Layout Options

Header Options

  • Choose Color Scheme

Sidebar Options

  • Choose Color Scheme

Main Content Options

  • Page Section Tabs
  • Light Color Schemes
Tìm hiểu và học kinh Trường Bộ Nikaya- Thiện Nhựt Huỳnh Hữu Hồng
Tìm hiểu và học kinh Trường Bộ Nikaya- Thiện Nhựt Huỳnh Hữu Hồng
Tìm kiếm nhanh
student dp

ID:407

Các tên gọi khác

Tìm hiểu và học kinh Trường Bộ Nikaya- Thiện Nhựt Huỳnh Hữu Hồng

General Information

Danh sách : Liên quan
:
Tìm hiểu và học kinh Trường Bộ Nikaya- Thiện Nhựt Huỳnh Hữu Hồng

 

 

BuddhaSasana
Home Page

Vietnamese,
with Unicode Times font


 

HỌC KINH PHẬT (I)

TRƯỜNG-BỘ KINH

 

Thiện Nhựt Huỳnh Hữu Hồng

 

Tìm Hiểu và Học Tập
2006

 


MỤC LỤC

 


Vài lời xin thưa trước.
Tam tạng kinh điển
Về Trường Bộ Kinh

 


Stt

Trường Bộ

Ý chánh

 I. Phẩm Giới-Uẩn 
01Kinh Phạm Võng
(Brahmajàla Sutta)
Lưới Phạm-võng bao trùm 62 kiến-chấp
02Kinh Sa-môn quả
(Sàmanna-Phala Sutta)
Các lợi-ích thiết-thực của Quả-vi
Sa-môn
03Kinh A-ma-trú
(Ambbattha Sutta)
Chớ hãnh-diện về dòng-họ và giai-cấp
04Kinh Chủng Ðức
(Sonadanda Sutta)
Thế nào mới xứng danh là Bà-la-môn
05Kinh Cứu-la-đàn-đầu
(Kutadanta Sutta)
Cách tế-lễ
được nhiều phước-đức.
06Kinh Ma-ha-li (Mahàli
Sutta)
Thắc-mắc về Thiên-âm và về mạng-căn.
07Kinh Xa-li-da (Jàliya
Sutta)
 
08Kinh Ca-diếp Sư tử
hống (Kassapa-Sihanàda Sutta)
Thiếu-sót của việc tu Phạm-chí khổ-hạnh
quá ép-xác
09Kinh Bố-sá-ba-lâu
(Potthapàda Sutta)
Cách diệt-tận các tư-tưởng.
10Kinh Tu-ba (Subha
Sutta)
Ba Thánh-uẩn: Giới,
Định, Huệ.
11Kinh Kiên-cố
(Kevaddha Sutta)
Ba loại Thần-thông, thắc-mắc về tứ-đại.
12Kinh Lô-già (Lohicca
Sutta)
Phá tà-kiến đừng
nói
pháp cho kẻ khác’.
13Kinh Tam Minh
(Tevijja Sutta)
Con đường
thẳng-tắp
đi đến cõi Trời Phạm.
 
II.
Đại phẩm
 
14Kinh Ðại Bổn
(Mahà-Padàna Sutta)
Huyền-sử về
đức Phật Tỳ-bà-thi (Vipassi)
15Kinh Ðại Duyên
(Mahà-Nidàna Sutta)
Pháp Duyên-Khởi
16Kinh Ðại Bát-niết-bàn
(Mahà-Parinibbàna Sutta)
Các ngày cuối-cùng của Phật Thích-ca
17Kinh Ðại Thiện Kiến
Vương (Mahà-Sudassana Sutta)
Tiền-thân
đức Phật l
à vua Đại-Thiện-Kiến.
18Kinh Xa-ni-sa
(Janavasabha Sutta)
Nhờ tu theo Pháp Phật được tái-sanh cõi
Trời
19Kinh Ðại Ðiên-tôn
(Mahà-Govinda Sutta)
So-sánh lối tu lên Trời và pháp-tu
giải-thoát
20Kinh Ðại Hội
(Mahà-Samaya Sutta)
Tên chư Thiên
đến hội để chiêm-ngưỡng Phật
21Kinh Ðế-thích Sơ Vấn
(Sakka-Tanha Sutta)
Vua Trời hỏi Phật 6 câu về sân
giải-thoát.
22Kinh Ðại Niệm Xứ
(Mahà-Satipatthàna Sutta)
Bốn phép quán-niệm: thân, thọ, tâm,
pháp.
23Kinh Tệ Túc (Pàyàsi
Sutta)
Phá tà-kiến ”chẳng có Luân-hồi,
quả-báo”.
 
III. Phẩm Ba-lê-tử
 
24Kinh Ba-lê (Pàtika
Sutta)
Thần-thông Khởi-nguyên của
thế-giới
25Kinh Ưu-đàm-bà-la
Sư Tử Hống (Udumbarika-Sihanàdà Sutta)
Tà-giáo chẳng biết nghe lời giảng-dạy
như sư-tử rống của đức Phật.
26Kinh Chuyển Luân
Thánh Vương Sư Tử Hống (Cakkavatti Sihanàda Sutta)
Vua Chuyển-Luân là bực tu-hành
Thánh-vương, vì trị nước theo Chánh-Pháp.
27Kinh Khởi Thế Nhân
Bổn (Agganana Sutta)
Thế-giới: từ sơ-khai
đến lúc thành bốn giai-cấp.
28Kinh Tự Hoan Hỷ
(Sampasàdaniya – Suttanta)
Lời ngưỡng-mộ Thế-Tôn, bực giác-ngộ vĩ-đại
nhứt
29Kinh Thanh Tịnh
(Pàsàdika Sutta)
Khác phái loã-thể, Chánh Pháp
đưa tới thanh-tịnh.
30Kinh Tướng (Lakkhana
Sutta)
32 tướng
đại-trượng-phu
do công-đức
tu đời trước
31Kinh Giáo Thọ
Thi-ca-la-việt (Singàlovàda Sutta)
Lễ sáu phương và các bổn-phận ở nhà,
xã-hội
32Kinh A-sá-nang-chi
(Atànàtiya Suttanta)
Bản Hộ-Kinh giúp hộ-vệ các Tỳ-kheo.
33Kinh Phúng Tụng
(Sangiti Sutta)
Xếp Phật-pháp ra 10 loại từ 1 pháp
tới 10 pháp
34Kinh Thập Thượng
(Dasuttara Sutta)
100 pháp xếp ra 10 loại với
tiêu-chuẩn Thập Thượng.

