred other ascetics. They all lived at Gayāsīsa, hence his name (Gayāsīse pabbajito ti Gayā Kassapo nāma jāto). When Uruvela-Kassapa was converted, Gayā-Kassapa, with his followers, joined the Order, and at the conclusion of the Adittapariyāya Sutta they all became arahants (Vin.i.33f.; AA.i.165). Gayā-Kassapa is reported (Thag.v.345f) to have said that he used to bathe three times a day at Gayātittha, in order to wash away his sins during the festival of Gayāphaggu.

Giới tính: Nam Nguyên quán: Ma Kiệt Đà
A-la-hán Ma Kiệt Đà
Cập nhật: 22/08/2026 Xem chi tiết →
ÔNG BÀ LA MÔN DONA PHÂN CHIA XÁ LỢI ĐỨC PHẬT Cận sự nam/nữ

Sau khi làm lễ trà tỳ nhục thể Đức Thế Tôn, những người Mallā, xứ Kusinārā, tôn trí xá lợi Đức Thế Tôn trong giảng đường, thành kính lễ bái, dâng hương hoa, cử lễ nhạc, múa hát cúng dường; đồng thời bảo vệ Xá lợi một cách nghiêm ngặt. Vua Ajātasattu nước Magadha hay tin Đức Thế Tôn đã diệt độ tại Kusinārā, liền gửi sứ giả đến thỉnh cầu người Mallā: “Thế Tôn là người Kshastriya, tôi cũng là người Kshastriya, do vậy, tôi cũng đáng được một phần Xá lợi của Đức Thế Tôn để xây tháp cúng dường”.

Giới tính: Nam Nguyên quán: Malla
Cận sự nam/nữ Malla
Cập nhật: 21/08/2026 Xem chi tiết →
Hoàng đế Kanishka ( Ca Nị Sắc vương ) Cận sự nam/nữ

hoảng 400 năm sau khi Đức Phật nhập diệt, vua Cà Ni Sắc Ca (Kaniska) đã triệu tập 500 vị Hiền Thánh Tăng (A la hán) họp tại thành Ca Thấp Di La để kết tập Kinh điển dưới quyền chủ tọa của hai ngài Hiếp Tôn Giả và Thế Hữu (Vasumitra). Vua Ca Nị Sắc Ca sai thợ đúc đồng đỏ thành lá mỏng để chép lại ba bộ luận: 1)Bộ luận “Ưu Ba Đề Xá” gồm 10 vạn bài tụng dùng để giải thích Kinh tạng. 2)Bộ luận “Tì Nại Da Tì Bà Sa” cũng gồm 10 vạn bài tụng, để giải thích Luật tạng. 3)Bộ luận “A Tì Đạt Ma Tì Bà Sa” cũng gồm 10 vạn bài tụng, để giải thích Luận tạng.

Giới tính: Nam Nguyên quán: Không rõ
Cận sự nam/nữ Không rõ
Cập nhật: 19/08/2026 Xem chi tiết →
Vasumitra (Buddhism -  Thiên hữu) Tỳ-kheo

Khoảng 400 năm sau khi Đức Phật nhập diệt, vua Cà Ni Sắc Ca (Kaniska) đã triệu tập 500 vị Hiền Thánh Tăng (A la hán) họp tại thành Ca Thấp Di La để kết tập Kinh điển dưới quyền chủ tọa của hai ngài Hiếp Tôn Giả và Thế Hữu (Vasumitra). Vua Ca Nị Sắc Ca sai thợ đúc đồng đỏ thành lá mỏng để chép lại ba bộ luận:

Giới tính: Nam Nguyên quán: Kosala
Tỳ-kheo Kosala
Cập nhật: 22/08/2026 Xem chi tiết →
Mẹ ngài Sariputa ( Rūpasārī) Cận sự nam/nữ

Mẹ ngài Sariputa Mother of Sāriputta, who was called after her, his personal name being Upatissa. (SNA.i.326; DhA.i.73, etc.; in Sanskrit texts (e.g., Dvy.395) Sāriputta is called Sāradvatīputra). Her husband was the brahmim Vanganta (DhA.ii.84), and she became the mother of seven children, all of whom became arahants - Sāriputta, Upasena, Mahācunda, Revata Khadiravaniya, Cālā, Upacālā and Sisūpacālā (DhA.ii.188; SA.iii.172).

