Nikaya Tâm HọcCon đường tuệ giác
Nikaya Tâm HọcKinh điển, nghiên cứu và các khu vực chính
Kinh sáchKinh điển, sách và tài liệu học Phật
Danh mục đầy đủ
Thời Phật Tại ThếBản đồ, Cuộc đời Đức Phật và Album ảnh
Bỏ qua menu, tới nội dung chính
Nikaya Tâm HọcKinh điển • Đức Phật • Nghiên cứu
Sabbaka (Sappaka) Thera
Nhân vật Phật học

Sabbaka (Sappaka) Thera

Một vị A-la-hán. Ngài xuất thân từ một gia đình Bà-la-môn ở Sāvatthi, và sau khi nghe Đức Phật thuyết giảng, ngài đã xuất gia. Ngài sống tại tịnh xá Lonagiri (vl. Lena vihāra), bên bờ sông Ajakaranī , hành thiền, và sau một thời gian, ngài đã đắc quả A-la-hán. Ngài đến Sāvatthi để đảnh lễ Đức Phật, và ở lại đó vài ngày, được bà con họ hàng tiếp đãi. Khi ngài...

248 lượt xem #1077 mã dữ liệu Nam giới tính 15.11.2025 ngày khởi tạo 13.09.2026 cập nhật
Khám phá theo quan hệ: Bài viết Nhân vật Địa danh Sitemap tri thức
THÔNG TIN KHÁI QUÁT

Dữ liệu nhân vật

Xem kinh liên quan ↓
Giới tính
Nam
Mã dữ liệu
#1077
Khởi tạo
15/11/2025
Cập nhật gần nhất
17/11/2025 13:37
Lượt xem
248
Trạng thái nội dung
Có nội dung chính
Tóm lược

Một vị A-la-hán. Ngài xuất thân từ một gia đình Bà-la-môn ở Sāvatthi, và sau khi nghe Đức Phật thuyết giảng, ngài đã xuất gia. Ngài sống tại tịnh xá Lonagiri (vl. Lena vihāra), bên bờ sông Ajakaranī , hành thiền, và sau một thời gian, ngài đã đắc quả A-la-hán. Ngài đến Sāvatthi để đảnh lễ Đức Phật, và ở lại đó vài ngày, được bà con họ hàng tiếp đãi. Khi ngài muốn trở về nhà, họ nài nỉ ngài ở lại để được họ chu cấp, nhưng ngài từ chối vì ngài thích sống ẩn dật. Những bài kệ ngài thuyết giảng trong dịp này được ghi lại trong Thag.vs.307 10.

  • Sabbaka (Sappaka)

An arahant Thera. He belonged to a brahmin family of Sāvatthi, and, after hearing the Buddha preach, entered the Order. He lived in Lonagiri vihāra (v.l. Lena vihāra), on the banks of the Ajakaranī, practising meditation, and, in due course, won arahantship. He visited Sāvatthi to worship the Buddha, and stayed there a few days, entertained by his kinsfolk. When he wished to return to his dwelling they begged him to stay and be supported by them, but he refused because he loved retirement. The verses he spoke on this occasion are given in Thag.vs.307 10.

Thirty one kappas ago he was a Nāga king of great power who, having seen the Pacceka Buddha Sambhavaka, wrapt in samādhi, under the open sky, remained beside him holding a lotus over his head (ThagA.i.399f).

He is probably to be identified with Padumapūjaka of the Apadāna. Ap.i.279 f ; cf. Ap.ii.453f. (Padumudhāriya).

 

  • Sabbaka (Sappaka)

Một vị A-la-hán. Ngài xuất thân từ một gia đình Bà-la-môn ở Sāvatthi, và sau khi nghe Đức Phật thuyết giảng, ngài đã xuất gia. Ngài sống tại tịnh xá Lonagiri (vl. Lena vihāra), bên bờ sông Ajakaranī , hành thiền, và sau một thời gian, ngài đã đắc quả A-la-hán. Ngài đến Sāvatthi để đảnh lễ Đức Phật, và ở lại đó vài ngày, được bà con họ hàng tiếp đãi. Khi ngài muốn trở về nhà, họ nài nỉ ngài ở lại để được họ chu cấp, nhưng ngài từ chối vì ngài thích sống ẩn dật. Những bài kệ ngài thuyết giảng trong dịp này được ghi lại trong Thag.vs.307 10.