 


 

Vài lời xin thưa trước

 

1) Kinh Phật vừa cao-siêu vừa phong-phú, có lẽ
để cả đời cũng chưa đọc hết,
hiểu thấu, và thực-hành theo cho thật
đầy-đủ. Muốn có được một cách
nhìn tổng-quát, chính-xác
rõ-ràng, cần phải có một bản
tóm-lược
vừa gọn, vừa trung-thực. Những trang sau
đây là một cố-gắng nhỏ trong việc
đi tìm một lối
đi nhẹ-nhàng mà chắc-chắn
theo
con đường giác-ngộ và giải-thoát
đấng Từ-phụ đã khai-quang.

2) Kinh Phật ghi lời vàng của Thế-Tôn, chẳng nên vì bất cứ lý-do gì
sửa-đổi lời văn, thêm-bớt ý-tưởng
khác vào,
cho ngắn-gọn hơn; làm như thế là tỏ ra sự bất-kính
đối với bậc Đại-Giác. Vì thế, đừng bao giờ
tạm vừa-ý với các trang sau đây m
à chẳng tìm dịp thuận-tiện
đọc kỹ lại
các bản Kinh trong Đại-Tạng.

3) Nếu các trang sau đây được xem như
những
bản nháp tạm dùng trong việc tìm hiểu và học tập
Kinh Phật,
thì đó thật là một
hân-hạnh rất lớn-lao cho người viết.

 

Thiện Nhựt xin lưu-ý qúi vị vài điểm
sau đây
:

– Tiểu-mục ”Trong trường-hợp nào, bản Kinh
được thuyết-giảng?”
là phần
tóm-tắt đại-ý của bản Kinh;

– Tiểu-mục ”Nội-dung của bản Kinh” là một cố-gắng tìm
dàn-bài,
với các ý quan-trọng, của bản Kinh;

– Tiểu-mục ”Trích đoạn”
chép nguyên-văn lời Phật,
đồng thời ghi rõ thêm các ý
quan-trọng trong Kinh;

– Tiểu-mục ”Học Kinh nầy, chú-ý điểm
n
ào?”
là ý-kiến thô-thiển của Thiện-Nhựt mong-muốn
người học Kinh chẳng bỏ qua phần lợi-lạc do bản Kinh
đưa tới.

 

4) Muốn dùng tập sách HỌC KINH PHẬT nầy cho có hiệu-quả, xin,
theo thứ-tự, làm các việc sau đây:

 

– Tìm đọc trước Nguyên-tác bản
Kinh
ghi trong Đại-Tạng;

 

– Đọc lướt qua phần Tóm-lược về bản Kinh trong tập sách
nầy, để nắm vững ý-chánh các
lời giảng-dạy của đức Phật trong Kinh;

 

– Gặp các danh-từ chuyên-môn về Phật-học chưa hiểu rõ, nên tra
các Từ-điển. Thiện Nhựt
soạn một cuốn Tiểu Từ-điển Phật-học
thông-dụng
(ấn-bản 2005, Montreal) ngắn gọn,
đủ để tạm hiểu các chữ khó;

 

– Đọc lại, lần thứ hai, phần Tóm-lược về bản Kinh trong
tập sách nầy, để đi sâu vào các
điểm quan-trọng
về lời dạy của Thế-Tôn. Phần Tóm lược nầy
đã được
soạn theo cách tiệm-tiến
, đi từ
ý-chánh quan-trọng rồi mới
đến các
chi-tiết phụ khác, nhằm khai-triển ý-chánh của bản
Kinh. Tiểu-mục Trích-đoạn ghi
lại đoạn văn nào trong nguyên-tác
cần phải đọc kỹ,
để nếm hương-vị của bản Kinh.

Thiện Nhựt kính-cẩn cầu mong các bực cao-minh chỉ-dạy
thêm.
Montreal, 2006-03-27
Thiện Nhựt kính trình.

 

-ooOoo-

 

TRƯỜNG-BỘ KINH

 

001. TAM TẠNG KINH-ĐIỂN.

 

Giáo-Pháp của đức Phật được kết-tập
lại th
ành Tam Tạng Kinh-Điển
(Tipitaka) (tam tạng = ba cái giỏ
đựng Kinh-sách), gồm có: (1)
Luật-tạng, (2) Kinh-tạng, (3) Luận-tạng.

 

Luật-tạng ghi lại các giới-cấm của
đức Phật dạy các Tỳ-kheo phải tuân theo.
Kinh-tạng gồm rất
nhiều bản Kinh do Phật thuyết-giảng về
đường lối tu-h
ành. Luận-tạng bàn rộng thêm các vấn-đề
được nói đến trong Kinh-tạng.

 

002. TRƯỜNG-BỘ KINH.

 

Đại-Tạng Việt-Nam, hệ Pali, riêng phần Kinh-kệ, gồm có năm
Bộ-kinh lớn
:

1. Trường-Bộ Kinh (Digha Nikaya),

2. Trung-Bộ Kinh (Majjhima Nikaya),

3. Tương-Ưng-Bộ Kinh (Samyutta Nikaya)

4. Tăng-Chi-Bộ Kinh (Anguttara
Nikaya
),

5. Tiểu-Bộ Kinh (Khuddaka Nikaya).

 

Trường-Bộ Kinh là bộ Kinh thứ nhứt trong Hệ Pali, Phật-Giáo
Nguyên-Thủy, được Viện Nghiên-Cứu
Phật-Học Việt-Nam ấn hành năm 1991,
do Hoà-thượng Thích Minh-Châu soạn bản Việt-văn.

 

Trường-Bộ Kinh phân ra làm 3 Phẩm (Vagga), gồm có 34 bản
Kinh; vì nội-dung mỗi bản Kinh khá dài so với các bản Kinh Phật khác,
nên được kết-tập lại dưới nhan-đề
Trường-Bộ Kinh.

 

1. Phẩm Giới-Uẩn (Silakkhandha Vagga Pali): 13 bản Kinh giảng
về các cấp giới-luật: tiểu-giới dành cho mọi người; trung-giới
đại-giới dành cho bực tu-hành cao.

