Bốn Thánh-Đạo-Tuệ (Maggañāṇa)
Thánh-đạo-tuệ (maggañāṇa) có 4 bậc, mà mỗi bậc Thánh-đạo-tuệ có khả năng đặc biệt diệt tận được (samucchedappahāna) tham-ái, phiền-não, ác-pháp theo năng lực của mỗi Thánh-đạo-tuệ như sau:
- Ba loại tham-ái (taṇhā)
Tham-ái (taṇhā) đó là tham tâm-sở (lobhacetasika) đồng sinh với 8 tham-tâm (lobhacitta) là nhân sinh khổ- đế dẫn dắt tái-sinh kiếp sau trong ba giới bốn loài.
Tham-ái có 3 loại:
- Kāmataṇhā: Dục-ái là tham-ái trong 6 đối-tượng: Sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp.
- Bhavataṇhā: Hữu-ái là tham-ái trong 6 đối-tượng hợp với thường-kiến, và tham-ái trong thiền sắc-giới, thiền vô-sắc-giới; cõi trời sắc-giới, cõi trời vô-sắc-giới.
- Vibhavataṇhā: Phi-hữu-ái là tham-ái trong 6 đối- tượng hợp với đọan-kiến.
- Nhập-lưu Thánh-đạo-tuệ diệt tận được 2 loại tham-ái là:
- Vibhavataṇhā: Tham-ái hợp với đọan-kiến, và
- Bhavataṇhā: Tham-ái hợp với thường-kiến. Đó là tà-kiến tâm-sở (diṭṭhicetasika) đồng sinh với 4 tham-tâm hợp với tà-kiến không còn dư sót.
- Nhất-lai Thánh-đạo-tuệ diệt tận được 1 loại tham-ái là:
- Kāmataṇhā: Tham-ái trong 6 đối-tượng loại thô trong cõi dục-giới. Đó là tham tâm-sở (lobhacetasika) đồng sinh với 4 tham-tâm không hợp với tà-kiến trong cõi dục-giới không còn dư sót.
- Bất-lai Thánh-đạo-tuệ diệt tận được 1 loại tham-ái là:
- Kāmataṇhā: Tham-ái trong 6 đối-tượng loại vi-tế trong cõi dục-giới. Đó là tham tâm-sở (lobhacetasika) đồng sinh với 4 tham-tâm không hợp với tà-kiến trong cõi dục-giới không còn dư sót.
- A-ra-hán Thánh-đạo-tuệ diệt tận được 2 loại tham- ái còn lại là:
- Bhavataṇhā: Tham-ái trong thiền sắc-giới, thiền vô- sắc-giới; trong cõi trời sắc-giới, cõi trời vô-sắc-giới, và
- Kāmataṇhā: Tham-ái trong đối-tượng loại vi-tế trong cõi sắc-giới, cõi vô-sắc-giới. Đó là tham tâm-sở (lobhacetasika) đồng sinh với 4 tham-tâm không hợp với tà-kiến không còn dư sót.
Bậc Thánh A-ra-hán đã diệt tận được tất cả mọi tham- ái là nhân sinh khổ Thánh-đế, cho nên bậc Thánh A-ra- hán không còn tái-sinh kiếp sau nữa.
Pháp trầm-luân (āsava) là pháp làm cho tất cả mọi chúng-sinh bị chìm đắm trong ba giới bốn loài, không thể vươn lên trở thành bậc Thánh-nhân được.
Pháp trầm-luân có 4 pháp:
- Kāmāsava: Cõi-dục trầm-luân là chìm đắm trong 6 đối-tượng cõi dục-giới. Đó là tham tâm-sở đồng sinh với 8 tham-tâm.
- Bhavāsava: Kiếp trầm-luân là chìm đắm trong cõi trời sắc-giới, cõi trời vô-sắc-giới. Đó là tham tâm-sở đồng sinh với 4 tham-tâm không hợp với tà-kiến.
- Diṭṭhāsava: Tà-kiến trầm-luân là chìm đắm trong mọi tà-kiến. Đó là tà-kiến tâm-sở đồng sinh với 4 tham- tâm hợp với tà-kiến.
- Avijjāsava: Vô-minh trầm-luân là chìm đắm trong vô-minh không biết chân-lý tứ Thánh-đế. Đó là si tâm-sở đồng sinh với 12 bất thiện-tâm.
- Nhập-lưu Thánh-đạo-tuệ diệt tận được 1 pháp- trầm-luân là:
- Diṭṭhāsava: Tà-kiến trầm-luân là chìm đắm trong mọi tà-kiến. Đó là tà-kiến tâm-sở đồng sinh với 4 tham- tâm hợp với tà-kiến không còn dư sót.
- Nhất-lai Thánh-đạo-tuệ diệt tận được 1 pháp-trầm- luân là:
- Kāmāsava: Cõi-dục trầm-luân là chìm đắm trong 6 đối-tượng loại thô trong cõi dục-giới. Đó là tham tâm-sở đồng sinh với 4 tham-tâm không hợp với tà-kiến trong cõi dục-giới không còn dư sót.
- Bất-lai Thánh-đạo-tuệ diệt tận được 1 pháp-trầm- luân là:
- Kāmāsava: Cõi-dục trầm-luân là chìm đắm trong 6 đối-tượng loại vi-tế cõi dục-giới. Đó là tham tâm-sở đồng sinh với 4 tham-tâm không hợp với tà-kiến trong cõi dục-giới không còn dư sót.
- A-ra-hán Thánh-đạo-tuệ diệt tận 2 pháp trầm-luân là:
- Bhavāsava: Kiếp trầm-luân là chìm đắm trong cõi trời sắc-giới, cõi trời vô-sắc-giới. Đó là tham tâm-sở đồng sinh với 4 tham-tâm không hợp với tà-kiến không còn dư sót.
- Avijjāsava: Vô-minh trầm-luân là chìm đắm trong vô-minh không biết chân-lý tứ Thánh-đế. Đó là si tâm-sở đồng sinh với bất-thiện-tâm không còn dư sót.
- 10 loại phiền-não (kikesa)
Phiền-não (kilesa) là pháp làm tâm ô nhiễm, nóng nảy khổ tâm, phiền-não có 10 pháp: Tham, sân, si, tà- kiến, ngã-mạn, hoài-nghi, buồn-chán, phóng-tâm, không biết hổ-thẹn tội-lỗi, không biết ghê-sợ tội-lỗi.
10 pháp phiền-não này là 10 bất-thiện tâm-sở đồng sinh với 12 bất-thiện-tâm.
- Nhập-lưu Thánh-đạo-tuệ diệt tận được 2 loại phiền-não là: Tà-kiến (diṭṭhi) và hoài-nghi (vicikicchā) không còn dư sót.
- Nhất-lai Thánh-đạo-tuệ diệt tận được 1 loại phiền- não là: Sân (dosa) loại thô không còn dư sót.
- Bất-lai Thánh-đạo-tuệ diệt tận được 1 loại phiền- não là: Sân (dosa) loại vi-tế không còn dư sót.
- A-ra-hán Thánh-đạo-tuệ diệt tận được 7 loại phiền-não là: Tham (lobha), si (moha), ngã-mạn (māna), buồn-chán (thīna), phóng-tâm (uddhacca), không biết hổ-thẹn tội-lỗi (ahirika), không biết ghê-sợ tội-lỗi (anottappa) không còn dư sót.
Bất-thiện-tâm gọi là ác-tâm có 12 tâm là 8 tham-tâm, 2 sân-tâm, 2 si-tâm. Sở dĩ gọi là bất-thiện-tâm hoặc ác- tâm là vì 14 bất-thiện tâm-sở đồng sinh với 12 bất-thiện- tâm này.
- Nhập-lưu Thánh-đạo-tuệ diệt tận được 5 bất-thiện- tâm là:
- 4 tham-tâm hợp với tà-kiến không còn dư sót.
- 1 si-tâm hợp với hoài-nghi không còn dư sót.
- Nhất-lai Thánh-đạo-tuệ diệt tận được 2 bất-thiện- tâm là:
- 2 sân-tâm loại thô không còn dư sót.
- Bất-lai Thánh-đạo-tuệ diệt tận được 2 bất-thiện- tâm là:
- 2 sân-tâm loại vi-tế không còn dư sót.
- A-ra-hán Thánh-đạo-tuệ diệt tận 5 bất-thiện-tâm
còn lại là:
- 4 tham-tâm không hợp với tà-kiến không còn dư sót.
- Si-tâm hợp với phóng-tâm không còn dư sót.
- 14 bất-thiện-tâm-sở (akusalacetasika)
14 bất-thiện tâm-sở như sau:
- 3 tâm-sở nhóm tham đó là tham tâm-sở, tà-kiến tâm- sở, ngã-mạn tâm-sở.
- 4 tâm-sở nhóm sân đó là sân tâm-sở, ganh-tỵ tâm- sở, keo-kiệt tâm-sở, hối-hận tâm-sở.
- 4 tâm-sở nhóm si đó là si tâm-sở, không biết hổ-thẹn tội-lỗi tâm-sở, không biết ghê-sợ tội-lỗi tâm-sở, phóng- tâm tâm-sở.
- 2 tâm-sở nhóm buồn-chán đó là buồn-chán tâm-sở, buồn-ngủ tâm-sở.
- Hoài-nghi tâm-sở.
Gồm có 14 loại bất-thiện-tâm-sở đồng sinh với 12 bất-thiện-tâm.
- Nhập-lưu Thánh-đạo-tuệ diệt tận được 4 bất-thiện tâm-sở là tà-kiến tâm-sở, hoài-nghi tâm-sở, ganh-tỵ tâm- sở, keo-kiệt tâm-sở không còn dư sót.
- Nhất-lai Thánh-đạo-tuệ diệt tận được 2 bất-thiện tâm-sở loại thô là sân tâm-sở và hối-hận tâm-sở không còn dư sót.
- Bất-lai Thánh-đạo-tuệ diệt tận được 2 bất-thiện- tâm-sở vi-tế là sân tâm-sở và hối-hận tâm-sở không còn dư sót.
- A-ra-hán Thánh-đạo-tuệ diệt tận 8 bất-thiện tâm- sở còn lại là tham tâm-sở, ngã-mạn tâm-sở, si tâm-sở, buồn-chán tâm-sở, buồn-ngủ tâm-sở, không biết hổ-thẹn tội-lỗi tâm-sở, không biết ghê-sợ tội-lỗi tâm-sở, phóng- tâm tâm-sở không còn dư sót.
Trên đây trình bày một phần bất-thiện-pháp mà mỗi Thánh-đạo-tuệ (Maggañāṇa) có khả năng đặc biệt diệt tận được (samucchedappahāna). Thật ra, Thánh-đạo-tuệ nào đã diệt tận được bất-thiện-pháp nào rồi, thì bất- thiện-pháp ấy có liên quan đến trong các phần bất-thiện- pháp khác cũng đều bị diệt tận được (samucchedap- pahāna) không còn dư sót, trong kiếp hiện-tại và kiếp vị-lai nếu còn tái-sinh kiếp sau trong các cõi-giới khác.
Quả Báu Của Pháp-Hành Thiền-Tuệ
Pháp-hành thiền-tuệ dẫn đến chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, chứng đắc 4 Thánh-đạo, 4 Thánh-quả và Niết-bàn, diệt tận được mọi phiền-não, mọi tham-ái trở thành 4 bậc Thánh-nhân.
Quả báu của pháp-hành thiền-tuệ có nhiều:
- Quả báu đặc biệt là chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế.
- 4 Thánh-đạo-tuệ diệt tận được mọi phiền-não.
- 4 Thánh-đạo-tâm liền cho quả là 4 Thánh-quả-tâm tương xứng không có thời gian ngăn cách.