Giới tính: Nam Nguyên quán: Ma Kiệt Đà
Cận sự nam/nữ Ma Kiệt Đà
Cập nhật: 23/08/2026 Xem chi tiết →
Bà Thanh Đề (mẹ ngài Đại Mục Kiền Liên ) Khác

Bà Thanh Đề : được Phật giáo Đại Thừa cho rằng là thân mẫu của Mục Liên. Không tin Phật pháp , thường ăn thịt , phá tăng. Bà được cho là vợ đời trước ông Phó Tướng , do cúng dường với tâm thành nhưng bị từ chối nên có oan trái với cửa Phật

Giới tính: Nam Nguyên quán: Ma Kiệt Đà
Khác Ma Kiệt Đà
Cập nhật: 19/08/2026 Xem chi tiết →
Sūra-Ambaṭṭha.Nam cư sĩ Lòng tịnh tín bất động tối thắng Cận sự nam/nữ

Sūra-Ambaṭṭha.— Lòng tịnh tín bất động tối thắng Nam cư sĩ được Phật tán thán là tối thắng về có lòng tịnh tín bất động (aggaṃ aveccappasannānaṃ). Ông phát nguyện được sự tối thắng này từ thời Phật Padumuttara (A. i. 26; cf. iii. 451). Vào thời Phật hiện tiền, ông sinh làm con của một gia đình chủ ngân khố ở Sāvatthi và đi tu theo ngoại đạo. Một hôm, thấy Sūra đủ duyên lành, Phật đến khất thực ở nhà ông. Ông thỉnh Ngài vào nhà, đặt Ngài ngồi trên một sàng toạ đầy đủ tiện nghi và mời Ngài thọ trai. Lúc Ngài nói lời tuỳ hỷ, ông đắc quả Dự lưu.

Giới tính: Nam Nguyên quán: Kosala
Cận sự nam/nữ Kosala
Cập nhật: 21/08/2026 Xem chi tiết →
Ugga.— Nam cư sĩ tối thắng về bố thí các món đồ khả ý Cận sự nam/nữ

Ugga.— Nam cư sĩ tối thắng về bố thí các món đồ khả ý Gia chủ ở Vesāli được Phật tán thán là cư sĩ tối thắng vì ông bố thí các món đồ khả ý (manāpadāyakānaṃ, A. i. 26). Chú giải Tương ưng (SA. iii. 26) ghi sai là aggo panītadāyakānaṃ, đó là danh hiệu của ông Mahānāma.

Giới tính: Nam Nguyên quán: Bạt Kỳ (Vajji)
Cận sự nam/nữ Bạt Kỳ (Vajji)
Cập nhật: 17/08/2026 Xem chi tiết →
Sa Di Kaṇṭaka ( vị Sadi báng pháp ) Tỳ-kheo

Sa Di Kaṇṭaka là vị sa di xuất hiện trong luật tạng pali tập 2 - luật tỳ kheo..Vị sa di này có ác tà kiến “Theo như ta hiểu về Pháp đã được đức Thế Tôn thuyết giảng thì những pháp chướng ngại được đức Thế Tôn giảng giải không có khả năng đem đến sự chướng ngại cho người thực hành.”  