2. Đại-Phẩm (Mahà Vagga Pali):
10 bản Kinh quan-trọng nhứt về lịch-sử (như Kinh Bát-Đại
Niết-b
àn,
Kinh Đại Bổn) và về giáo-lý (như Kinh Đại
Duyên
, Kinh Tứ niệm xứ).

3. Phẩm Ba-lê-tử (Pathika Vagga Pali) (Patikaputta,
Ba-lê-tử
là tên một tu-sĩ ngoại-đạo):
11 bản Kinh b
àn về các vấn-đề khác
nhau như
vấn-đề vũ-trụ thành-hoại,
vấn-đề bổn-phận công-dân trong xã-hội,
vấn-đề tu khổ-hạnh của ngoại-đạo.

Sau đây, xin tóm-tắt nội-dung các
bản Kinh, thuộc Trường-Bộ Kinh, theo thứ-tự
được ghi trong ba Phẩm kể trên.

-ooOoo-

 

I. PHẨM GIỚI-UẨN

 

1. KINH PHẠM-VÕNG

 

003. TRONG TRƯỜNG-HỢP NÀO ĐỨC PHẬT
THUYẾT
KINH PHẠM-VÕNG?

 

Vào một thời kia, đức Phật và các
Tỳ-kheo đang đi trên
đường từ thành Vương-Xá
đến làng Nalanda, có hai du-sĩ
ngoại-đạo theo sau, thầy là Suppiya
và trò là Brahmadatta, đang cãi
nhau: thầy thì hủy-báng Phật, Pháp, Tăng; còn
trò thì hết lòng tán-thán ngôi Tam Bảo.

Nhơn thấy các Tỳ-kheo bàn-luận về việc nầy,
đức Phật khuyên các Tỳ-kheo khi nghe
ai hủy-báng Phật, Pháp, Tăng, chớ
nên tức-tối, phiền-muộn, mà có hại cho tâm mình. Còn khi nghe lời
tán-thán ngôi Tam Bảo, cũng chớ có quá hoan-hỉ, thích-thú, vì sẽ gây trở
ngại cho đường tu. Thái-độ đứng-đắn là
phải nói lên sự-thật cho họ biết: trong lời hủy-báng, vạch ra chỗ nào là
chẳng chính-xác; trong lời tán-thán, chỉ rõ
điểm n
ào đã thật-sự xảy ra.

Đức Phật lại bảo, phàm-phu khi tán-thán Phật, thường nói
đến các ”vấn-đề
không quan-trọng
, nhỏ-nhặt, chỉ thuộc về giới-luật”.
Còn các
bực biết tán-thán Như-Lai một cách chân-chánh thì mới nói
đến ”các pháp khác,
sâu-kín, khó chứng, tịch-tĩnh, mỹ-diệu, vượt ngoài tầm lý-luận suông,
chỉ những người trí mới nhận hiểu, chỉ có bực Như-Lai mới tự chứng-tri,
giác-ngộ và truyền-thuyết”.

 

Do đó, Phật thuyết-giảng Kinh
Phạm-Võng
để dạy về giới-luật, và các pháp cao-siêu
vượt thoát được sáu mươi hai
kiến-chấp
vốn là các tà-kiến đã lôi kéo con người vào vòng
sanh-tử khổ-đau của Luân-hồi.

 

004. NỘI-DUNG KINH PHẠM-VÕNG.

 

A. Ý chánh: PHẠM-VÕNG nghiã là: Phạm là cõi trời Phạm (Brahma);
Võng là lưới; phạm-võng là màn lưới ở cõi Trời Phạm bao
trùm cả vũ-trụ. Tựa như một mẻ lưới lớn quăng
xuống hồ bắt trọn hết các lo
ài cá tôm, Kinh Phạm-Võng nầy
bao trùm được hết tất cả 62 kiến-chấp;
chỉ có các bực ”Như-Lai đã giác-ngộ chẳng còn chấp-thủ,
(mới) được hoàn-toàn giải-thoát” (khỏi các tà-kiến
đó).

B. Phân đoạn: Nội dung bản
Kinh rất dài, có thể chia ra ba phần: (1) các giới-luật; (2) các
kiến-chấp; (3) nguyên-nhân vướng vào các kiến-chấp
đó và cách vượt thoát.

1. Các giới-luật là các điều
răn-cấm
, gồm có ba cấp: Tiểu-giới dành cho kẻ tu-hành
thấp; Trung-giới Đại-giới dành cho bực tu-hành cao.

2.- Các kiến-chấp là các tà-kiến khiến nghiệp-lực lôi-kéo kẻ
dính mắc phải trôi-lăn mãi trong cõi
Luân-hồi. Có tất cả 62 kiến-chấp: 18 kiến-chấp liên-quan về
quá-khứ
và 44 kiến-chấp liên-quan về tương-lai.

 

3.- Nguyên-nhân vướng vào các kiến-chấp là sự chấp-thủ vào các
kinh-nghiệm do sự xúc-cảm của các căn gây nên
các cảm-thọ, rồi từ thọ đến
ái, từ ái đến thủ (tức
là sự chấp-thủ). Nếu biết như-thật các cảm-thọ: sự tập-khởi, sự
diệt-trừ, vị ngọt, sự nguy-hiểm và sự xuất-ly khỏi chúng, sẽ vượt ra
ngoài các kiến-chấp đó.

 

005. BA CẤP GIỚI-LUẬT.

 

Tiểu giới: chẳng sát-sanh, chẳng trộm-cắp, chẳng tà-hạnh,
chẳng nói dối, chẳng nói hai lưỡi, chẳng nói
độc-ác, chẳng nói
điều vô-nghiã, chẳng
ăn phi-thời, chẳng xem múa hát,
chẳng nằm giường cao, chẳng nhận vàng bạc, chẳng nhận nô-tỳ, chẳng nhận
gia-súc, ruộng vườn, chẳng làm môi-giới, chẳng hối-lộ, chẳng lừa
đảo.

 

Trung giới: chẳng làm hại các hột giống, chẳng cất chứa thức
ăn và
đồ d
ùng, chẳng dự các trò du-hí, các trò giải-trí, chẳng dùng chăn
len
, nệm bông,

chẳng dùng đồ trang-sức, chẳng
bàn phiếm về thời-sự, chẳng biện-luận, tranh-chấp, chẳng
đưa tin-tức hoặc nói lời siểm-nịnh để cầu
lợi.

