Nikaya Tâm HọcCon đường tuệ giác
Nikaya Tâm HọcKinh điển, nghiên cứu và các khu vực chính
Kinh sáchKinh điển, sách và tài liệu học Phật
Danh mục đầy đủ
Thời Phật Tại ThếBản đồ, Cuộc đời Đức Phật và Album ảnh
Bỏ qua menu, tới nội dung chính
Nikaya Tâm HọcKinh điển • Đức Phật • Nghiên cứu
Phussa Thera ( Con của quan cai trị tỉnh )
Nhân vật Phật học

Phussa Thera ( Con của quan cai trị tỉnh )

2. Phussa Thera Ngài là con trai của một vị quan cai trị một tỉnh và được đào tạo về mọi mặt. Sau khi nghe một vị Thượng tọa vĩ đại thuyết giảng, ngài từ bỏ thế gian và gia nhập Tăng đoàn. Ngài thực hành thiền định và trở thành một vị A-la-hán. Một ngày nọ, một vị khổ hạnh tên là Pandarassagotta nghe ngài thuyết giảng và hỏi ngài về sự tiến bộ tương lai của...

160 lượt xem #1016 mã dữ liệu Nam giới tính 13.11.2025 ngày khởi tạo 05.10.2026 cập nhật
Khám phá theo quan hệ: Bài viết •Nhân vật •Địa danh •Sitemap tri thức
THÔNG TIN KHÁI QUÁT

Dữ liệu nhân vật

Xem kinh liên quan ↓
Giới tính
Nam
Mã dữ liệu
#1016
Khởi tạo
13/11/2025
Cập nhật gần nhất
17/11/2025 16:49
Lượt xem
160
Trạng thái nội dung
Có nội dung chính
Tóm lược

2. Phussa Thera Ngài là con trai của một vị quan cai trị một tỉnh và được đào tạo về mọi mặt. Sau khi nghe một vị Thượng tọa vĩ đại thuyết giảng, ngài từ bỏ thế gian và gia nhập Tăng đoàn. Ngài thực hành thiền định và trở thành một vị A-la-hán. Một ngày nọ, một vị khổ hạnh tên là Pandarassagotta nghe ngài thuyết giảng và hỏi ngài về sự tiến bộ tương lai của chư Tỳ kheo. Câu trả lời của Phussa được ghi lại trong Theragāthā, câu 949-80; ThagA.ii.82f.

HỒ SƠ Phussa Thera ( Con của quan cai trị tỉnh )


 

Wiki Tâm Học -Danh sách : Trưởng lão tăng kệ - Phần 258 - Chương 17 : (CCLVIII) Phussa (Thera. 87)

 

2. Phussa Thera

He was the son of a ruler of a province and was trained in all accomplishments. Having heard a great Thera preach, he left the world and joined the Order. He practised jhāna and became an arahant. One day an ascetic named Pandarassagotta heard him preach and questioned him on the future progress of Bhikkhus. Phussa's reply is contained in the Theragāthā, vs. 949 80; ThagA.ii.82f.

2. Phussa Thera

Ngài là con trai của một vị quan cai trị một tỉnh và được đào tạo về mọi mặt. Sau khi nghe một vị Thượng tọa vĩ đại thuyết giảng, ngài từ bỏ thế gian và gia nhập Tăng đoàn. Ngài thực hành thiền định và trở thành một vị A-la-hán. Một ngày nọ, một vị khổ hạnh tên là Pandarassagotta nghe ngài thuyết giảng và hỏi ngài về sự tiến bộ tương lai của chư Tỳ kheo. Câu trả lời của Phussa được ghi lại trong Theragāthā, câu 949-80; ThagA.ii.82f.