- Nhập Thánh-quả-tâm hưởng Niết-bàn an-lạc.
- Nhập diệt-thọ-tưởng giải thoát khổ thân, khổ tâm,…
- Chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế
Pháp-hành thiền-tuệ là pháp-hành chỉ có trong Phật- giáo mà thôi, hoàn toàn không có ngoài Phật-giáo, hành- giả thực-hành pháp-hành thiền-tuệ dẫn đến chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế đó là:
1- Khổ Thánh-đế đó là ngũ-uẩn chấp-thủ, sắc-pháp, danh-pháp tam-giới là pháp mà bậc Thánh-nhân đã biết. 2- Nhân sinh khổ Thánh-đế đó là tham-ái là pháp mà
bậc Thánh-nhân đã diệt.
3- Diệt khổ Thánh-đế đó là Niết-bàn là pháp mà bậc
Thánh-nhân đã chứng ngộ.
4- Pháp-hành dẫn đến diệt khổ Thánh-đế đó là bát- chánh-đạo là pháp mà bậc Thánh-nhân đã tiến hành.
- Bốn thánh-đạo-tâm cho quả là bốn thánh-quả-tâm
Hành-giả chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, chứng đắc 4 Thánh-đạo-tâm, 4 Thánh-quả-tâm và Niết-bàn.
4 Thánh-đạo-tâm thuộc về 4 siêu-tam-giới thiện-tâm liền cho quả tương xứng là 4 Thánh-quả-tâm thuộc về 4 siêu-tam-giới quả-tâm sau 1 sát-na-tâm sinh rồi diệt, trong cùng Thánh-đạo lộ-trình-tâm (Maggavīthicitta) ấy, không có thời gian ngăn cách (akālika) như sau:
- Nhập-lưu Thánh-đạo-tâm diệt, liền cho quả là Nhập-lưu Thánh-quả-tâm sinh trong cùng Nhập-lưu Thánh-đạo lộ-trình-tâm.
- Nhất-lai Thánh-đạo-tâm diệt, liền cho quả là Nhất- lai Thánh-quả-tâm sinh trong cùng Nhất-lai Thánh-đạo lộ-trình-tâm.
- Bất-lai Thánh-đạo-tâm diệt, liền cho quả là Bất-lai Thánh-quả-tâm sinh trong cùng Bất-lai Thánh-đạo lộ- trình-tâm.
- A-ra-hán Thánh-đạo-tâm diệt, liền cho quả là A-ra- hán Thánh-quả-tâm sinh trong cùng A-ra-hán Thánh- đạo lộ-trình-tâm.
Hành-giả chứng đắc Thánh-đạo-tâm nào hoàn toàn tuỳ thuộc vào 10 pháp-hạnh ba-la-mật và 5 pháp-chủ (indriya) của mỗi hành-giả ấy.
Thiện-tâm và quả-tâm
Kusalacitta: Thiện-tâm, vipākacitta: Quả-tâm
Trong Phật-giáo có đầy đủ 4 loại thiện-tâm:
- Kāmavacarakusalacitta: Dục-giới thiện-tâm.
- Rūpavacarakusalacitta: Sắc-giới thiện-tâm.
- Arūpavacarakusalacitta: Vô-sắc-giới thiện-tâm.
- Lokuttarakusalacitta: Siêu-tam-giới thiện-tâm.
- Dục-giới thiện-tâm
Dục-giới thiện-tâm có 8 đại-thiện-tâm.
Người thiện nào có giới-hạnh trong sạch, tạo đại-thiện- nghiệp trong 8 đại-thiện-tâm có cơ hội cho quả an-lạc trong kiếp hiện-tại.
Sau khi người thiện ấy chết, đại-thiện-nghiệp trong 8 đại-thiện-tâm có cơ hội cho quả trong thời-kỳ tái-sinh kiếp sau (paṭisandhikāla) có 9 quả-tâm đó là 8 đại-quả- tâm và 1 suy-xét-tâm đồng sinh với thọ xả là quả của đại-thiện-nghiệp gọi là tái-sinh-tâm (paṭisandhicitta) làm phận sự tái-sinh kiếp sau trong 7 cõi thiện dục-giới là cõi người và 6 cõi trời dục-giới, hưởng an-lạc cho đến khi hết tuổi thọ trong cõi thiện dục-giới ấy.(1)
- Sắc-giới thiện-tâm
Sắc-giới thiện-tâm có 5 tâm.
Hành-giả nào thuộc về hạng người tam-nhân (tihetukapuggala) có giới-hạnh trong sạch làm nơi nương nhờ, thực-hành pháp-hành thiền-định có khả năng chứng đắc 5 bậc thiền sắc-giới thiện-tâm, hành-giả ấy có khả năng nhập bậc thiền sắc-giới thiện-tâm (jhāna- samāpatti), hưởng an-lạc trong kiếp hiện-tại.
Sau khi hành-giả ấy chết, chắc chắn sắc-giới thiện- nghiệp trong thiền sắc-giới thiện-tâm nào bậc cao có quyền ưu tiên cho quả trong thời-kỳ tái-sinh kiếp sau (paṭisandhikāla) có thiền sắc-giới quả-tâm bậc cao ấy gọi là sắc-giới tái-sinh-tâm (paṭisandhicitta) làm phận sự tái-sinh kiếp sau hóa-sinh làm vị phạm-thiên trên tầng trời sắc-giới phạm-thiên tương xứng với thiền sắc-giới quả-tâm bậc cao ấy. Vị phạm-thiên hưởng an-lạc cho đến hết tuổi thọ tại tầng trời sắc-giới phạm-thiên ấy.
1 Tìm hiểu rõ trong bộ Nền-Tảng-Phật-Giáo, quyển IV: Nghiệp Và Quả Của Nghiệp, cùng soạn giả.
- Vô-sắc-giới thiện-tâm
Vô-sắc-giới thiện-tâm có 4 tâm.
Hành-giả nào thuộc về hạng người tam-nhân (tihetuka- puggala) có giới-hạnh trong sạch làm nơi nương nhờ, thực-hành pháp-hành thiền-định có khả năng chứng đắc 5 bậc thiền sắc-giới thiện-tâm và 4 bậc thiền vô-sắc-giới thiện-tâm, hành-giả ấy có khả năng nhập bậc thiền vô-sắc- giới thiện-tâm (jhānasamāpatti), hưởng an-lạc trong kiếp hiện-tại.
Sau khi hành-giả ấy chết, chắc chắn vô-sắc-giới thiện-nghiệp trong thiền vô-sắc-giới thiện-tâm nào bậc cao có quyền ưu tiên cho quả trong thời-kỳ tái-sinh kiếp sau (paṭisandhikāla) có thiền vô-sắc-giới quả-tâm bậc cao ấy gọi là vô-sắc-giới tái-sinh-tâm (paṭisandhicitta) làm phận sự tái-sinh kiếp sau hóa-sinh làm vị phạm- thiên trên tầng trời vô-sắc-giới phạm-thiên tương xứng với thiền vô-sắc-giới quả-tâm bậc cao ấy. Vị phạm-thiên hưởng an-lạc cho đến hết tuổi thọ tại tầng trời vô-sắc- giới phạm-thiên ấy.(1)
- Siêu-tam-giới thiện-tâm
Siêu-tam-giới thiện-tâm có 4 tâm liền cho quả là 4 siêu- tam-giới quả-tâm.
4 siêu-tam-giới thiện-tâm đó là 4 Thánh-đạo-tâm và 4 siêu-tam-giới quả-tâm đó là 4 Thánh-quả-tâm.
Chứng đắc 4 Thánh-đạo, 4 Thánh-quả và Niết-bàn, hành-giả thuộc về hạng người như thế nào?
1 Tìm hiểu rõ trong bộ Nền-Tảng-Phật-Giáo, quyển IX: Pháp-Hành Thiền-Định, cùng soạn giả.
Hành-giả nào thuộc về hạng người tam-nhân (tihetuka- puggala) đã từng tích-lũy đầy đủ 10 pháp-hạnh ba-la- mật từ vô số kiếp quá-khứ cho đến kiếp hiện-tại.
Kiếp hiện-tại hành-giả ấy là người có giới-hạnh trong sạch, có đức-tin trong sạch nơi Tam-bảo: Đức-Phật-bảo, Đức-Pháp-bảo, Đức-Tăng-bảo, có duyên lành đi đến hầu đảnh lễ Đức-Phật hoặc bậc Thánh thanh-văn đệ-tử của Đức-Phật, lắng nghe chánh-pháp của Đức-Phật, rồi thực- hành pháp-hành thiền-tuệ dẫn đến chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế y theo Đức-Phật, chứng đắc Thánh-đạo nào, Thánh-quả ấy tuỳ theo năng lực của 10 pháp-hạnh ba-la- mật và 5 pháp-chủ là tín-pháp-chủ, tấn-pháp-chủ, niệm- pháp-chủ, định-pháp-chủ, tuệ-pháp-chủ của mỗi vị thanh- văn Bồ-tát như sau:
- Chứng đắc Nhập-lưu Thánh-đạo, Nhập-lưu Thánh- quả, Niết-bàn, diệt tận được 2 loại phiền-não là tà-kiến và hoài-nghi không còn dư sót, trở thành bậc Thánh Nhập-lưu.
- Chứng đắc đến Nhất-lai Thánh-đạo, Nhất-lai Thánh- quả, Niết-bàn, diệt tận được 1 loại phiền-não là sân loại thô không còn dư sót, trở thành bậc Thánh Nhất-lai.
- Chứng đắc đến Bất-lai Thánh-đạo, Bất-lai Thánh- quả, Niết-bàn, diệt tận được 1 loại phiền-não là sân loại vi-tế không còn dư sót, trở thành bậc Thánh Bất-lai.
- Chứng đắc đến A-ra-hán Thánh-đạo, A-ra-hán Thánh-quả và Niết-bàn, diệt tận được 7 loại phiền-não còn lại là tham, si, ngã-mạn, buồn-chán, phóng-tâm, không biết hổ-thẹn tội-lỗi, không biết ghê-sợ tội-lỗi không còn dư sót, trở thành bậc Thánh A-ra-hán.
4 Thánh-quả-tâm thuộc về 4 siêu-tam-giới quả-tâm không làm phận sự cho quả tái-sinh kiếp sau, mà trái lại
có khả năng đặc biệt làm giảm dần sự tái-sinh kiếp sau tuỳ theo mỗi bậc Thánh-nhân như sau:
- Sau khi bậc Thánh Nhập-lưu chết, tuyệt đối không còn tái-sinh trong 4 cõi ác-giới, chỉ có đại-thiện-nghiệp trong đại-thiện-tâm cho quả tái-sinh kiếp sau trong cõi thiệ -dục-giới là cõi người, cõi trời dục-giới nhiều nhất 7 kiếp nữa mà thôi. Đến kiếp thứ 7, chắc chắn bậc Thánh Nhập-lưu sẽ trở thành bậc Thánh A-ra-hán, rồi sẽ tịch diệt Niết-bàn, giải thoát khổ tử sinh luân-hồi trong tam-giới.
- Sau khi bậc Thánh Bất-lai chết, không còn tái-sinh trở lại trong cõi thiện dục-giới, chỉ có sắc-giới thiện- nghiệp trong bậc thiền sắc-giới thiện-tâm nào cho quả tái-sinh kiếp sau hóa-sinh làm vị phạm-thiên trên tầng trời sắc-giới phạm-thiên tương xứng với bậc thiền sắc- giới quả-tâm ấy. vị phạm-thiên Thánh Bất-lai ấy sẽ trở thành bậc Thánh A-ra-hán tại tầng trời sắc-giới phạm- thiên ấy, rồi sẽ tịch diệt Niết-bàn, giải thoát khổ tử sinh luân-hồi trong tam-giới.