 

Đại giới: tránh xa các tà-hạnh như xem tướng,
đoán mộng, dùng bùa-chú, tránh xa
các tà-mạng như tiên-đoán thời-sự,
chiêm-tinh, thời-tiết, coi ngày giờ tốt xấu, dùng các ảo-thuật, chữa trị
bịnh, để nuôi mạng sống, mặc dầu
đã nhận của tín-thí.

Kinh nói: ”… đấy là những
vấn-đề không quan-trọng, nhỏ-nhặt,
chỉ thuộc giới-luật mà kẻ phàm-phu dùng để
tán-thán Như-Lai.”

 

006. SÁU MƯƠI HAI KIẾN-CHẤP.

 

Sáu mươi hai loại kiến-chấp bị bao-trùm cả trong màn lưới
Phạm-Võng,
gồm có:

– 18 kiến-chấp về quá-khứ,

 

– 44 kiến-chấp về tương-lai.

 

Mười tám kiến-chấp về quá-khứ có:

– 4 luận-chấp về Thường-trú-luận;

 

– 4 luận-chấp về Thường, Vô-thường-luận;

 

– 4 luận-chấp về Hữu-biên, Vô-biên-luận

 

– 4 luận-chấp về Ngụy-biện-luận;

 

– 2 luận-chấp về Vô-nhân-luận.

 

Bốn mươi bốn kiến-chấp về tương-lai có:

– 16 luận-chấp về Hữu-tưởng-luận;

 

– 8 luận-chấp về Vô-tưởng-luận;

 

– 8 luận-chấp về Phi-hữu tưởng phi-vô tưởng;

 

– 7 luận-chấp về Đoạn-diệt-luận;

 

– 5 luận-chấp về Hiện-tại Niết-bàn-luận.

 

007. MƯỜI TÁM KIẾN-CHẤP VỀ QUÁ-KHỨ.

 

Các kiến-chấp liên-quan đến quá-khứ:
gồm có 18 luận-chấp về quá-khứ do chủ-trương của các Sa-môn,
Bà-la-môn, nhờ nhập định mà nhớ lại
được đời, kiếp trước (một kiếp
có nhiều đời):

* 4 luận-chấp về Thường-trú-luận: cho rằng thế-giới
bản-ngã
chúng-sanh đều thường-còn
mãi mãi:

– trường-hợp 1: vì nhớ được nhiều đời
trước;

 

– trường-hợp 2: vì nhớ được nhiều kiếp
trước;

 

– trường-hợp 3: vì nhớ được nhiều thành-kiếp,
và hoại-kiếp trước (thành, hoại-kiếp có nhiều kiếp);

– trường-hợp 4: vì dựa theo óc suy-luận.

* 4 luận-chấp về Thường-trú-luận Vô-thường-luận: cho
rằng thế-giới và bản-ngã vừa thường-trú với một hạng chúng-sanh,
vừa vô-thường với các hạng chúng-sanh khác:

– trường-hợp 1: từ cõi Quang-âm thiên có vị hữu-tình sanh sang cung
Phạm-thiên trước nhứt, tự cho mình là chúa-tể, coi các chúng-sanh khác,
sanh sau, là con cháu của mình. Vị
Đại-Phạm-Thi
ên đó có mạng sống lâu dài,
sắc-tướng đẹp-đẽ, uy-quyền rộng lớn,
nên được xem là thường-hằng; còn các
chúng-sanh khác thì vô-thường, phải chịu sự biến-dịch.

– trường-hợp 2: từ cõi Trời Phạm, có hạng chư Thiên vì mê-say
dục-lạc, nên bị ô-nhiễm, thác-sanh xuống cõi nhơn-gian. Nhờ biết
tu-hành, nhập-định, nhớ lại
đời trước, nên chủ trương rằng, chư
Thiên nào không say-mê dục-lạc, không bị thác-sanh thì thường-hằng; còn
kẻ bị ô-nhiễm thì vô-thường.

– trường-hợp 3: cũng từ cõi Trời Phạm, có hạng chư Thiên tâm-trí bị
ô-nhiễm vì đố-kỵ, nên thác-sanh
xuống cõi nhơn-gian. Nhờ biết tu-hành, nhập-định,
nhớ lại đời trước, nên chủ trương
rằng, chư Thiên nào tâm-trí chẳng bị đố-kỵ
ô-nhiễm
, chẳng thác-sanh, nên thường-hằng; còn ai bị ô-nhiễm
tâm-trí thì vô-thường.

– trường-hợp 4: các nhà suy-luận nhờ sự thẩm-sát, cho rằng cái gì
thuộc về sắc-thân thì chẳng kiên-cố, nên vô-thường; còn những gì thuộc
về tâm-thức , về bản-ngã thì thường-hằng.

* 4 luận-chấp về Thế-giới hữu-biên, hay vô-biên: (hữu-biên
=
có giới-hạn; vô-biên = chẳng có giới-hạn)

– trường-hợp 1: cho rằng khi nhập-định
th
ì thấy thế-giới nầy có con
đường chạy v
òng quanh, cho nên đó là
hữu-biên;

– trường-hợp 2: cho rằng khi nhập-định
lại thấy
thế-giới nầy chẳng có giới-hạn, cho nên
vô-biên;

– trường-hợp 3: cho rằng khi nhập-định
th
ì thấy thế-giới nầy vô-biên theo chiều ngang, và có
giới-hạn ở bên trên và bên dưới, vì vậy cho nên vừa hữu-biên, vừa
vô-biên.

– trường-hợp 4: dùng lý-luận, có vị cho rằng thế-giới nầy
chẳng phải hữu-biên, chẳng phải vô-biên,

chẳng phải vừa hữu-biên, vừa vô-biên. Thế-giới nầy, thật ra,
chẳng phải hữu-biên, cũng chẳng phải vô-biên.