 

Chương XVII

 

Phẩm Ba Mươi Kệ

 

(CCLVIII) Phussa (Thera. 87)

 

Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh làm con một vị vua trị vì một tỉnh, được đặt tên là Phussa, và được giáo dục trong mọi tài năng của thanh niên hoàng tộc. Nhưng ngài có tâm hướng khác thường, không thiên về thế tục, nên khi nghe một vị Trưởng lão thuyết pháp, ngài khởi lòng tin và xuất gia. Tu tập thiền định, ngài phát triển thiền quán và sau một thời gian, chứng được sáu thắng trí.

Một hôm, một ẩn sĩ tên Pandara-gotta nghe ngài thuyết pháp, thấy xung quanh có một số Tỷ-kheo giới đức nghiêm minh, tu tập, chế ngự thân và tâm, vị ẩn sĩ suy nghĩ: ‘Hệ thống này thật đáng tin tưởng, mong rằng hệ thống này được tồn tại!’. Rồi vị ấy hỏi ngài về tương lai sự tiến bộ các Tỷ-kheo như thế nào? Ngài trả lời với những bài kệ như sau, riêng bài kệ 949 do các nhà kiết tập đặt thêm vào:

949. ẩn sĩ Pan-đa-ra,

Thấy nhiều vị thành tín,

Tự ngã có tu tập,

Khéo hộ trì chế ngự

Ngài mới đặt câu hỏi,

Với vị tên Phussa.

950. Trong thời gian tương lai,

Sẽ có ước muốn gì?

Sẽ có chí nguyện gì?

Sẽ có cử chỉ gì?

Mong ngài hãy trả lời,

Câu hỏi của chúng tôi.

951. ẩn sĩ Pan-đa-ra,

Hãy nghe lời ta nói,

Hãy thọ trì cẩn thận,

Ta sẽ nói tương lai.

952. Phẫn nộ và hiềm hận,

Che đậy và cứng đầu,

Nhiều lừa đảo ganh tị,

Tương lai nhiều loại vậy,

953. Họ tự cho có trí,

Pháp sâu, chỉ đến bờ,

Họ khinh nhờn Chánh pháp,

Họ không kính trọng nhau.

954. Nhiều nguy hiểm ở đời,

Sẽ xảy ra tương lai,

Pháp được khéo giảng này,

Kẻ ngu làm uế nhiễm.

955. Trong Tăng chúng, những vị,

Có đức hạnh hạ liệt,

Họ thường hay tuyên bố,

Có tự tín, không sợ,

Kẻ không học, lắm lời,

Sẽ đứng vào thế mạnh.

956. Trong Tăng chúng, những vị,

Có giới hạnh tốt đẹp,

Khi họ có tuyên bố,

Tuyên bố đúng sự thật,

Họ thường ở thể yếu,

Hổ thẹn thiếu nhiệt thành.

957. Bạc, vàng và đồng ruộng,,

Ðất đai, dê và cừu,

Nô tỳ nữ và trai,

Kẻ ngu si vô trí,

Sẽ thâu nhận tất cả,

Trong tương lai là vậy.

958. Kẻ ngu dễ nóng giận,

Không định tĩnh trong giới,

Kiêu ngạo, đi đó đây,

Như thú ưa đánh nhau.

959. Họ trở thành tháo động,

Thường đắp y màu xanh,

Lừa đảo và ngoan cố,

Lắm mồm, ăn nói giả,

Họ bắt chước giả bộ,

Như bậc Thánh thời xưa.

960. Với tóc bôi dầu láng,

Dao động, mắt vẽ xanh,

Ðắp y màu trắng ngà,

Họ qua lại trên đường.

961. Y vàng được khéo nhuộm,

Lá cờ bậc La-hán,

Ðược các bậc giải thoát,

Ðắp mang không nhàm chán,

Còn họ chán y vàng,

Ái luyến đắp màu trắng.

962. Họ trở thành tham lợi,

Biếng nhác, ít tinh cần,

Khó sống rừng hoang vu,

Thích sống gần xóm làng.

963. Những ai sợ được lợi,

Luôn luôn ưa tà mạng,

Họ học đòi người ấy,

Thân cận, không tự chế.