- Bậc Thánh A-ra-hán ngay kiếp hiện-tại đến khi hết tuổi thọ, đồng thời tịch diệt Niết-bàn, giải thoát khổ tử sinh luân-hồi trong tam-giới.
Như vậy, trong 4 loại thiện-tâm, dục-giới thiện-tâm, sắc-giới thiện-tâm, vô-sắc-giới thiện-tâm có trong Phật- giáo và ngoài Phật-giáo, vẫn còn luẩn quẩn tử sinh luân- hồi trong ba giới bốn loài. Còn siêu-tam-giới thiện-tâm dẫn đến tịch diệt Niết-bàn, giải thoát khổ tử sinh luân- hồi trong tam-giới, chỉ có trong Phật-giáo mà thôi,
- Nhập Thánh-quả hưởng an-lạc Niết-bàn
Mỗi bậc Thánh-nhân có khả năng nhập Thánh-quả (phalasamāpatti) của mình, để hưởng vị giải thoát an-lạc Niết-bàn (vimuttirasa) trong kiếp hiện-tại.
- Bậc Thánh Nhập-lưu nhập Nhập-lưu Thánh-quả.
- Bậc Thánh Nhất-lai nhập Nhất-lai Thánh-quả.
- Bậc Thánh Bất-lai nhập Bất-lai Thánh-quả.
- Bậc Thánh A-ra-hán nhập A-ra-hán Thánh-quả.
Nếu bậc Thánh-nhân nào đã chứng đắc Thánh-quả nào cuối cùng thì có thể nhập Thánh-quả ấy.
Bậc Thánh-nhân bậc thấp không thể nhập Thánh-quả bậc cao, vì chưa chứng đắc, và bậc Thánh-nhân bậc cao cũng không nhập Thánh-quả bậc thấp.
Bậc Thánh-nhân nếu đã chứng đắc 5 bậc thiền sắc- giới liên quan siêu-tam-giới, khi nhập Thánh-quả với bậc thiền nào tuỳ theo ý muốn của mình.
Phương pháp nhập Thánh-quả
Bậc Thánh-nhân có ý nguyện muốn nhập Thánh-quả (phalasamāpatti), để hưởng vị giải thoát an-lạc Niết-bàn (vimuttirasa) trong suốt thời gian ấn định theo lời phát nguyện, bậc Thánh-nhân ấy cần phải có đủ 3 chi pháp như sau:
- Phát nguyện thời gian nhập Thánh-quả và quy định thời gian xả Thánh-quả.
- Trí-tuệ thiền-tuệ không dõi theo đối-tượng sắc-pháp, danh-pháp tam-giới.
- Trí-tuệ thiền-tuệ chỉ hướng đến đối-tượng Niết-bàn. Bậc Thánh-nhân nhập Thánh-quả có 2 giai đọan:
- Trước tiên, bậc Thánh-nhân phát nguyện bằng lời
chơn thật rằng:
Nguyện xin nhập Thánh-quả trong suốt thời gian 1 giờ, 2 giờ, 3 giờ, … 1 ngày, 2 ngày, 3 ngày, … (nhưng không đến 7 ngày). Xin Thánh quả-tâm phát sinh liên tục không ngừng trong suốt thời gian ấy.
- Khi nhập Thánh-quả, bậc Thánh-nhân quán triệt 2 pháp rằng:
- Quán triệt về Thánh quả-tâm bậc cao đã chứng đắc.
- Quán triệt về bậc thiền siêu-tam-giới đã chứng đắc Thánh-đạo, Thánh-quả.
Ví dụ: Bậc Thánh Bất-lai đã chứng đắc 5 bậc thiền sắc-giới liên quan siêu-tam-giới, muốn nhập Bất-lai Thánh-quả (Anāgāmiphalasamāpatti) với bậc thiền siêu- tam-giới nào có đối-tượng Niết-bàn, tuỳ theo ý muốn.
Sau khi phát nguyện xong, bậc Thánh Bất-lai thực- hành pháp-hành thiền-tuệ, bắt đầu từ trí-tuệ thiền-tuệ thứ 4 udayabbayānupassanāñāṇa thấy rõ, biết rõ sự sinh, sự diệt của sắc-pháp, của danh-pháp, hiện rõ 3 trạng-thái-chung: Trạng-thái vô-thường, trạng-thái khổ, trạng-thái vô-ngã của sắc-pháp, của danh-pháp, và trí-tuệ thiền-tuệ phát sinh theo tuần tự đến trí-tuệ thiền- tuệ thứ 12 saccānulomañāṇa trong Bất-lai Thánh-quả lộ-trình-tâm (Anāgāmiphalasamāpattivīthicitta) như sau:
Đồ biểu nhập Bất-lai Thánh-quả lộ-trình-tâm
|
bha na da ma anu anu anuanu pha pha pha pha.. bha |
Đại-thiện-tâm hợp với trí tuệ 4 Thánh-quả-tâm
Đại-duy-tác-tâm hợp với trí tuệ
Giải thích nhập Thánh-quả lộ-trình-tâm
- Bhavaṅgacitta: Hộ-kiếp-tâm trước viết tắt (bha)
- Bhavaṅgacalana: Hộ-kiếp-tâm rung động vt (na)
- Bhavaṅgupaccheda: Hộ-kiếp-tâm bị cắt đứt vt (da)
- Manodvāravajjanacitta: Ý-môn-hướng-tâm vt (ma) 5-8- Anuloma: Thuận-dòng-tâm vt (anu)
Nhập Thánh-quả lộ-trình-tâm (phalasamāpattivīthi- citta) có điểm đặc biệt khác với nhập thiền lộ-trình-tâm (jhānasamāpattivīthicitta) và nhập diệt-thọ-tưởng lộ- trình-tâm (nirodhasamāpattivīthicitta) như sau:
- Nhập Thánh-quả lộ-trình-tâm trong tác-hành-tâm (javanacitta) có 4 sát-na-tâm cùng làm phận sự anuloma rồi diệt, liền tiếp theo sau Bất-lai Thánh-quả-tâm sinh rồi diệt liên tục, có đối-tượng Niết-bàn, trong suốt thời gian đã phát nguyện.
- Nhập thiền lộ-trình-tâm và nhập diệt-thọ-tưởng lộ- trình-tâm trong tác-hành-tâm (javanacitta) có 4 sát-na- tâm, mà mỗi sát-na-tâm làm mỗi phận sự parikamma, upacāra, anuloma, gotrabhu.
Niết-bàn là đối-tượng của Thánh-quả lộ-trình-tâm
Niết-bàn là đối-tượng của Thánh-quả lộ-trình-tâm có
3 loại Niết-bàn, tuỳ theo năng lực của pháp-chủ (indriya) của bậc Thánh-nhân như sau:
- Animittanibbāna: Vô-hiện-tượng Niết-bàn là đối- tượng của Thánh-quả lộ-trình-tâm đối với bậc Thánh- nhân có tín-pháp-chủ (saddhindriya) có nhiều năng lực hơn 4 pháp-chủ còn lại.
Giai đọan đầu, bậc Thánh-nhân có trí-tuệ thiền-tuệ thấy rõ, biết rõ trạng-thái vô-thường, trạng-thái khổ, trạng-thái vô-ngã của danh-pháp hoặc của sắc-pháp.
Đến khi nhập Thánh-quả lộ-trình-tâm chỉ có đối-tượng trạng-thái vô-thường của danh-pháp mà thôi, khi Thánh-quả-tâm sinh rồi diệt liên tục, có animitta- nibbāna: Vô-hiện-tượng Niết-bàn làm đối-tượng.
- Appaṇihitanibbāna: Vô-ái Niết-bàn là đối-tượng của Thánh-quả lộ-trình-tâm đối với bậc Thánh-nhân có định-pháp-chủ (samādhindriya) có nhiều năng lực hơn 4 pháp-chủ còn lại.
Giai đọan đầu, bậc Thánh-nhân có trí-tuệ thiền-tuệ thấy rõ, biết rõ trạng-thái vô-thường, trạng-thái khổ, trạng-thái vô-ngã của danh-pháp, hoặc sắc-pháp.
Đến khi nhập Thánh-quả lộ-trình-tâm chỉ có đối- tượng trạng-thái khổ của danh-pháp mà thôi, khi Thánh- quả-tâm sinh rồi diệt liên tục, có appaṇihitanibbāna: Vô-ái Niết-bàn làm đối-tượng.
- Suññatanibbāna: Chơn-không Niết-bàn là đối- tượng của Thánh-quả lộ-trình-tâm đối với bậc Thánh- nhân có tuệ-pháp-chủ (paññindriya) có nhiều năng lực hơn 4 pháp-chủ còn lại.
Giai đọan đầu, bậc Thánh-nhân có trí-tuệ thiền-tuệ thấy rõ, biết rõ trạng-thái vô-thường, trạng-thái khổ, trạng-thái vô-ngã của danh-pháp, hoặc sắc-pháp.
Đến khi nhập Thánh-quả lộ-trình-tâm chỉ có đối- tượng trạng-thái vô-ngã của danh-pháp mà thôi, khi Thánh-quả-tâm sinh rồi diệt liên tục, có suññata- nibbāna: Chơn-không Niết-bàn làm đối-tượng.
Phương pháp xả Thánh-quả lộ-trình-tâm
Bậc Thánh-nhân đang nhập Thánh-quả lộ-trình-tâm, nếu muốn xả Thánh-quả lộ-trình-tâm thì cần phải có 2 chi pháp như sau:
- Trí-tuệ thiền-tuệ hướng đến đối-tượng danh-pháp hoặc sắc-pháp.
- Trí-tuệ thiền-tuệ không dõi theo đối-tượng Niết-bàn.
Khi bậc Thánh-nhân có đủ 2 chi pháp ấy, Thánh- quả-tâm cuối cùng diệt, làm nhân-duyên cho hộ-kiếp- tâm (bhavaṇgacitta) phát sinh, chấm dứt Thánh-quả lộ- trình-tâm.
Nhập Thánh-quả là quả báu của pháp-hành thiền-tuệ đối với bậc Thánh-nhân hưởng Niết-bàn an-lạc tuyệt đối.
- Nhập diệt-thọ-tưởng (Nirodhasamāpatti)
Nhập diệt-thọ-tưởng (nirodhasamāpatti) trong nhập diệt-thọ-tưởng lộ-trình-tâm (nirodhasamāpattivīthicitta) diệt thọ và tưởng có nghĩa là diệt tâm với tâm-sở và sắc- pháp phát sinh từ tâm, suốt thời gian 7 ngày, không ăn uống, tiểu tiện, đại tiện, …giống như tịch diệt Niết-bàn, an-lạc tuyệt đối, hoàn toàn giải thoát khỏi khổ thân, khổ tâm, khổ của sắc-pháp, của danh-pháp trong suốt 7 ngày.
Vấn: Bậc Thánh-nhân nào có khả năng nhập diệt-thọ- tưởng được?
Đáp: Chỉ có 2 bậc Thánh-nhân có khả năng đặc biệt nhập diệt-thọ-tưởng (nirodhasamāpatti) đó là bậc Thánh Bất-lai và bậc Thánh A-ra-hán đã chứng đắc đầy đủ 5 bậc thiền sắc-giới và 4 bậc thiền vô-sắc-giới mà thôi, bởi vì, nhập diệt-thọ-tưởng cần phải nhờ đến 2 năng lực:
- Năng lực của thiền-định (samathabala): Bậc Thánh Bất-lai hoặc bậc Thánh A-ra-hán chứng đắc đến đệ tứ thiền vô-sắc-giới: Phi-tưởng-phi-phi-tưởng-xứ-thiền.
- Năng lực của thiền-tuệ (vipassanābala): Bậc Thánh- nhân chứng đắc Bất-lai Thánh-quả hoặc A-ra-hán Thánh-quả.