* 4 luận-chấp về Ngụy-biện (”trườn uốn như con lươn”): do
chẳng biết như-thật, nên dùng lời ngụy-biện lẫn tránh câu trả lời
dứt-khoát, như:”Tôi không nói là như vậy. Tôi không nói là khác như
thế. Tôi không nói là không phải như thế. Tôi không nói là không không
phải như thế.”
Bốn trường-hợp ngụy-biện là:

– trường-hợp 1: vì sợ sai-lầm;

– trường-hợp 2: vì sợ bị chấp-thủ;

– trường-hợp 3: vì sợ bị thử-thách;

– trường-hợp 4: vì ngu-si

* 2 luận-chấp về Vô-nhân-luận: cho rằng thế-giới nầy và
bản-ngã chẳng phải do nhân-duyên mà sanh ra (vô-nhân =
chẳng vì nhân-duyên gì, tự-nhiên sanh ra):

– trường-hợp 1: có vị lấy lý-do là vì trước kia tôi chẳng có; nay tôi
lại đang có; từ trạng-thái không có,
nay tôi trở thành một loài hữu-tình, nên vô-nhân.

– trường-hợp 2: các nhà biện-luận do sự biện-bác, tuyên-bố,
Bản ngã và Thế-giới do vô-nhân sanh.

 

008. BỐN MƯƠI BỐN KIẾN-CHẤP VỀ TƯƠNG-LAI.

 

Các kiến-chấp liên quan đến tương-lai
gồm có 44 luận-chấp sai-lầm về tương-lai, được
phân ra:

– 16 luận-chấp Hữu-tưởng-luận;

 

– 8 luận-chấp về Vô-tưởng-luận;

 

– 8 luận-chấp về Phi-hữu-tưởng, phi-vô-tưởng luận

 

– 7 luận-chấp về Đoạn-diệt-luận;

– 5 luận-chấp về Hiện-tại Niết-bàn-luận;

 

Các kiến-chấp nầy là chủ-trương sai-lạc về tương-lai do các
Sa-môn, Bà-la-môn dựa vào các cảm-thọ được
kinh-nghiệm
qua sáu căn khi tiếp-xúc
với sáu trần
, rồi vì tham-ái mà sanh ra chấp-thủ.

 

009. MƯỜI SÁU LUẬN-CHẤP VỀ HỮU-TƯỞNG.

 

16 luận-chấp về Hữu-tưởng-luận chủ-trương, sau khi chết,
bản-ngã con người còn có tưởng:

 

– bản-ngã có sắc, chẳng bịnh, sau khi chết còn có tưởng;

– bản-ngã chẳng có sắc, …;

– bản-ngã có sắc, cũng chẳng có sắc, …;

– bản-ngã cũng chẳng có sắc, cũng chẳng chẳng có sắc, …;

– bản-ngã là hữu-biên, …;

– bản-ngã là vô-biên, …;

– bản-ngã là hữu-biên và vô-biên, …;

– bản-ngã cũng chẳng hữu-biên, cũng chẳng vô-biên, …;

– bản-ngã là nhứt-tưởng, …;

– bản-ngã là dị-tưởng, …;

– bản-ngã là thiểu-tưởng, …;

– bản-ngã là vô-lượng-tưởng, …;

– bản-ngã là thuần-lạc, …;

– bản-ngã là thuần-khổ, …;

– bản-ngã là khổ-lạc, …;

– bản-ngã chẳng khổ, chẳng lạc, chẳng bịnh, sau khi chết có tưởng.

 

010. TÁM LUẬN-CHẤP VỀ VÔ-TƯỞNG.

 

8 luận-chấp về Vô-tưởng-luận chủ-trương bản-ngã chẳng có tưởng
sau khi chết:

– bản-ngã có sắc, chẳng bịnh, sau khi chết chẳng có tưởng;

– bản-ngã chẳng có sắc, …;

– bản-ngã có sắc, cũng chẳng có sắc, …;

– bản-ngã chẳng có sắc, cũng chẳng chẳng có sắc, …;

– bản-ngã là hữu-biên, ….;

– bản-ngã là vô-biên, …;

– bản-ngã là hữu-biên và vô-biên, ….;

– bản-ngã là phi-hữu-biên và phi-vô-biên, chẳng bịnh, sau khi chết
chẳng có tưởng.

 

011. TÁM LUẬN-CHẤP VỀ PHI-HỮU, PHI-VÔ TƯỞNG.

 

8 luận-chấp về Phi-hữu-tưởng, phi-vô-tưởng luận chủ-trương sau
khi chết, bản-ngã chẳng phải có tưởng, cũng chẳng phải chẳng có tưởng:

– bản-ngã có sắc, chẳng bịnh, sau khi chết thì phi-hữu tưởng, phi-vô
tưởng;

– bản-ngã chẳng có sắc, …;

– bản-ngã có sắc và cũng chẳng có sắc, …;

– bản-ngã phi-hữu sắc và cũng phi-vô sắc, …;

– bản-ngã là hữu-biên, …;

– bản-ngã là vô-biên, …;

– bản-ngã là hữu-biên và vô-biên, …;

– bản là phi-hữu biên và phi-vô biên, chẳng bịnh, sau khi chết thì
phi-hữu tưởng, phi-vô tưởng.

 

012. BẢY LUẬN-CHẤP VỀ ĐOẠN-DIỆT.

 

7 luận-chấp về Đoạn-diệt-luận do các Sa-môn, Bà-la-môn
chủ trương rằng, bản-ngã của loài hữu-tình bị tiêu-hủy hoàn-toàn, chẳng
còn gì, sau khi chết.

– vì bản-ngã có sắc, do bốn đại hợp thành,
nên sau khi chết, thân hoại, chẳng còn gì nữa;

– vì còn có một bản-ngã khác, có sắc, có thiên-tánh, thuộc Dục-giới,
nhưng sau khi chết, thân hoại, bản-ngã nầy cũng bị tiêu-diệt hết.

– vì còn có bản ngã khác nữa, có sắc, có thiên-tánh, thuộc Sắc-giới,
nhưng sau khi chết, …;

– vì còn có bản-ngã khác nữa, chẳng có sắc, thuộc Không vô-biên-xứ,
nhưng sau khi chết, …;

– vì còn có bản-ngã khác nữa, … , thuộc Thức vô-biên-xứ, nhưng sau
khi chết, …;

– vì còn có bản-ngã khác nữa, … . thuộc Vô-sở-hữu-xứ, nhưng sau khi
chết, …;

– vì còn có bản-ngã khác nữa, …, thuộc Phi-tưởng, phi phi-tưởng-xứ,
nhưng sau khi chết, thân hoại, bản-ngã cũng bị tiêu-diệt hết.