Giới tính: Nam Nguyên quán: Kosala
Tỳ-kheo Kosala
Cập nhật: 22/08/2026 Xem chi tiết →
Maha Kokālika ( Tỳ kheo phe cánh với Devadatta) Cừu nhân

1. Kokālika (Kokāliya). - Một vị sư, một trong những người ủng hộ chính của Devadatta . Biết được sức mạnh của Đức Phật , lúc đầu, ông không muốn tham gia vào âm mưu của Devadatta chống lại Ngài, nhưng sau đó đã để mình bị thuyết phục sau khi nghe âm mưu được giải thích (Vin.ii.196; iii.171). Khi các nhà sư đổ lỗi cho Devadatta về những hành vi sai trái của ông, Kokālika luôn sẵn sàng bảo vệ ông (Vin.iii.174). Khi những thành quả của Devadatta giảm sút, Kokālika đi khắp nơi ca ngợi ông, sự ra đời, những thành tựu và sự thánh thiện của ông, và nhiều người đã tin ông (J.ii.438f). Ông là một người bạn tuyệt vời của Thullanandā (Vin.iv.335).

Giới tính: Nam Nguyên quán: Ma Kiệt Đà
Cừu nhân Ma Kiệt Đà
Cập nhật: 23/08/2026 Xem chi tiết →
Kaṭamorakatissaka ( thuộc nhóm tỳ kheo chia rẽ hội chúng Devadatta_ Cừu nhân

Một trong những nhà sư mà Devadatta xúi giục cùng tham gia gây chia rẽ Tăng đoàn, những người khác là Kokālika , Khandadevīputta và Samuddadatta (Vin.ii.196; iii.171). Katamorakatissa được Thullanandā rất kính trọng , vì chúng ta được kể rằng một ngày nọ, khi đến một ngôi nhà nơi bà thường xuyên đến thăm, và khi được báo rằng một số đệ tử lỗi lạc của Đức Phật, chẳng hạn như Sāriputta , Moggallāna , Mahā Kaccāna , cũng đã được mời, vì họ tình cờ ở Veluvana gần đó, bà đã bày tỏ sự thất vọng lớn rằng những người này đã được mời, trong khi những đệ tử lỗi lạc nhất (mahānāgā) như Devadatta, Katamorakatissa, v.v., lại có mặt. Vin.iv.66.

Giới tính: Nam Nguyên quán: Ma Kiệt Đà
Cừu nhân Ma Kiệt Đà
Cập nhật: 23/08/2026 Xem chi tiết →
Dạ-xoa Naḷeru ( chủ sở hữu của cội cây Nimba ) A-tu-la

Dạ-xoa Naḷeru ( chủ sở hữu của cội cây Nimba ) .. được nhắc đến gián tiếp trong kinh Nalerupucimanda Một khu rừng gần Verañjā , nơi Đức Phật đã dành một phần thời gian trong chuyến viếng thăm Nerañjā (Vin.iii.1; A.iv.172, 197). Buddhaghosa giải thích (Sp.i.108) rằng cây chính được tìm thấy ở đó là cây pucimanda hay cây nimba, dưới gốc cây có một ngôi đền thờ một Yakkha tên là Naleru. Cây này râm mát và đẹp mắt. Con đường về phía bắc (đến Uttarakuru?) đi qua cái cây này (Ibid.,184).

Giới tính: Nam Nguyên quán: Không rõ
A-tu-la Không rõ
Cập nhật: 22/08/2026 Xem chi tiết →
Chúa Atula Pahārāda (1 trong 3 vị chúa Atula) A-tu-la

Chúa Atula Pahārāda (1 trong 3 vị chúa Atula) Pahārāda Pahārāda An Asura chief (D.ii.259). Buddhaghosa says (AA.ii.758) he was one of the three leaders of the Asuras, the others being Vepacitti and Rāhu. He first conceived a wish to see the Buddha on the day of the Enlightenment; but this wish was not fulfilled until eleven years later, when he visited the Buddha at Verañjā. The conversation which then took place is recorded in the Pahārāda Sutta (q.v.).

Giới tính: Nam Nguyên quán: Không rõ
A-tu-la Không rõ
Cập nhật: 19/08/2026 Xem chi tiết →
Atula Veroca ( 1 trong 3 vị chua Atula ) A-tu-la

Atula Veroca ( 1 trong 3 vị chua Atula ) Veroca An Asura chieftain. All the hundred sons of Bali were named after him (D.ii.259). Buddhaghosa says (DA.ii.689) that Veroca was another name for Rāhu, and that he was the uncle of Bali's sons. He is probably identical with Verocana, lord of the Asuras' who, according to the Samyutta Nikāya (S.i.225f), went with Sakka to visit the Buddha during his siesta. They waited upon the Buddha, leaning against a doorpost, and each uttered two stanzas on the necessity of striving until one's aim is accomplished.