964. Những ai không được lợi,

Họ không trọng không kính,

Bậc khả kính, Hiền trí,

Họ không có thân cận.

965. Khinh cờ hiệu của mình,

Ưa thích màu ngoại sắc,

Có kẻ mang y trắng,

Lá cờ hiệu ngoại đạo.

966. Không kính y màu vàng,

Thời ấy họ là vậy,

Chờ đợi màu y vàng,

Không phải của Tỷ-kheo.

967. Bị đau khổ chinh phục,

Bị quặn đau tên đâm,

Chờ đợi đại khủng bố.

Voi ta không nghĩ nghì.

968. Khi bậc sáu ngà thấy,

Cờ La-hán khéo nhuộm,

Voi nói lên những kệ,

Liên hệ đến mục đích.

969. Ai sẽ mặc cà-sa,

Tâm chưa rời uế trược,

Không tự chế, không thực,

Không xứng áo cà-sa.

970. Ai rời bỏ uế trược,

Khéo định trong giới luật,

Tự nhiếp phục chơn thực,

Thật xứng áo cà-sa.

971. Phá giới, trí hạ liệt,

Không tự chế, tham dục,

Tâm loạn, thiếu phấn chấn,

Không xứng áo cà-sa.

972. Ai đầy đủ giới hạnh,

Ly tham, có định tĩnh,

Tâm tư thật trinh bạch,

Vị ấy xứng áo cà-sa.

973. Ai kiêu ngạo phóng đãng,

Ngu si, không giới hạnh,

Xứng đáng mặc áo trắng,

Làm gì có cà-sa.

974. Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ni,

Tâm uế, không tin kính,

Tương lai sẽ ức hiếp,

Ðối vị có tâm từ.

975. Kẻ ngu mang y áo,

Dầu được Trưởng lão dạy,

Liệt trí sẽ không nghe,

Không tự chế, tham dục.

976. Kẻ ngu dầu dạy vậy,

Không có kính trọng nhau,

Sẽ không có vâng lời,

Lời dạy giáo thọ sư,

Giống như ngựa bất kham,

Ðối với người đánh xe.

977. Như vậy, thời tương lai,

Hành tung sẽ là vậy.

Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ni,

Khi thời tối hậu đến,

Hãy ôn hòa thân ái,

Hãy cung kính lẫn nhau.

978. Ðại nạn ấy chưa đến,

Trước khi đại nạn đến,

Hãy ôn hòa thân ái,

Hãy cung kính lẫn nhau.

979. Hãy có tâm từ bi,

Khéo chế ngự trong giới,

Chuyên tinh tấn nỗ lực,

Thường kiên trì phấn chấn.

980. Thấy nguy hiểm phóng dật,

Không phóng dật an ổn,

Hãy tu Tám Thánh đạo,

Giác chứng đạo bất tử.

Như vậy vị Trưởng lão nói với Tăng chúng của mình. Các bài kệ này là lời nói chánh trí của ngài.

 

.

A HÀM

Xuất hiện trong các kinh A Hàm

Xem dạng thẻ →
Chưa có dữ liệu A Hàm liên kết.

Chưa có dữ liệu bản đồ cho nhân vật này.
KINH ĐIỂN Xuất hiện trong Nikaya

Xuất hiện ở nikaya khác ( tiểu bộ kinh )

TẠP A HÀM

Các bài kinh A Hàm có liên hệ với nhân vật





Đánh giá nội dungBài này hữu ích với bạn?—/5 · 0 đánh giá
\n\n
ĐIỀU HƯỚNG TỪ DATABASE

Mạng liên kết nội dung

Liên kết bên dưới được dựng phía server từ các quan hệ đang có trong cơ sở dữ liệu Nikaya Tâm Học.

2liên kết

Kinh & bài có nhân vật

1 mục

Các bài/Kinh liên kết trực tiếp với nhân vật này.

Nhóm nhân vật

1 mục

Mở danh sách nhân vật cùng nhóm hiện hữu.