Ngoài 2 bậc Thánh ấy ra, bậc Thánh Bất-lai, bậc Thánh A-ra-hán không chứng đắc đầy đủ 5 bậc thiền sắc-giới và 4 bậc thiền vô-sắc-giới, và bậc Thánh Nhất-
lai và bậc Thánh Nhập-lưu, dù đã chứng đắc đầy đủ 5 bậc thiền sắc-giới và 4 bậc thiền vô-sắc-giới, cũng không có khả năng nhập diệt-thọ-tưởng được, bởi vì không đủ 2 năng lực cần thiết.
Phương pháp nhập diệt-thọ-tưởng
Bậc Thánh Bất-lai hoặc bậc Thánh A-ra-hán có khả năng nhập diệt-thọ-tưởng (nirodhasamāpatti)(1)cần phải có đầy đủ 5 chi pháp như sau:
- Phải có đầy đủ 2 năng lực (bala).
- Phải có khả năng chế ngự 3 pháp-hành (saṅkhārā).
- Phải có 16 pháp-hành thiền-tuệ (ñāṇacariyā).
- Phải có 9 pháp-hành thiền định (samādhicariyā).
- Phải có 5 pháp thuần thục trong 9 bậc thiền (vasībhāvatā).
Đó là 5 chi pháp cần thiết hỗ trợ nhập diệt-thọ-tưởng (nirodhasamāpatti).
Giải thích
- Hai năng lực (bala)
- Năng lực thiền-định (samāthabala): Bậc Thánh Bất- lai, bậc Thánh A-ra-hán có đủ 5 bậc thiền sắc-giới và 4 bậc thiền vô-sắc-giới, đến đệ tứ thiền vô-sắc-giới “phi- tưởng-phi-phi-tưởng xứ-thiền” mới có đủ năng lực thiền- định vi-tế diệt thọ, tưởng.
- Năng lực thiền-tuệ (vipassanābala): Bậc Thánh Bất-lai, bậc Thánh A-ra-hán có đủ 7 loại anupassanā: Aniccānupassanā, dukkhānupassanā, anattānupassanā, nibbidānupassanā, virāgānupassanā, nirodhānupassanā, paṭinissaggānupassanā mới có đủ năng lực thiền-tuệ diệt thọ, tưởng.
1 Bộ Visuddhimagga, phần Nirodhasamāpattikathā.
- Kāyasaṅkhāra: Thân-hành đó là hơi thở vào, hơi thở ra.
- Vacīsaṅkhāra: Khẩu-hành đó là hướng-tâm tâm-sở (vitakkacetasika) và quan-sát tâm-sở (vicāracetasika).
- Cittasaṅkhāra: Ý-hành đó là thọ tâm-sở (vedanā- cetasika) và tưởng tâm-sở (saññācetasika).
- Đệ nhị thiền sắc-giới có khả năng diệt được 2 chi thiền vitakka, vicāra, nên chế ngự được khẩu-hành nghĩa là khẩu không nói năng được nữa.
- Đệ ngũ thiền sắc-giới(1) có khả năng diệt được hơi thở vào, hơi thở ra, nên chế ngự được thân-hành: Tịnh thân nghĩa là thân không còn hơi thở vào, hơi thở ra nữa.
- Bậc Thánh Bất-lai, bậc Thánh A-ra-hán khi nhập phi-tưởng-phi-phi-tưởng-xứ-thiền thì thọ tâm-sở và tưởng tâm-sở trở nên vô cùng vi-tế, tưởng như không có, nên bậc thiền này có khả năng diệt được thọ tâm-sở và tưởng tâm-sở, chế ngự được ý-hành: Tịnh ý nghĩa là tâm như không còn biết rõ các đối-tượng nữa.
- 16 pháp-hành thiền-tuệ (ñāṇacariyā)
Bậc Thánh Bất-lai, bậc Thánh A-ra-hán đã thuần thục thực-hành 16 pháp-hành thiền-tuệ:
- Thực-hành aniccānupassanā.
- Thực-hành dukkhānupassanā.
- Thực-hành anattānupassanā.
- Thực-hành nibbidānupassanā.
- Thực-hành virāgānupassanā.
- Thực-hành nirodhānupassanā.
- Thực-hành paṭinissaggānupassanā.
- Thực-hành vivaṭṭānupassanā.
1 Trường hợp nếu thiền sắc-giới có 4 bậc thiền, thì đệ tứ thiền.
- Sotāpattimagga.
- Nhập Sotāpattiphalasamāpatti.
- Sakadāgāmimagga.
- Nhập Sakadāgāmiphalasamāpatti.
- Anāgāmimagga.
- Nhập Anāgāmiphalasamāpatti.
- Arahattamagga.
- Nhập Arahattaphalasamāpatti.
Bậc Thánh Bất-lai, bậc Thánh A-ra-hán đã thuần thục thực-hành 16 pháp-hành thiền-tuệ từ trí-tuệ thiền-tuệ tam-giới đến trí-tuệ thiền-tuệ siêu-tam-giới.
- Chín Pháp-hành thiền-định (samādhicariyā)
- Nhập đệ nhất thiền sắc-giới.
- Nhập đệ nhị thiền sắc-giới.
- Nhập đệ tam thiền sắc-giới.
- Nhập đệ tứ thiền sắc-giới.
- Nhập đệ ngũ thiền sắc-giới.
- Nhập không-vô-biên-xứ-thiền.
- Nhập thức-vô-biên-xứ-thiền.
- Nhập vô-sở-hữu-xứ-thiền.
- Nhập phi-tưởng-phi-phi-tưởng-xứ-thiền.
Bậc Thánh Bất-lai, bậc Thánh A-ra-hán thuần thục nhập 5 bậc thiền sắc-giới và 4 bậc thiền vô-sắc-giới.
- Năm pháp thuần thục (vasībhāvatā)
- Āvajjanavasī: Thuần thục quán triệt chi thiền với ý-môn-hướng-tâm.
- Samāpajjanavasī: Thuần thục nhập các bậc thiền.
- Adhiṭṭhānavaī: Thuần thục phát nguyện ấn định thời gian nhập các bậc thiền.
- Vuṭṭhānavasī: Thuần thục ấn định thời gian xả các bậc thiền.
Bậc Thánh Bất-lai, bậc Thánh A-ra-hán có đầy đủ 5 pháp thuần thục cần thiết hỗ trợ nhập diệt-thọ-tưởng (nirodhasamāpatti).
* Nhập diệt-thọ-tưởng nhờ 2 năng lực
Bậc Thánh Bất-lai, bậc Thánh A-ra-hán nhập diệt-thọ- tưởng cần phải nhờ 2 năng lực: Năng lực thiền-định (samathabala) và năng lực thiền-tuệ (vipassanābala).
Hai bậc Thánh-nhân ấy nhập thiền rồi xả thiền, tiếp theo trí-tuệ thiền-tuệ thấy rõ, biết rõ sự diệt của danh- pháp của bậc thiền ấy theo tuần tự như sau:
A- Bậc Thánh Bất-lai nhập diệt-thọ-tưởng
Bậc Thánh Bất-lai thực-hành theo tuần tự như sau:
- Nhập đệ nhất thiền sắc-giới thiện-tâm.
- Xả đệ nhất thiền sắc-giới thiện-tâm.
- Trí-tuệ thiền-tuệ thấy rõ, biết rõ sự diệt của danh- pháp nơi đệ nhất thiền sắc-giới thiện-tâm, hiện rõ trạng- thái vô-thường, trạng-thái khổ, trạng-thái vô-ngã.
- Nhập đệ nhị thiền sắc-giới thiện-tâm.
- Xả đệ nhị thiền sắc-giới thiện-tâm.
- Trí-tuệ thiền-tuệ thấy rõ, biết rõ sự diệt của danh- pháp nơi đệ nhị thiền sắc-giới thiện-tâm, hiện rõ trạng- thái vô-thường, trạng-thái khổ, trạng-thái vô-ngã.
- Nhập đệ tam thiền sắc-giới thiện-tâm.
- Xả đệ tam thiền sắc-giới thiện-tâm.
- Trí-tuệ thiền-tuệ thấy rõ, biết rõ sự diệt của danh- pháp nơi đệ tam thiền sắc-giới thiện-tâm, hiện rõ trạng- thái vô-thường, trạng-thái khổ, trạng-thái vô-ngã.
- Nhập đệ tứ thiền sắc-giới thiện-tâm.
- Xả đệ tứ thiền sắc-giới thiện-tâm.
- Trí-tuệ thiền-tuệ thấy rõ, biết rõ sự diệt của danh- pháp nơi đệ tứ thiền sắc-giới thiện-tâm, hiện rõ trạng- thái vô-thường, trạng-thái khổ, trạng-thái vô-ngã.
- Nhập đệ ngũ thiền sắc-giới thiện-tâm.
- Xả đệ ngũ thiền sắc-giới thiện-tâm.
- Trí-tuệ thiền-tuệ thấy rõ, biết rõ sự diệt của danh- pháp nơi đệ ngũ thiền sắc-giới thiện-tâm, hiện rõ trạng- thái vô-thường, trạng-thái khổ, trạng-thái vô-ngã.
- Nhập không-vô-biên-xứ-thiện-tâm.
- Xả không-vô-biên-xứ thiện-tâm.
- Trí-tuệ thiền-tuệ thấy rõ, biết rõ sự diệt của danh- pháp nơi không-vô-biên-xứ-thiện-tâm, hiện rõ trạng-thái vô-thường, trạng-thái khổ, trạng-thái vô-ngã.
- Nhập thức-vô-biên-xứ-thiện-tâm.
- Xả thức-vô-biên-xứ-thiện-tâm.
- Trí-tuệ thiền-tuệ thấy rõ, biết rõ sự diệt của danh- pháp nơi thức-vô-biên-xứ-thiện-tâm, hiện rõ trạng-thái vô-thường, trạng-thái khổ, trạng-thái vô-ngã.
- Nhập vô-sở-hữu-xứ-thiện-tâm.
- Xả vô-sở-hữu-xứ-thiện-tâm.
- Trí-tuệ thiền-tuệ thấy rõ, biết rõ sự diệt của danh- pháp nơi vô-sở-hữu-xứ-thiện-tâm, hiện rõ trạng-thái vô- thường, trạng-thái khổ, trạng-thái vô-ngã.
Bốn phận sự trước khi nhập diệt-thọ-tưởng
Bậc Thánh Bất-lai phát nguyện 4 phận sự (pubba- kicca) trước khi nhập diệt-thọ-tưởng như sau:
- Nānābaddha avikopana: Bậc Thánh Bất-lai phát nguyện rằng: Trong suốt 7 ngày đêm nhập diệt-thọ-
tưởng, tất cả mọi thứ vật dụng như y, bát, chỗ ở, … không bị hư hại do lửa, nước, trộm cướp, …
Do nguyện lực này, tất cả mọi thứ vật dụng hoàn toàn không bị hư hại.
- Saṃghapaṭimānana: Bậc Thánh Bất-lai phát nguyện rằng: Trong suốt 7 ngày đêm nhập diệt-thọ- tưởng, nếu chư tỳ-khưu Tăng hội họp hành Tăng-sự nào, cần đến tôi thì tôi sẽ xả diệt-thọ-tưởng ngay tức khắc, không để vị tỳ-khưu nào đến gọi.
Do nguyện lực này, khi chư tỳ-khưu Tăng hội họp, bậc Thánh Bất-lai xả diệt-thọ-tưởng, đến trình diện ngay.
- Satthupakkosana: Bậc Thánh Bất-lai phát nguyện rằng: Trong suốt 7 ngày đêm nhập diệt-thọ-tưởng, nếu Đức-Thế-Tôn truyền hội họp chư tỳ-khưu-Tăng, để ban hành giới điều, … cần đến tôi thì tôi sẽ xả diệt-thọ-tưởng ngay tức khắc, không để vị tỳ-khưu nào đến gọi.