Giới tính: Nam Nguyên quán: Không rõ
A-tu-la Không rõ
Cập nhật: 22/08/2026 Xem chi tiết →
Sāḷha (cháu trai của Migāra ) Cận sự nam/nữ

Sāḷha (cháu trai của Migāra ) : Vị này nhiễm ái dục với tỳ kheo ni Sundarīnandā - do duyên gặp gỡ nhiều lần. 1. Sālha, called Migāranattā. He once visited Nandaka Thera with Pekkhuniya's grandson, Rohana. See the Sālha Sutta (A.i.193 f). He built a vihāra for the nuns and Sundarīnandā was appointed to supervise the work. As a result, Sālha and Sundarīnandā saw each other frequently and fell in love. Wishing to seduce her, Sālha invited a party of nuns to his house and set apart seats for those nuns who were older than Nandā in one part, and for those younger in another, so that Nandā would be alone. But she, guessing the reason for the invitation, did not go, and, instead, sent an attendant nun to Sālha's house for her alms, excusing herself on the plea that she was taken ill. Salha, hearing of this, set a servant to look after the other nuns and ran off to the monastery. Nandā, on her bed, was waiting for him, and he seduced her (Vin.iv.211f). Buddhaghosa explains (Sp.iv.900) that Sālha was called Migāranattā because he was the grandson of Migaramātā, (Visākhā).

Giới tính: Nam Nguyên quán: Kosala
Cận sự nam/nữ Kosala
Cập nhật: 23/08/2026 Xem chi tiết →
Đại đức Kappitaka ( thầy tế độ của đại đức Kappitaka) Tỳ-kheo

Đại đức Kappitaka ( thầy tế độ của đại đức Kappitaka) - bị âm mưu ám sát bởi nhóm tỳ khưu ni Lục Sư Kappitaka Thera Ngài được Upāli truyền giới và từng sống trong một nghĩa trang gần Vesāli . Tại nghĩa trang, các ni cô Chabbaggiya chôn tro cốt của một trong những vị lãnh đạo của họ và dựng một bảo tháp (thūpa) gần phòng của Kappitaka. Trưởng lão, bị quấy rầy bởi tiếng than khóc của họ, đã đập vỡ bảo tháp và rải rác các vật liệu. Các ni cô vô cùng tức giận, lập mưu giết ngài, nhưng Upāli đã cảnh báo ngài, và ngài đã trốn đi nơi khác cho đến khi các ni cô phá hủy bảo tháp của ngài và bỏ đi với ấn tượng rằng ngài đã chết. Các ni cô đổ lỗi cho Upāli vì đã làm đảo lộn sự sắp xếp của họ (Vin.iv.308). Theo Peta-vatthu và Chú giải (Pv.50; PvA.229ff), Kappitaka sống tại Kapinaccāna (gần Vesāli), và ở đó, Licchavi Ambasakkhara đã bố thí cho ông thay mặt cho một ngạ quỷ. Rõ ràng ông đã từng là một Jatila , với một nhóm Jatila đông đảo, vì ông được mô tả là "jatilasahassassa abbhantaro thero." Sp.iv.937; PvA.230.

Giới tính: Nam Nguyên quán: Bạt Kỳ (Vajji)
Tỳ-kheo Bạt Kỳ (Vajji)
Cập nhật: 19/08/2026 Xem chi tiết →

Nikaya Tâm Học

Website nghiên cứu về Đức Phật Thích Ca và cuộc đời của ngài qua 2 tạng kinh chính Nikaya và A Hàm

© Nikaya Tâm Học 2024. All Rights Reserved. Designed by Nikaya Tâm Học