 

013. NĂM LUẬN-CHẤP VỀ HIỆN-TẠI
NIẾT-BÀN.

 

5 luận-chấp về Hiện-tại Niết-bàn-luận do các Sa-môn, Bà-la-môn
chủ trương rằng, trong hiện-tại bản-ngã của chúng-sanh có thể
đạt tới cõi Niết-bàn tối-thượng:

– khi bản-ngã tận hưởng năm món dục-lạc
(thú vui vật-chất)
do các giác-quan mang
đến;

– khi bản-ngã ấy biết lià xa các dục-lạc,
đạt đến cõi Sơ-thiền;

– khi bản-ngã ấy … đạt đến cõi
Nhị-thiền;

– khi bản-ngã ấy … đạt đến cõi
Tam-thiền;

– khi bản-ngã ấy … đạt đến cõi
Tứ-thiền.

 

014. CÁC PHÁP SÂU-KÍN GIÚP VƯỢT THOÁT KHỎI SÁU MƯƠI HAI KIẾN-CHẤP.

 

62 luận-chấp ( 18 kiến-chấp về quá-khứ và 44
kiến-chấp
về tương-lai, vừa được
liệt-kệ tr
ên đây) do các
Sa-môn, Bà-la-môn dựa theo kinh-nghiệm từ nơi các cảm-thọ gây nên
bởi sự tiếp-xúc giữa sáu căn và sáu
trần, đưa đến sự tham-ái, rồi
từ tham-ái sanh ra chấp-thủ, khiến cho bị nghiệp-lực lôi-kéo vào
các nẻo tái-sanh của Luân-hồi. Họ”bị bao trùm bởi màn lưới Phạm-Võng
của sáu mươi hai luận-chấp nầy, dầu có nhảy vọt lên, cũng bị hạn-cuộc
bao phủ ở đấy”.

 

Như-Lai nhờ chẳng chấp-trước vào các kiến-chấp
đó, nội-tâm tịch-tĩnh, biết rõ
như-thật sự tập-khởi, sự diệt-trừ của các thọ, vị ngọt, những
nguy-hiểm và sự xuất-ly của chúng, nên được
ho
àn-toàn giải-thoát. Đó là
những ”pháp sâu-kín, khó thấy, khó chứng, tịch-tĩnh, mỹ-diệu, vượt
ngoài tầm của lý-luận suông, tế-nhị, chỉ những người có trí mới có thể
phận-biệt. Những pháp ấy, Như-Lai đã
tự chứng tri, giác-ngộ và truyền-thuyết. Và chính những pháp ấy, những
ai như-thật chân-chánh tán-thán Như-Lai mới nói
đến”.

 

015. HỌC-TẬP KINH PHẠM-VÕNG NHƯ THẾ NÀO?

 

1. HỌC KINH PHẬT chẳng phải là đọc
sơ qua để biết Kinh nói về việc g
ì như
đọc tiểu-thuyết, mà phải đọc-tụng
thật nhiều lần, tìm hiểu rõ nghiã cạn, nghiã sâu nghiã ẩn
của bản Kinh. Đọc và hiểu Kinh
còn chưa đủ, cần phải biết cách
áp-dụng
vào đời sống hằng ngày
để thực-tập. Kinh Phật chẳng
những dạy ta các kiến-thức, Kinh còn dạy ta lối sống
giải-thoát
nữa, do đó học Kinh mà
chẳng thực-hành thì thiếu-sót rất lớn, còn chưa biết hưởng lợi-lạc do
Kinh mang đến.

 

2. Kinh Phạm-Võng nêu hai điểm
quan-trọng:

 

a.- Các giới-luật trong Phật-học: tuy chia ra tiểu, trung
đại-giới, nhưng người học Kinh Phật phải nhớ
đó là các
điều răn-cấm để tránh phạm các tội-ác,
nên ráng giữ cho trọn, được giới nào
cũng đều tốt cả.

b.- Các kiến-chấp, tuy gồm 62 luận-chấp sai-lầm, nhưng
đều qui vào quá-khứ
tương-lai.
Chẳng cần học thuộc để nhớ
hết cả
, chỉ cần biết chúng đều do sự
chấp-thủ mà ra; hễ chẳng bám-níu vào và
đeo-đuổi theo các cảm-thọ nơi
giác-quan, thì có hi-vọng tránh được hết.

 

3. Tuy Kinh Phạm-Võng chẳng nói
đầy-đủ về
nghiệp-lực đã dẫn-dắt chúng-sanh vào các nẻo
Luân-hồi, người học Kinh Phật nên biết thêm rằng, gây ra nghiệp-lực là
do lời nói (khẩu-nghiệp), hành-động
(
thân-nghiệp) và ý-nghĩ (ý-nghiệp). Sáu mươi hai
kiến-chấp nói trong Kinh Phạm-Võng là những tà-kiến tạo
thành ý-nghiệp — quan-trọng nhứt trong ba loại nghiệp — có lẽ vì thế
mà trong Kinh-Tạng, Kinh Phạm-Võng đã được chọn làm bản
Kinh đầu-tiên của Trường-Bộ Kinh.

 

(TN – Mtl, 2006-02-11).

 

-ooOoo-

 

2. KINH SA-MÔN QUẢ

 

016. TRONG TRƯỜNG-HỢP NÀO ĐỨC PHẬT
THUYẾT
KINH SA-MÔN QUẢ?

 

Vào một đêm rằm sáng trăng,
vua A-xà-thế (Ajàtasattu) nước Ma-kiệt-đà
(Magadha) đến chiêm-bái
đức Phật, bấy giờ
đang ngụ tại vườn xoài của ông Kỳ-bà
(Jivaka) gần thành Vương-Xá. Sau khi thuật lại những lời của sáu
vị sư-trưởng ngoại-đạo đã chẳng làm
thoả-mãn câu hỏi của mình về lợi-ích của việc tu-hành, nhà Vua thỉnh
đức Phật chỉ rõ các kết-quả
thiết-thực trước mắt mà người tu-sĩ Phật-giáo có thể gặt hái
được.

 

Nhơn đó,
đức Phật đã giảng Kinh Sa-môn quả
trình-bày đường-lối tu-hành của
các Sa-môn cùng những thành-quả thâu-lượm
được ngay trong hiện-đời.