Do nguyện lực này, khi Đức-Thế-Tôn có việc cần, bậc Thánh Bất-lai xả diệt-thọ-tưởng, đến trình diện Đức- Thế-Tôn ngay.
- Addhānapariccheda: Bậc Thánh Bất-lai phát nguyện rằng: Sinh mạng của tôi còn tồn tại quá 7 ngày đêm hay không? Nếu biết sinh mạng sẽ hết trong vòng 7 ngày thì bậc Thánh Bất-lai phải xả diệt-thọ-tưởng trước khi chuyển kiếp (cuti), bởi vì sự chết không thể xảy ra trong lúc đang nhập diệt-thọ-tưởng.
Do nguyện lực này, nên bậc Thánh Bất-lai biết rõ tuổi thọ, để chuẩn bị trước khi chuyển kiếp (cuti).
Sau khi phát nguyện 4 pubbakicca xong, bậc Thánh Bất-lai trở lại tiếp tục Nhập phi-tưởng-phi-phi-tưởng-xứ- thiện-tâm cuối cùng trong diệt-thọ-tưởng lộ-trình-tâm (nirodhasamāpattivīthicitta) như sau:
Đồ biểu diệt-thọ-tưởng-lộ-trình-tâm
|
pha pha bha |
|
na da |
|
got |
|
|

Nevasaññānāsaññāyatanajjhāna
Anāgāmiphalacitta
Giải thích:
Bậc Thánh Bất-lai đã trải qua quá trình diễn tiến đi đôi giữa 2 năng lực: Năng lực thiền-định và năng lực thiền-tuệ, bắt đầu từ đệ nhất thiền sắc-giới thiện-tâm cho đến đệ tứ thiền vô-sắc-giới thiện-tâm, phi-tưởng-phi-phi- tưởng-xứ-thiện-tâm, trong diệt-thọ-tưởng lộ-trình-tâm (nirodhasamāpattivīthicitta) cuối cùng phát sinh như sau:
|
- Bhavaṅgacitta: Hộ-kiếp-tâm trước |
vt |
(bha) |
|
- Bhavaṅgacalana: Hộ-kiếp-tâm rung động |
vt |
(na) |
|
- Bhavaṅgupaccheda: Hộ-kiếp-tâm bị cắt đứt |
vt |
(da) |
|
- Manodvāravjjana: Ý-môn-hướng-tâm |
vt |
(ma) |
|
- Parikamma: Tâm-chuẩn-bị nevasaññā… |
vt |
(pari) |
|
- Upacāra: Tâm-cận nevasaññā … |
vt |
(upa) |
|
- Anuloma: Tâm-thuận-dòng nevasaññā … |
vt |
(ma) |
|
- Gotrabhu: Tâm-chuyển từ dục-giới-tâm |
|
|
|
sang vô-sắc-giới-tâm nevasaññā… |
vt |
(got) |
- Nevasaññānāsaññāyatanajjhānakusalacitta:
(2 sát-na-tâm) diệt vt (jha)
- Diệt citta+cetasika+cittarūpa suốt 7 ngày
đêm không còn biết khổ thân, khổ tâm nữa.
- Đến ngày thứ 8
- Anāgāmiphalacitta: Bất-lai Thánh-quả-tâm
phát sinh (2 sát-na-tâm) vt (pha)
- Bhavaṅgacitta: Hộ-kiếp-tâm sau vt (bha).
Nhập diệt-thọ-tưởng lộ-trình-tâm (nirodhasamāpatti- vīthicitta) suốt 7 ngày đêm, diệt tâm với tâm-sở, sắc- pháp phát sinh từ tâm, bậc Thánh Bất-lai không ăn uống, cũng không đi tiểu tiện, đại tiện, không biết khổ thân, khổ tâm nào cả.
Đến ngày thứ 8 hết kỳ hạn, xả diệt-thọ-tưởng lộ-trình- tâm của bậc Thánh Bất-lai, thì Bất-lai Thánh-quả-tâm có đối-tượng Niết-bàn phát sinh 2 sát-na-tâm rồi diệt, tiếp theo hộ-kiếp-tâm phát sinh, chấm dứt diệt-thọ-tưởng lộ- trình-tâm, trở lại đời sống bình thường.
Bậc Thánh Bất-lai suốt 7 ngày đêm không ăn uống, đến ngày thứ 8, để duy trì sinh mạng, nên bậc Thánh Bất-lai đi khất thực. Những thí chủ nào để bát cúng dường đến bậc Thánh Bất-lai sau khi xả diệt-thọ-tưởng, chắc chắn sẽ được quả báu cao quý vô lượng.
B- Bậc Thánh A-ra-hán nhập diệt-thọ-tưởng
Về phương pháp nhập diệt-thọ-tưởng đối với bậc Thánh Bất-lai như thế nào, thì đối với bậc Thánh A-ra- hán cũng như thế ấy.
Nhưng xét về tâm bậc Thánh Bất-lai với bậc Thánh A-ra-hán là hoàn toàn khác nhau:
- Đối với bậc Thánh Bất-lai có các loại tâm thuộc về thiện-tâm (kusalacitta) như dục-giới thiện-tâm, sắc-giới thiện-tâm, vô-sắc-giới thiện-tâm, Bất-lai Thánh-quả-tâm.
- Đối với bậc Thánh A-ra-hán có các loại tâm thuộc về duy-tác-tâm (kiriyacitta) như dục-giới đại-duy-tác- tâm, sắc-giới duy-tác-tâm, vô-sắc-giới duy-tác-tâm, A- ra-hán Thánh-quả-tâm.
Nhập diệt-thọ-tưởng là quả báu của pháp-hành thiền- tuệ đối với bậc Thánh Bất-lai, bậc Thánh A-ra-hán giải
thoát khổ thân, khổ tâm, khổ của sắc-pháp, của danh- pháp trong suốt thời gian 7 ngày đêm.
Bậc Thánh Bất-lai, bậc Thánh A-ra-hán chỉ có thể nhập diệt-thọ-tưởng trong cõi dục-giới, cõi sắc-giới mà thôi, không thể nhập diệt-thọ-tưởng trong cõi vô-sắc-giới, bởi vì không thể nhập 5 bậc thiền sắc-giới.
Người chết khác với bậc Thánh nhập diệt-thọ-tưởng
Trong kinh Mahāvedallasutta(1) Ngài Đại-trưởng-lão Sāriputta dạy Ngài Trưởng-lão Mahākoṭṭhika rằng:
- Này hiền đệ! Người chết rồi thì thân-hành đó là hơi thở bị diệt, khẩu-hành đó là hướng-tâm tâm-sở (vitakka- cetasika) và quan-sát tâm-sở (vicāracetasika) bị diệt, ý- hành đó là thọ tâm-sở (vedanācetasika) và tưởng tâm-sở (saññācetasika) cũng đều bị diệt, hết tuổi thọ, không còn hơi ấm, các tịnh-sắc đều bị tan rã.
Còn bậc Thánh Bất-lai, bậc Thánh A-ra-hán nhập diệt-thọ-tưởng rồi, thì cũng diệt thân-hành đó là diệt hơi thở vào, hơi thở ra, khẩu-hành đó là diệt hướng- tâm tâm-sở và quan-sát tâm-sở, diệt ý-hành đó là diệt thọ tâm-sở và tưởng tâm-sở, (giống như người chết). Nhưng bậc Thánh Bất-lai, bậc Thánh A-ra-hán khi nhập diệt-thọ-tưởng, tuổi thọ vẫn còn, hơi ấm trong sắc-thân vẫn còn, các tịnh-sắc (nhãn-tịnh-sắc, nhĩ-tịnh-sắc, tỷ- tịnh-sắc, thiệt-tịnh-sắc, thân-tịnh-sắc, ý-sắc-căn) vẫn còn nguyên vẹn, không bị tan rã.
Đó là điều giống nhau và khác nhau giữa người chết với bậc Thánh Bất-lai, bậc Thánh A-ra-hán nhập diệt- thọ-tưởng.
1 Bộ Majjhimanikāya, Mūlapaṇṇāsa, kinh Mahāvedallasutta.
Tóm lược kết-quả của pháp-hành thiền-tuệ
- Hành-giả thực-hành pháp-hành thiền-tuệ nếu có saddhindriya: Tín-pháp-chủ có nhiều năng lực hơn 4 pháp-chủ là tấn-pháp-chủ, niệm-pháp-chủ, định-pháp- chủ, tuệ-pháp-chủ, đến khi Thánh-đạo lộ-trình-tâm phát sinh, trí-tuệ thiền-tuệ thứ 12 saccānulomañāṇa thì chỉ thấy rõ, biết rõ aniccalakkhaṇa: Trạng-thái vô-thường của sắc-pháp hoặc danh-pháp tam-giới cuối cùng, dẫn đến animittavimokkha: Vô-hiện-tượng giải-thoát, chứng ngộ animittanibbāna: Vô-hiện-tương Niết-bàn chứng đắc Thánh-đạo, Thánh-quả như sau:
- Chứng đắc Nhập-lưu Thánh-đạo thuộc về nhóm Saddhānusārī: Bậc Thánh Nhập-lưu chứng đắc bằng đức-tin trong sạch.
- Chứng đắc Nhập-lưu Thánh-quả, Nhất-lai Thánh-đạo, Nhất-lai Thánh-quả, Bất-lai Thánh-đạo, Bất-lai Thánh- quả, A-ra-hán Thánh-đạo, A-ra-hán Thánh-quả gồm có 7 bậc Thánh-nhân này thuộc về nhóm Saddhāvimutta: Bậc Thánh-nhân giải thoát bằng đức-tin trong sạch.
- Hành-giả thực-hành pháp-hành thiền-tuệ nếu có samādhindriya: Định-pháp-chủ có nhiều năng lực hơn 4 pháp-chủ là tín-pháp-chủ, tấn-pháp-chủ, niệm-pháp-chủ, tuệ-pháp-chủ, đến khi Thánh-đạo lộ-trình-tâm phát sinh, trí-tuệ thiền-tuệ thứ 12 saccānulomañāṇa thì chỉ thấy rõ, biết rõ dukkhalakkhaṇa: Trạng-thái khổ của sắc-pháp hoặc danh-pháp tam-giới cuối cùng, dẫn đến appaṇihita- vimokkha: Vô-tham-ái giải-thoát, chứng ngộ appaṇihita- nibbāna: Vô-tham-ái Niết-bàn, chứng đắc Thánh-đạo, Thánh-quả như sau:
- Chứng đắc 4 Thánh-đạo, 4 Thánh-quả gồm có 8 bậc Thánh-nhân đều thuộc về nhóm Kāyasakkhi: Chư bậc
Thánh-nhân trước có các bậc thiền sắc-giới làm nền tảng, sau thực-hành pháp-hành thiền-tuệ, dẫn đến chứng đắc 4 Thánh-đạo, 4 Thánh-quả.
- Nếu hành-giả trước đã chứng đắc 5 bậc thiền sắc- giới và 4 bậc thiền vô-sắc-giới, sau thực-hành pháp-hành thiền-tuệ dẫn đến chứng đắc A-ra-hán Thánh-đạo, A-ra- hán Thánh-quả thì thuộc về nhóm Ubhatobhāga- vimutta: Bậc Thánh A-ra-hán giải-thoát cả 2: Tứ thiền vô-sắc-giới và A-ra-hán Thánh-đạo, A-ra-hán Thánh-quả.