Ba mươi mốt kiếp trước, ngài là một vị vua Nāga có sức mạnh to lớn, sau khi nhìn thấy Đức Phật Pacceka Sambhavaka nhập định dưới bầu trời rộng mở, đã đứng bên cạnh ngài, tay cầm một bông sen trên đầu (ThagA.i.399f).

Có lẽ ông được xác định là Padumapūjaka của Apadāna. Ap.i.279 f; cf. Ap.ii.453f. (Padumudhāriya).

Wiki Tâm Học -Danh sách : Trưởng lão tăng kệ - Phần 196 - Chương 4 : (CXCVI) Sabbaka (Thera. 35)


 

 

(CXCVI) Sabbaka (Thera. 35)


Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Sàvatthi trong một gia đình Bà-la-môn, ngài nghe Thế Tôn thuyết pháp, khởi lòng tin và xuất gia. Lựa chọn một đề tài để thiền quán, ngài đi đến tinh xá Lonagiri, trên bờ sông Ajakaranì và tại đấy, sau một thời gian chứng quả A-la-hán. Ði đến Sàvatthi để yết kiến bậc Ðạo Sư, ngài ở lại một thời gian và được bà con đón tiếp. Sau khi khuyên các bà con quy y và giữ giới, ngài muốn trở về chỗ cũ. Các bà con yêu cầu ngài ở lại để được bà con cúng dường, nhưng ngài nói cho họ rõ vì sao ngài đến đây, và sự ưa thích đời sống độc cư. Ngài nói lên bài kệ tán thán trú xứ của ngài:
306. Khi ta thấy con cò,
Trương đôi cánh trắng tinh,
Sợ hãi đám mây đen,
Tìm chỗ kín ẩn nấp;
Khi ấy chính con sông,
Ajakaranì,
Ðem hoan hỷ cho ta.
307. Khi ta thấy con cò,
Trương đôi cánh trắng sạch,
Sợ hãi đám mây đen,
Tìm hang để ẩn nấp,
Nhưng tìm không có thấy.
Khi ấy chính con sông,
Ajakaranì,
Ðem hoan hỷ cho ta.
308. Ai lại không thích thú,
Khi thấy ở tại đây,
Trên cả hai dãy bờ,
Có hàng cây Jambu,
Làm chói sáng bờ sông,
Sau lưng cái hang lớn.
309. Hãy nghe những con nhái,
Khéo thoát những đàn rắn,
Kêu lên niềm hoan hỷ,
Với tiếng kêu nhẹ nhàng:
Nay không phải là thời,
Buông thả với suối rừng,
Thật an ổn con sông
Ajakaranì,
Thoải mái và yên lành,
Thật an vui thích thú!
Rồi các bà con thuận để ngài đi. Vì ngài thích sống nhàn tịnh, đây trở thành lời tuyên bố chánh trí của ngài.

.

A HÀM

Xuất hiện trong các kinh A Hàm

Xem dạng thẻ →
Chưa có dữ liệu A Hàm liên kết.

Chưa có dữ liệu bản đồ cho nhân vật này.
KINH ĐIỂN Xuất hiện trong Nikaya

Xuất hiện ở nikaya khác ( tiểu bộ kinh )

TẠP A HÀM

Các bài kinh A Hàm có liên hệ với nhân vật





Đánh giá nội dungBài này hữu ích với bạn?/5 · 0 đánh giá
\n\n
ĐIỀU HƯỚNG TỪ DATABASE

Mạng liên kết nội dung

Liên kết bên dưới được dựng phía server từ các quan hệ đang có trong cơ sở dữ liệu Nikaya Tâm Học.

2liên kết

Kinh & bài có nhân vật

1 mục

Các bài/Kinh liên kết trực tiếp với nhân vật này.

Nhóm nhân vật

1 mục

Mở danh sách nhân vật cùng nhóm hiện hữu.