 

017. NỘI-DUNG KINH SA-MÔN QUẢ.

 

A. Ý chánh: Sa-môn Quả nghiã là: Sa-môn, phiên-âm chữ Pali
Sàmana, tu-sĩ Phật-giáo sống bằng cách khất-thực; Quả,
thành-quả, kết-quả tốt thu-lượm được sau
khi tu-tập đúng đường lối.

 

Trong Kinh Sa-môn quả, đức Phật sau khi nghe vua A-xà-thế
thuật lại sự chẳng vừa-ý trước các lời phô-trương về đường-lối tu-tập
chẳng có kết-quả rõ-ràng nào của sáu vị sư-trưởng ngoại-đạo, Ngài liền
trình-bày đầy-đủ chi-tiết về các giai-đoạn
tu-luyện của một vị Sa-môn
, cùng các lợi-ích thiết-thực, hiện có
trước mắt, ở mỗi giai-đoạn tu-chứng.

 

B. Phân-đoạn: Kinh Sa-Môn
Quả
rất dài, có thể chia ra làm ba phần:

1.- Sáu lý-thuyết của các giáo-phái ngoại-đạo
chẳng làm thoả-mãn được vua A-xà-thế:
(1) thuyết chẳng có nghiệp-báo, (2) thuyết luân-hồi tịnh-hoá;
(3) thuyết đoạn-diệt; (4)
thuyết bảy thân bất-hoại; (5) thuyết loã-thể với bốn cấm-giới;
(6) thuyết ngụy-biện.

2.- Các lợi-ích của quả Sa-môn
được đức Phật kể ra theo thứ-tự từ thấp đến cao: (1) được sự kính-nễ
,
(2) giữ được giới-đức đầy-đủ, (3)
chế-ngự được các căn, (4) luôn luôn
chánh-niệm tỉnh-giác, (4) sống biết đủ; (5)
dẹp bỏ năm triền-cái
, (6) lần-lượt chứng các cấp Thiền-định
(7) đắc các thần-thông
, (8) đạt được
lậu-tận-trí; (9) thân-tâm v
à trí-tuệ hoàn-toàn giải-thoát.

3.- Nghe xong, vua A-xà-thế tán-thán công-đức
của bản Kinh nầy
, xin quy-y với Phật, Pháp, Tăng
v
à xin sám-hối tội đã
giết vua-cha. Đức Phật cũng vui lòng
chứng-minh sự thú-tội ấy là đúng với
Chánh-pháp.

 

018. LỢI-ÍCH TRƯỚC MẮT CỦA HẠNH SA-MÔN: ĐƯỢC MỌI NGƯỜI KÍNH-NỄ.

 

Đức Phật đưa ra thí-dụ, như có người nô-bộc của Vua, với lòng mến
Đạo, xuất-gia
đi tu làm Sa-môn, người ấy ”sống
chế-ngự thân, lời nói, ý-nghĩ, bằng lòng với nhu-cầu tối-thiểu về
ăn mặc, hoan-hỉ sống an-tịnh”.

Đức Phật hỏi, nhà Vua có còn kêu vị
Sa-môn đó trở lại làm nô-bộc như
trước nữa chăng? Vua liền
đáp: ”Không ! Chẳng những thế,
”con còn kính-lễ, bảo-vệ che-chở người ấy
đúng theo luật-pháp.”

Đức Phật nói: Đó phải chăng là
kết-quả thiết-thực hiện-tại của hạnh Sa-môn?”

 

019. LỢI-ÍCH THIẾT-THỰC VỀ GIỚI-ĐỨC CỦA
HẠNH SA-MÔN.

 

Được Vua hỏi tiếp về các kết-quả thiết-thực khác, vi-diệu hơn nữa,
của hạnh Sa-môn, đức Phật lần-lượt kể ra,
theo thứ-tự từ thấp đến cao.

 

Trước hết, Ngài giảng thật tỉ-mỉ về Giới-Bổn Pàtimokkha
(phiên-âm theo tiếng Hán-Việt là Ba-la-đề-mộc-xoa),
gồm có: (1) tiểu-giới, (2) trung-giới và (3) đại-giới.
(Các giới nầy đã
được giảng rõ trong Kinh
Phạm-Võng
ở trước). Sa-môn giữ đúng
theo ba cấp giới-luật đó
, thì giới-hạnh
được đầy-đủ và thanh-tịnh, nên
”hưởng lạc-thọ, nội-tâm chẳng vẩn-đục.”

 

(Giới được giữ-gìn
đầy-đủ gọi là Cụ-túc-giới,
giới-luật mà các Tỳ-kheo [có 250 giới], Tỳ-kheo-ni [có 348 giới] phải
thọ-trì suốt đời).

 

020. LỢI-ÍCH THIẾT-THỰC CỦA HẠNH SA-MÔN: CHẾ-NGỰ CÁC CĂN.

 

Thế nào là chế-ngự (hay hộ-trì) các căn?
Đức Phật dạy: ”Khi mắt thấy sắc,
không nắm giữ tướng chung và tướng riêng. Những nguyên-nhân nào …
khiến tham-ái, ưu-bi, các bất-thiện-pháp khởi lên, Tỳ-kheo tự chế-ngự
nguyên-nhân ấy, thực-hành sự hộ-trì nhãn-căn.”

 

Khi tai nghe tiếng, ...; mũi ngửi hương, …; lưỡi nếm
vị, …; thân cảm xúc, …; ý nhận-thức pháp, …; vị ấy cũng chẳng nắm
giữ tướng chung và tướng riêng …

 

”Nhờ sự hộ-trì cao qúi các căn,
vị ấy hưởng lạc-thọ, nội-tâm chẳng vẩn-đục.”

 

021. LỢI-ÍCH THIẾT-THỰC CỦA HẠNH SA-MÔN: CHÁNH-NIỆM TỈNH-GIÁC VÀ SỐNG
BIẾT ĐỦ.

 

Thế nào là chánh-niệm tỉnh-giác? Đức
Phật dạy:
”Tỳ-kheo khi đi tới
, đi lui,
đều tỉnh-giác; … khi ăn, uống,
nhai, nuốt, đều tỉnh-giác; … khi đi,
đứng, ngồi, nằm, thức, nói, im-lặng,
đều tỉnh-giác …”

 

Thế nào là sống biết đủ?
Đức Phật dạy: ”Tỳ-kheo bằng lòng với tấm y
để che thân, với
đồ ăn khất-thực để nuôi bụng,
đi đến chỗ nào cũng mang theo …”

Vị ấy với giới-uẩn cao qúi, với sự hộ-trì các căn,
với chánh-niệm tỉnh-giác, với hạnh biết đủ
… n
ên hưởng được lạc-thọ,
nội-tâm chẳng vẩn-đục.