- Hành-giả thực-hành pháp-hành thiền-tuệ nếu có paññindriya: Tuệ-pháp-chủ có nhiều năng lực hơn 4 pháp-chủ còn lại là tín-pháp-chủ, tấn-pháp-chủ, niệm- pháp-chủ, định-pháp-chủ, đến khi Thánh-đạo lộ-trình- tâm phát sinh, trí-tuệ thiền-tuệ thứ 12 saccānulomañāṇa thì chỉ thấy rõ, biết rõ anattalakkhaṇa: Trạng-thái vô- ngã của sắc-pháp hoặc danh-pháp tam-giới cuối cùng, dẫn đến suññatavimokkha: Chơn-không vô-ngã giải- thoát, chứng ngộ suññatanibbāna, chơn-không vô-ngã Niết-bàn, chứng đắc Thánh-đạo, Thánh-quả như sau:
- Chứng đắc Nhập-lưu Thánh-đạo thuộc về nhóm Dhammānusārī: Bậc Thánh Nhập-lưu chứng đắc bằng trí-tuệ siêu-việt.
- Chứng đắc Nhập-lưu Thánh-quả, Nhất-lai Thánh- đạo, Nhất-lai Thánh-quả, Bất-lai Thánh-đạo, Bất-lai Thánh-quả, A-ra-hán Thánh-đạo gồm có 6 bậc Thánh- nhân này thuộc về nhóm Diṭṭhipatta: Bậc Thánh-nhân giải thoát bằng trí-tuệ siêu-việt.
- Chứng đắc A-ra-hán Thánh-quả thuộc về nhóm Paññāvimutta: Bậc Thánh A-ra-hán giải-thoát bằng trí- tuệ siêu-việt (không có bậc thiền nào làm nền tảng).
7 nhóm Thánh-nhân theo 4 Thánh-đạo, 4 Thánh-quả
Phân loại 7 nhóm Thánh-nhân tương xứng với 8 bậc Thánh-nhân như sau:
- Nhóm Thánh-nhân Saddhānusārī có 1 bậc Thánh Nhập-lưu chứng đắc bằng đức-tin trong sạch.
- Nhóm Thánh-nhân Dhammānusārī có 1 bậc Thánh Nhập-lưu chứng đắc bằng trí-tuệ siêu-việt.
- Nhóm Thánh-nhân Diṭṭhipatta gồm có 6 bậc Thánh-nhân giải thoát bằng trí-tuệ siêu-việt, đó là Nhập-lưu Thánh-quả, Nhất-lai Thánh-đạo, Nhất-lai Thánh-quả, Bất-lai Thánh-đạo, Bất-lai Thánh-quả, A-ra- hán Thánh-đạo.
- Nhóm Thánh-nhân Saddhāvimutta gồm có 7 bậc Thánh-nhân giải thoát bằng đức-tin trong sạch, đó là Nhập-lưu Thánh-quả, Nhất-lai Thánh-đạo, Nhất-lai Thánh-quả, Bất-lai Thánh-đạo, Bất-lai Thánh-quả, A-ra- hán Thánh-đạo, A-ra-hán Thánh-quả.
- Nhóm Thánh-nhân Kāyasakkhi gồm có 8 bậc Thánh-nhân trước có các bậc thiền sắc-giới làm nền tảng, sau thực-hành pháp-hành thiền-tuệ, dẫn đến chứng đắc 4 Thánh-đạo, 4 Thánh-quả.
- Nhóm Thánh-nhân Ubhatobhāgavimutta có 1 bậc Thánh A-ra-hán giải thoát bằng cả 2 pháp: Tứ thiền vô- sắc-giới và A-ra-hán Thánh-đạo, A-ra-hán Thánh-quả.
- Hạng Thánh-nhân Paññāvimutta có 1 bậc Thánh A-ra-hán giải thoát bằng trí-tuệ siêu-việt (không có bậc thiền nào làm nền tảng).
(Xong phần II, pháp-hành thiền-tuệ)
Pháp-Hành Thiền-Định Và Pháp-Hành Thiền-Tuệ
Giáo-pháp của Đức-Phật Gotama có 2 pháp-hành:
- Pháp-hành thiền-định (Samathabhāvanā).
- Pháp-hành thiền-tuệ (Vipassanābhāvanā).
- Pháp-hành thiền-định (samathabhāvanā) có 40 đề-mục thiền-định, một số đề-mục thiền-định có trong Phật-giáo và cũng có ngoài Phật-giáo; đặc biệt một số đề-mục thiền-định chỉ có trong Phật-giáo mà thôi, hoàn toàn không có ngoài Phật-giáo.
Pháp-hành thiền-định là pháp-hành dẫn đến chứng đắc
5 bậc thiền sắc-giới thiện-tâm, sắc-giới thiện-nghiệp trong 5 bậc thiền sắc-giới thiện-tâm cho quả tái-sinh kiếp sau hóa-sinh làm vị phạm-thiên trên 16 tầng trời sắc-giới phạm-thiên, và chứng đắc 4 bậc thiền vô-sắc-giới thiện- tâm, vô-sắc-giới thiện-nghiệp trong 4 bậc thiền vô-sắc- giới thiện-tâm cho quả có 4 bậc thiền vô-sắc-giới quả-tâm làm phận sự tái-sinh kiếp sau hóa-sinh làm vị phạm- thiên trên 4 tầng trời vô-sắc-giới phạm-thiên.
Sắc-giới thiện-nghiệp trong 5 bậc thiền sắc-giới thiện- tâm và vô-sắc-giới thiện-nghiệp trong 4 bậc thiền vô-sắc- giới thiện-tâm của pháp-hành thiền-định vẫn còn luẩn quẩn trong vòng tử sinh luân-hồi trong ba giới bốn loài.
Pháp-hành thiền-định đã được trình bày trong quyển IX: Pháp-Hành Thiền-Định của bộ Nền-Tảng-Phật- Giáo cùng soạn giả.
- Pháp-hành thiền-tuệ (vipassanābhāvanā) là pháp- hành chỉ có trong Phật-giáo mà thôi, hoàn toàn không có ngoài Phật-giáo. Pháp-hành thiền-tuệ là pháp-hành dẫn đến chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, chứng đắc 4 Thánh-đạo, 4 Thánh-quả và Niết-bàn, diệt tận được mọi
phiền-não, mọi tham-ái, mọi ác-pháp, trở thành bậc Thánh A-ra-hán, rồi sẽ tịch diệt Niết-bàn, giải thoát khổ tử sinh luân-hồi trong tam-giới.
Thật vậy, pháp-hành thiền-tuệ có từ khi Đức-Phật Chánh-Đẳng-Giác có danh hiệu là Đức-Phật Gotama xuất hiện trên thế gian, và được các hàng thanh-văn đệ- tử có đầy đủ 10 pháp-hạnh ba-la-mật và 5 pháp-chủ có khả năng thực-hành pháp-hành thiền-tuệ dẫn đến chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế y theo Đức-Phật, chứng đắc 4 Thánh-đạo, 4 Thánh-quả và Niết-bàn, giải thoát khổ tử sinh luân-hồi trong ba giới bốn loài.
Các hàng thanh-văn đệ-tử có trí-tuệ kế thừa theo truyền thống thực-hành pháp-hành thiền-tuệ giữ gìn, duy trì tồn tại cho đến nay.
Khi giáo pháp của Đức-Phật Gotama bị suy đồi dần dần, bị tiêu hoại dần dần thì pháp-hành thiền-tuệ sẽ bị suy đồi, bị tiêu hoại trước, bởi vì trí-tuệ của các hàng thanh-văn đệ-tử không có khả năng giữ gìn duy trì được pháp-hành thiền-tuệ nữa.
Tuổi thọ của Phật-giáo có khoảng 5.000 năm, sau
5.000 năm, giáo pháp của Đức-Phật Gotama bị tiêu hoại hoàn toàn không còn trên thế gian này.
Tìm hiểu những điểm khác biệt nhau giữa pháp-hành thiền-định (trong quyển IX) với pháp-hành thiền-tuệ (trong quyển X này), để giúp cho hành-giả phân biệt rõ pháp-hành thiền-định với pháp-hành thiền-tuệ.
Điểm Khác Biệt Giữa Thiền-Định Với Thiền-Tuệ
Tìm thấy những điểm khác biệt giữa pháp-hành thiền-
định và pháp-hành thiền-tuệ như sau:
- Ý nghĩa (Aṭṭha)
- Thiền-định: Thiền-định nghĩa là định-tâm trong đối-tượng thiền-định duy nhất, để chứng đắc 5 bậc thiền sắc-giới, 4 bậc thiền vô-sắc-giới.
- Thiền-tuệ: Thiền-tuệ nghĩa là trí-tuệ thiền-tuệ thấy rõ, biết rõ sự sinh, sự diệt của mỗi sắc-pháp, mỗi danh- pháp tam-giới, nên hiện rõ 3 trạng-thái-chung: Trạng- thái vô-thường, trạng-thái khổ, trạng-thái vô-ngã của sắc-pháp, danh-pháp tam-giới, dẫn đến chứng ngộ chân- lý tứ Thánh-đế, chứng đắc 4 Thánh-đạo, 4 Thánh-quả và Niết-bàn.
- Chi-pháp (Aṅga)
- Thđ: Chi-pháp của thiền-định là ekaggatācetasika: Nhất-tâm tâm-sở đồng sinh với tam-giới thiện-tâm, tam- giới duy-tác-tâm.
- Tht: Chi-pháp của thiền-tuệ là paññindriyacetasika: Tuệ-chủ tâm-sở đồng sinh với tất cả tam-giới thiện-tâm hợp với trí-tuệ, tam-giới duy-tác-tâm hợp với trí-tuệ.
- Trạng-thái-riêng (Lakkhaṇa)
- Thđ: Trạng-thái-riêng của thiền-định là không phóng-tâm, định-tâm trong đối-tượng thiền-định.
- Tht: Trạng-thái-riêng của thiền-tuệ là thấy rõ, biết rõ thật-tánh của tất cả sắc-pháp, danh-pháp.
- Phận sự (Rasa)
- Thđ: Phận sự của thiền-định là gom các pháp đồng sinh lại với nhau.
- Tht: Phận sự của thiền-tuệ là diệt vô-minh che phủ thật-tánh của tất cả sắc-pháp, danh-pháp.
- Quả hiện-hữu (Paccuppaṭṭhāna)
- Thđ: Quả hiện-hữu của thiền-định là an trú trong một đối-tượng thiền-định duy nhất.
- Tht: Quả hiện-hữu của thiền-tuệ là trí-tuệ thiền-tuệ thấy rõ, biết rõ thật-tánh của tất cả sắc-pháp, danh-pháp, không có si mê lầm lạc.
- Nguyên nhân gần (Padaṭṭhāna)
- Thđ: Nguyên nhân gần của thiền-định là thọ lạc.
- Tht: Nguyên nhân gần của thiền-tuệ là sát-na định- tâm trong mỗi đối-tượng thiền-tuệ.
- Đối-tượng (Ārammaṇa)
- Thđ: Đối-tượng của thiền-định là 40 đề-mục-thiền- định thuộc về chế-định-pháp (paññattidhamma).
- Tht: Đối-tượng của thiền-tuệ là tất cả mọi sắc-pháp, mọi danh-pháp, hoặc thân, thọ, tâm, pháp là đối-tượng của pháp-hành tứ-niệm-xứ, thuộc về chân-nghĩa-pháp (paramatthadhamma).
- Sinh-diệt ( Udaya-Vaya)
- Thđ: Sự sinh, sự diệt của đối-tượng thiền-định không có.
- Tht: Sự sinh, sự diệt của đối-tượng thiền-tuệ đó là sự sinh của mỗi sắc-pháp do nhân-duyên-sinh, sự diệt của mỗi sắc-pháp do nhân-duyên-diệt; sự sinh của mỗi danh-pháp tam-giới do nhân-duyên-sinh, sự diệt của mỗi danh-pháp tam-giới do nhân-duyên-diệt.
- Trạng-thái-chung (Sāmaññalakkhaṇa)
- Thđ: Trạng-thái-chung của đối-tượng thiền-định
không có, bởi vì đối-tượng thiền-định thuộc về chế-định- pháp (paññattidhamma), không có sự sinh, sự diệt, nên không có 3 trạng-thái-chung.
- Tht: Trạng-thái-chung của đối-tượng thiền-tuệ là trạng-thái vô-thường, trạng-thái khổ, trạng-thái vô-ngã của mọi sắc-pháp, mọi danh-pháp tam-giới, bởi vì đối- tượng sắc-pháp, danh-pháp tam-giới thuộc về chân- nghĩa-pháp (paramatthadhamma), có sự sinh, sự diệt của sắc-pháp, của danh-pháp, nên có 3 trạng-thái-chung.
- Thời gian (Kāla)
- Thđ: Thời gian của đối-tượng thiền-định thuộc về chế-định-pháp (paññattidhamma) là kālavimutta: Ngoại 3 thời, không thuộc về quá-khứ, hiện-tại, vị-lai.
- Tht: Thời gian của đối-tượng thiền-tuệ thuộc về chân-nghĩa-pháp (paramatthadhamma) là tekālika: Có 3 thời: Quá-khứ, hiện-tại, vị-lai.
- Bản tính (Carita)
- Thđ: Bản tính của hành-giả thực-hành pháp-hành thiền-định phân chia ra 6 loại tính, để phù hợp với 40 đối-tượng thiền-định.
- Tht: Bản tính của hành-giả thực-hành pháp-hành thiền-tuệ phân chia 2 loại tính (tham-ái và tà-kiến), mỗi loại có 2 hạng hành-giả, để phù hợp với 4 đối-tượng tứ- niệm-xứ hoặc đối-tượng thiền-tuệ.
- Hiện-tượng (Nimitta)
- Thđ: Hiện-tượng của đối-tượng thiền-định có 3 giai đọan: Đối-tượng parikammanimitta, đối-tượng uggaha- nimitta, đối-tượng paṭibhāganimitta, bởi vì đối-tượng thiền-định thuộc về chế-định-pháp (paññattidhamma).
- Tht: Hiện-tượng của đối-tượng thiền-tuệ hoàn toàn không có nimitta nào, bởi vì đối-tượng thiền-tuệ thuộc về chân-nghĩa-pháp (paramatthadhamma).
- Định-tâm (Samādhi)
- Thđ: Định-tâm của pháp-hành thiền-định có 3 loại: Parikammasamādhi: Sơ-định ban đầu, upacārasamādhi: Cận-định, appanāsamādhi: An-định trong 1 đề-mục thiền-định.
- Tht: Định-tâm của pháp-hành thiền-tuệ chỉ có 1 loại là khaṇikasamādhi: Sát-na-định nơi mỗi đối-tượng thiền- tuệ, sắc-pháp, danh-pháp.
- Chứng đắc (Adhigama)
- Thđ: Sự chứng đắc của pháp-hành thiền-định là đạt đến appanāsamādhi: An-định-tâm có đối-tượng paṭi- bhāganimitta, chứng đắc 5 bậc thiền sắc-giới, 4 bậc thiền vô-sắc-giới.
- Tht: Sự chứng đắc của pháp-hành thiền-tuệ là chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, chứng đắc 4 Thánh- đạo, 4 Thánh-quả và Niết-bàn.
- Diệt Phiền-não (Pahāna)
- Thđ: Diệt phiền-não: Pháp-hành thiền-định, đệ nhất thiền sắc-giới thiện-tâm diệt phiền-não loại trung (5 pháp-chướng-ngại nīvaraṇa) bằng cách chế-ngự, đè-nén phiền-não (vikhambhanappahāna).
- Tht: Diệt phiền-não: Pháp-hành thiền-tuệ có 12 loại trí-tuệ thiền-tuệ tam-giới từ trí-tuệ thứ nhất nāmarūpa- paricchedañāṇa cho đến trí-tuệ thiền-tuệ thứ 12 saccā- nulomañāṇa diệt phiền-não từng-thời (tadaṅgappahāna) theo khả năng của mỗi loại trí-tuệ thiền-tuệ.
Đến trí-tuệ thiền-tuệ siêu-tam-giới thứ 14 đó là 4 Thánh-đạo-tuệ mà mỗi Thánh-đạo-tuệ có khả năng đặc biệt diệt tận được phiền-não (samucchedappahāna) theo năng lực của mỗi Thánh-đạo-tuệ, tiếp theo trí-tuệ thiền- tuệ siêu-tam-giới thứ 15 đó là 4 Thánh-quả-tuệ mà mỗi loại Thánh-quả-tuệ có khả năng đặc biệt làm an-tịnh phiền-não (paṭippassaddhippahāna) theo năng lực của mỗi Thánh-quả-tuệ, và đối-tượng Niết-bàn siêu-tam-giới giải thoát khổ (nissaraṇappahāna).
- Tâm (Citta)
- Thđ: Tâm của các bậc thiền-định là 15 sắc-giới tâm, và 12 vô-sắc-giới-tâm, thuộc về 27 mahaggatacitta: Tâm bậc cao hơn dục-giới-tâm.
- Tht: Tâm của thiền-tuệ thuộc về siêu-tam-giới-tâm đó là 4 hoặc 20 Thánh-đạo-tâm, và 4 hoặc 20 Thánh- quả-tâm gồm có 8 hoặc 40 siêu-tam-giới-tâm.
- Đối-tượng - Chủ thể (Ārammaṇa - Ārammaṇika)
- Thđ: * Đối-tượng thiền-định thuộc về chế-định- pháp (paññattidhamma) diễn biến qua 3 giai đọan từ thô đến vi-tế như sau:
- Giai đọan ban đầu: Parikammanimitta: Đối-tượng thiền-định thực-hành ban đầu của đề-mục thiền-định diễn biến đến
- Giai đọan giữa: Uggahanimitta: Đối-tượng thô
ảnh tương tự của đề-mục thiền-định, diễn biến đến
-
- Giai đọan cuối: Paṭibhāganimitta: Đối-tượng quang ảnh trong sáng của đề-mục thiền-định.
* Chủ-thể thiền-định là tâm hành trong đối-tượng thiền-định cũng tiến triển theo 3 giai đọan theo đối- tượng thiền-định như sau:
- Giai đọan ban đầu: Parikammabhāvanā: Tâm-hành ban đầu của đề-mục thiền-định có parikammasamādhi: Sơ-định trong đối-tượng parikammanimitta, và đối-tượng uggahanimitta.
- Giai đọan giữa: Upacārabhāvanā: Tâm-cận-hành gần bậc thiền sắc-giới có upacārasamādhi: Tâm-cận-định trong đối-tượng paṭibhāganimitta gần bậc thiền sắc-giới.
- Giai đọan cuối: Appanābhāvanā: Tâm-an-hành chứng đắc bậc thiền sắc-giới có appanāsamādhi: Tâm- an-định vững chắc trong đối-tượng paṭibhāganimitta chứng đắc bậc thiền sắc-giới.
- Tht: * Đối-tượng thiền-tuệ thuộc về chân-nghĩa- pháp (paramatthadhamma) có thật-tánh của sắc-pháp, của danh-pháp tam-giới, có sự sinh, sự diệt của sắc- pháp, của danh-pháp tam-giới, có 3 trạng-thái-chung: Trạng-thái vô-thường, trạng-thái khổ, trạng-thái vô-ngã của sắc-pháp, của danh-pháp tam-giới,
* Chủ-thể thiền-tuệ là trí-tuệ thiền-tuệ diễn tiến qua 3 giai đọan:
- Giai đọan ban đầu: Trí-tuệ thứ nhất thấy rõ, biết rõ, phân biệt rõ thật-tánh của mỗi sắc-pháp, mỗi danh- pháp tam-giới.
- Giai đọan giữa: Trí-tuệ thiền-tuệ tam-giới gồm có 9 loại thấy rõ, biết rõ sự sinh, sự diệt của mỗi sắc-pháp, mỗi danh-pháp tam-giới do nhân-duyên-sinh, do nhân- duyên-diệt, hiện rõ 3 trạng-thái-chung: Trạng-thái vô- thường, trạng-thái khổ, trạng-thái vô-ngã của sắc-pháp, của danh-pháp tam-giới, v.v…
- Giai đọan cuối: Trí-tuệ thiền-tuệ siêu-tam-giới chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, chứng đắc 4 Thánh- đạo, 4 Thánh-quả và Niết-bàn.
- Quả báu (Ānisaṃsa)
- Thđ: Quả báu của 5 bậc thiền sắc-giới, 4 bậc thiền vô-sắc-giới có nhiều quả báu như sau:
- Kiếp hiện-tại của hành-giả
- Nhập thiền để hưởng sự an-lạc trong bậc thiền ấy.
- Có khả năng luyện phép ngũ-thông (abhiññā).
- Làm nền tảng, làm đối-tượng để thực-hành pháp- hành-thiền-tuệ.
- Hỗ trợ bậc Thánh-nhân nhập Thánh-quả-tâm.
- Nếu chứng đắc đủ 9 bậc thiền (5 bậc thiền sắc- giới và 4 bậc thiền vô-sắc-giới) thì hỗ trợ bậc Thánh Bất-lai, bậc Thánh A-ra-hán nhập diệt-thọ-tưởng, …
- Kiếp vị-lai của hành-giả
- Nếu hành-giả nào chứng đắc các bậc thiền sắc- giới thiện-tâm và các bậc thiền vô-sắc-giới thiện-tâm giữ gìn duy trì đến lúc chết, sau khi hành-giả ấy chết, thì chỉ có thiền thiện-tâm bậc cao nào có quyền ưu tiên cho quả là thiền quả-tâm bậc cao ấy làm phận sự tái-sinh kiếp kế-tiếp, hóa-sinh làm vị phạm-thiên trên tầng trời sắc- giới phạm-thiên, hoặc tầng trời vô-sắc-giới phạm-thiên, tương xứng với thiền quả-tâm bậc cao ấy mà thôi.
- Kiếp hiện-tại của hành-giả
Các thiền thiện-tâm bậc thấp còn lại đều trở thành vô hiệu quả.
-
-
- Tht: Quả báu của 4 Thánh-đạo-tâm liền cho quả tương xứng là 4 Thánh-quả-tâm trong cùng Thánh-đạo lộ-trình-tâm (Maggavīthicitta) ấy, không có thời gian ngăn cách (akālika) như sau:
- Nhập-lưu Thánh-đạo-tâm 1 sát-na-tâm diệt, liền cho quả là Nhập-lưu Thánh-quả-tâm sinh 2 hoặc 3 sát- na-tâm trong cùng Nhập-lưu Thánh-đạo lộ-trình-tâm.
- Tht: Quả báu của 4 Thánh-đạo-tâm liền cho quả tương xứng là 4 Thánh-quả-tâm trong cùng Thánh-đạo lộ-trình-tâm (Maggavīthicitta) ấy, không có thời gian ngăn cách (akālika) như sau:
-
-
-
-
- Nhất-lai Thánh-đạo-tâm 1 sát-na-tâm diệt, liền cho quả là Nhất-lai Thánh-quả-tâm sinh 2 hoặc 3 sát-na- tâm trong cùng Nhất-lai Thánh-đạo lộ-trình-tâm.
- Bất-lai Thánh-đạo-tâm 1 sát-na-tâm diệt, liền cho quả là Bất-lai Thánh-quả-tâm sinh 2 hoặc 3 sát-na-tâm trong cùng Bất-lai Thánh-đạo lộ-trình-tâm.
- A-ra-hán Thánh-đạo-tâm 1 sát-na-tâm diệt, liền cho quả là A-ra-hán Thánh-quả-tâm sinh 2 hoặc 3 sát- na-tâm trong cùng A-ra-hán Thánh-đạo lộ-trình-tâm.
-
-
- Kiếp hiện-tại của 4 bậc Thánh-nhân
- Nhập Thánh-quả-tâm để hưởng sự an-lạc tịch-tịnh Niết-bàn.
- Nếu bậc Thánh Bất-lai, bậc Thánh A-ra-hán chứng đắc đủ 9 bậc thiền thì nhập diệt-thọ-tưởng, …
- Kiếp vị-lai của 4 bậc Thánh-nhân
- Sau khi bậc Thánh Nhập-lưu chết, tuyệt đối không tái-sinh trong 4 cõi ác-giới, đại-thiện-nghiệp trong đại- thiện-tâm cho quả tái-sinh kiếp sau trong cõi thiện dục- giới là cõi người, hoặc cõi trời dục-giới, nhiều nhất 7 kiếp nữa mà thôi. Đến kiếp thứ 7, bậc Thánh Nhập-lưu ấy chắc chắn sẽ trở thành bậc Thánh A-ra-hán, rồi sẽ tịch diệt Niết- bàn, giải thoát khổ tử sinh luân-hồi trong tam-giới.
- Sau khi bậc Thánh Nhất-lai chết, đại-thiện-nghiệp trong đại-thiện-tâm cho quả tái-sinh kiếp sau trong cõi thiện dục-giới là cõi người, hoặc cõi trời dục-giới, 1 kiếp nữa mà thôi. Trong kiếp ấy, bậc Thánh Nhất-lai ấy chắc chắn sẽ trở thành bậc Thánh A-ra-hán, rồi sẽ tịch diệt Niết- bàn, giải thoát khổ tử sinh luân-hồi trong tam-giới.
- Sau khi bậc Thánh Bất-lai chết, tuyệt đối không tái- sinh trở lại cõi dục-giới, mà chỉ có sắc-giới thiện-nghiệp
- Sau khi bậc Thánh Nhập-lưu chết, tuyệt đối không tái-sinh trong 4 cõi ác-giới, đại-thiện-nghiệp trong đại- thiện-tâm cho quả tái-sinh kiếp sau trong cõi thiện dục- giới là cõi người, hoặc cõi trời dục-giới, nhiều nhất 7 kiếp nữa mà thôi. Đến kiếp thứ 7, bậc Thánh Nhập-lưu ấy chắc chắn sẽ trở thành bậc Thánh A-ra-hán, rồi sẽ tịch diệt Niết- bàn, giải thoát khổ tử sinh luân-hồi trong tam-giới.
trong bậc thiền sắc-giới thiện-tâm nào cho quả bậc thiền sắc-giới quả-tâm ấy làm phận sự tái-sinh kiếp sau hóa- sinh làm vị phạm-thiên trên tầng trời sắc-giới phạm- thiên tương xứng với bậc thiền sắc-giới quả-tâm ấy. Vị phạm-thiên Thánh Bât-lai ấy chắc chắn sẽ trở thành bậc Thánh A-ra-hán, rồi sẽ tịch diệt Niết-bàn tại tầng trời sắc-giới phạm-thiên ấy, giải thoát khổ tử sinh luân-hồi trong tam-giới.
-
-
-
- Bậc Thánh A-ra-hán ngay kiếp hiện-tại, đến khi hết tuổi thọ đồng thời tịch diệt Niết-bàn, giải thoát khổ tử sinh luân-hồi trong tam-giới.
-
-
- Người (Puggala)
-
- Thđ: Dù hành-giả chứng đắc 5 bậc thiền sắc-giới và
-
4 bậc thiền vô-sắc-giới cũng vẫn còn là hạng người phàm-nhân (puthujjana).
- Tht: Hành-giả chứng đắc Nhập-lưu Thánh-đạo, Nhập-lưu Thánh-quả trở thành bậc Thánh Nhập-lưu.
- Chứng đắc Nhất-lai Thánh-đạo, Nhất-lai Thánh-quả
trở thành bậc Thánh Nhất-lai.
- Chứng đắc Bất-lai Thánh-đạo, Bất-lai Thánh-quả
trở thành bậc Thánh Bất-lai,
- Chứng đắc A-ra-hán Thánh-đạo, A-ra-hán Thánh- quả trở thành bậc Thánh A-ra-hán.
Đó là 4 bậc Thánh-nhân (ariyapuggala) trong Phật-giáo.
- Pháp-hành (bhāvanā)
- Thđ: Pháp-hành thiền-định (samathabhāvanā) là pháp-hành có trong Phật-giáo và ngoài Phật-giáo, là pháp-hành có thể dẫn đến chứng đắc 5 bậc thiền sắc-giới thiện-tâm, 4 bậc thiền vô-sắc-giới thiện-tâm.
Nếu hành-giả nào có khả năng chứng đắc 5 bậc thiền sắc-giới thiện-tâm và 4 bậc thiền vô-sắc-giới thiện-tâm, sau khi hành-giả ấy chết, thì chắc chắn đệ tứ thiền vô- sắc-giới thiện-nghiệp gọi là phi-tưởng-phi-phi-tưởng-xứ thiện-nghiệp cho quả tái-sinh kiếp kế-tiếp hóa-sinh làm vị phạm-thiên trên tầng trời vô-sắc-giới phạm-thiên tột đỉnh gọi là Phi-tưởng phi-phi-tưởng-xứ-thiên. Vị phạm- thiên trên tầng trời ấy có tuổi thọ 84.000 đại-kiếp trái đất lâu dài nhất, hưởng an-lạc cho đến khi hết tuổi thọ tại tầng trời ấy, rồi đại-thiện-nghiệp trong đại-thiện-tâm cho quả tái-sinh kiếp sau xuống cõi thiện dục-giới là cõi người hoặc cõi trời dục-giới.
Năm bậc thiền sắc-giới thiện-tâm và 3 bậc thiền vô- sắc-giới thiện-tâm bậc thấp còn lại đều trở thành vô- hiệu-quả-nghiệp (ahosikamma) không có cơ hội cho quả được nữa.
- Tht: Pháp-hành thiền-tuệ (vipassanābhāvanā) là pháp-hành chỉ có trong Phật-giáo mà thôi, hoàn toàn không có ngoài Phật-giáo, là pháp-hành dẫn đến chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, chứng đắc như sau:
- Chứng đắc Nhập-lưu Thánh-đạo, Nhập-lưu Thánh- quả, Niết-bàn, trở thành bậc Thánh Nhập-lưu.
- Chứng đắc Nhất-lai Thánh-đạo, Nhất-lai Thánh-quả và Niết-bàn, trở thành bậc Thánh Nhất-lai.
- Chứng đắc Bất-lai Thánh-đạo, Bất-lai Thánh-quả và Niết-bàn, trở thành bậc Thánh Bất-lai.
- Chứng đắc A-ra-hán Thánh-đạo, A-ra-hán Thánh- quả và Niết-bàn, trở thành bậc Thánh A-ra-hán.
- Sau khi bậc Thánh Nhập-lưu chết, đại-thiện-nghiệp trong đại-thiện-tâm cho quả tái-sinh kiếp sau trong cõi thiện dục-giới là cõi người và cõi trời dục-giới, nhiều
nhất 7 kiếp nữa mà thôi. Kiếp thứ 7 ấy, bậc Thánh Nhập-lưu chắc chắn sẽ trở thành bậc Thánh A-ra-hán, rồi sẽ tịch diệt Niết-bàn, giải thoát khổ tử sinh luân-hồi trong tam-giới.
- Sau khi bậc Thánh Nhất-lai chết, đại-thiện-nghiệp trong đại-thiện-tâm cho quả tái-sinh kiếp sau trong cõi người hoặc cõi trời dục-giới chỉ 1 kiếp nữa mà thôi. Trong kiếp ấy, bậc Thánh Nhất-lai chắc chắn sẽ trở thành bậc Thánh A-ra-hán, rồi sẽ tịch diệt Niết-bàn, giải thoát khổ tử sinh luân-hồi trong tam-giới.
- Sau khi bậc Thánh Bất-lai chết, không tái-sinh trở lại cõi dục-giới, chỉ có sắc-giới thiện-nghiệp trong bậc thiền sắc-giới thiện-tâm nào cho quả tái-sinh kiếp sau hóa-sinh trên tầng trời sắc-giới phạm-thiên tương xứng với bậc thiền sắc-giới quả-tâm ấy. Vị phạm-thiên Thánh Bất-lai ấy chắc chắn sẽ trở thành bậc Thánh A-ra-hán, rồi sẽ tịch diệt Niết-bàn trên tầng trời sắc-giới phạm- thiên ấy, giải thoát khổ tử sinh luân-hồi trong tam-giới.
- Bậc Thánh A-ra-hán ngay kiếp hiện-tại đến khi hết tuổi thọ đồng thời tịch diệt Niết-bàn, giải thoát khổ tử sinh luân-hồi trong tam-giới.
Như vậy, pháp-hành thiền-định và pháp-hành thiền- tuệ là 2 pháp-hành có những điểm khác biệt nhau tìm thấy được bấy nhiêu! Chắc chắn còn có điểm khác nữa.
Tuy nhiên, * hành-giả nào trước thực-hành pháp- hành thiền-định, có khả năng chứng đắc bậc thiền sắc- giới thiện-tâm nào, sau hành-giả ấy sử dụng chi-thiền lạc hoặc tâm-thiền làm đối-tượng thiền-tuệ danh-pháp, rồi thực-hành pháp-hành thiền-tuệ dẫn đến chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, chứng đắc 4 Thánh-đạo, 4 Thánh- quả và Niết-bàn, trở thành bậc Thánh-nhân.
Hoặc * hành-giả nào không thực-hành pháp-hành thiền-định, hành-giả ấy thực-hành pháp-hành thiền-tuệ dẫn đến chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, chứng đắc 4 Thánh-đạo, 4 Thánh-quả và Niết-bàn, trở thành bậc Thánh-nhân.
Trong 2 hành-giả ấy, khi Thánh-đạo-tâm nào phát sinh, ắt có bát-chánh-đạo hợp đủ 8 chánh đồng sinh với Thánh-đạo-tâm ấy.
Bát-chánh-đạo có đủ 8 chánh là chánh-kiến, chánh- tư-duy, chánh-ngữ, chánh-nghiệp, chánh-mạng, chánh- tinh-tấn, chánh-niệm, chánh-định đồng sinh với 4 Thánh-đạo-tâm, 4 Thánh-quả-tâm có đối-tượng Niết-bàn siêu-tam-giới. Trong 8 chánh ấy, chánh-kiến thuộc về thiền-tuệ, và chánh-định thuộc về thiền-định cùng có chung đối-tượng Niết-bàn siêu-tam-giới.
Như vậy, nếu trường hợp bát-chánh-đạo có đủ 8 chánh đồng sinh với 4 Thánh-đạo-tâm, 4 Thánh-quả-tâm có đối-tượng Niết-bàn siêu-tam-giới, thì thiền-tuệ đó là chánh-kiến và thiền-định đó là chánh-định có đối-tượng giống nhau là Niết-bàn siêu-tam-giới

Mốc I : Hoàn cảnh trước khi Phật ra đời
Mốc II : Sự kiện Phật đản sanh
Mốc III: Giai đoạn tuổi thơ của Bồ tát Tất Đạt Đa
Mốc IV : Giai đoạn trưởng thành - xuất gia
Mốc V : Tầm đạo
Mốc VI : Thành đạo
Mốc VII: Những vị đệ tử đầu tiên
Mốc VIII : Tăng đoàn lớn mạnh
Mốc IX: Mười ba năm cuối cuộc đời Đức Phật
Mốc X : Đức Phật nhập niết bàn