 

022. LỢI-ÍCH THIẾT-THỰC CỦA HẠNH SA-MÔN: XẢ-LY NĂM
TRIỀN-CÁI.

 

Thế nào là năm triền-cái? Năm
triền-cái là năm sự ngăn-che
trí-huệ
, gồm có: (1) tham, (2) sân, (3) thụy-miên (=mê ngủ),
hôn-trầm (=dã-dượi), (4) trạo-cử, (=vụt-chạc), hối-tiếc, (5) nghi.

Về cách dẹp bỏ năm triền-cái,
đức Phật dạy: vị Tỳ-kheo sau khi
khất-thực và ăn xong, chọn nơi
vắng-vẻ, ngồi kiết-già, lưng thẳng, và an-trú chánh-niệm trước mặt. Vị
ấy từ bỏ tham-ái ở đời, sống với tâm
ly-tham; từ bỏ sân-hận, sống với tâm vô-sân, từ-mẫn; từ bỏ hôn-trầm và
thụy-miên, sống với tâm hướng về ánh-sáng, chánh-niệm, tỉnh-giác; từ bỏ
trạo-cử và hối-tiếc, gột rửa tâm hết trạo-cử và hối-tiếc; từ bỏ
nghi-ngờ, lưỡng-lự, phân-vân, gột rửa tâm hết nghi-ngờ
đối với các thiện-pháp.

 

Vị ấy lại quán-tưởng năm triền-cái kể trên
như là món nợ, như là bịnh-hoạn, như là tù-ngục, như là thân-phận nô-lệ,
như là bãi sa-mạc nguy-hiểm; nên nay cố gắng diệt-trừ chúng, xả-ly chúng
và nhờ đó mà sanh tâm hân-hoan.

 

023. LỢI-ÍCH THIẾT-THỰC CỦA HẠNH SA-MÔN: CHỨNG-ĐẮC
BỐN CẤP THIỀN-ĐỊNH.

 

Bốn cấp thiền-định là: Sơ-thiền,
Nhị-thiền, Tam-thiền và Tứ-thiền. Đức Phật
dạy
: Khi quán tự-thân đã
xả-ly năm triền-cái, tâm vị Tỳ-kheo
sanh hoan-hỷ, thân được khinh-an; vì
lạc-thọ sanh, tâm trở nên định-tĩnh,
lần-lượt đạt đến các cấp Thiền-định.

 

– Tỳ-kheo ly dục, ly ác-pháp, chứng và trú SƠ-THIỀN, ”một
trạng-thái hỷ-lạc DO LY DỤC SANH, với tầm, với tứ.”

– Tỳ-kheo diệt tầm và tứ, chứng và trú NHỊ-THIỀN, ”một
trạng-thái hỷ-lạc DO ĐỊNH SANH, nội
tĩnh nhứt- tâm”.

– Tỳ-kheo ly hỷ, trú xả, chánh-niệm tỉnh-giác, thân-tâm cảm
đuợc ”xả-niệm lạc-trú’‘, chứng và
trú TAM-THIỀN, ”một trạng-thái LẠC-THỌ KHÔNG CÓ HỶ.”

– Tỳ-kheo xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu
đ
ã cảm-thọ trước, chứng và trú TỨ-THIỀN, ”một trạng-thái
chẳng khổ, chẳng lạc, XẢ NIỆM THANH-TỊNH.”

 

Đó là ”quả thiết-thực hiện-tại của hạnh Sa-môn, còn vi-diệu,
thù-thắng hơn những quả trước”.

 

024. LỢI-ÍCH THIẾT-THỰC CỦA HẠNH SA-MÔN: HƯỚNG TÂM
ĐẾN CHÁNH-TRÍ.

 

Đức Phật dạy: ”Với tâm định-tĩnh,
thuần-tịnh, dễ sử-dụng, vững-chắc, bình-thản, Tỳ-kheo hướng-dẫn tâm
đến CHÁNH-TRÍ, CHÁNH-KIẾN. Vị ấy
biết: thân nầy là sắc-pháp, do bốn đại (mà)
thành, biến-hoại vô-thường, trong thân ấy THỨC ta lại nương-tựa vào và
bị trói buộc.”

 

Đó là ”quả thiết-thực, hiện-tại của hạnh Sa-môn, còn vi-diệu và
thù-thắng hơn các quả trước.”

 

025. LỢI-ÍCH THIẾT-THỰC CỦA HẠNH SA-MÔN: CHỨNG CÁC THẦN-THÔNG VÀ
ĐƯỢC GIẢI-THOÁT.

 

Với tâm định-tĩnh, thuần-tịnh, dễ
sử-dụng, vững chắc, Tỳ-kheo hướng-dẫn tâm
đến các
thần-thông:

 

hoá-thân hiện hình qua vách, núi; lặn sâu dưới
đất liền,
đi trên mặt nước, bay trên hư-không

thiên-nhĩ-thông có thể nghe
được tiếng chư Thi
ên và Người, xa và gần …

tha-tâm-thông biết được
tâm-trạng của kẻ khác ..

túc-mạng-minh biết được nhiều
đời kiếp trước …

thiên-nhãn-thông thấy sự sống-chết của chúng-sanh và
hành-nghiệp của chúng …

lậu-tận-trí biết được như-thật
thế nào là Khổ, Tập, Diệt, Đạo?
thế nào là thoát khỏi các dục-lậu, hữu-lậu và vô-minh-lậu? …

 

Nhờ nhận-thức được như vậy, vị ấy
biết: ”Ta đã giải-thoát. Sanh
đã tận, phạm-hạnh
đã thành, việc cần làm
đã làm; sau
đời hiện-tại, Ta chẳng còn
đời sống nào khác nữa.”

 

Không có một quả thiết-thực hiện-tại nào vi-diệu và thù-thắng hơn
quả-vị giải-thoát nầy của hạnh Sa-môn.

 

026. HỌC KINH SA-MÔN QUẢ NHƯ THẾ NÀO?

 

1.- Chữ Sa-môn có ba nghiã chánh: (1) cần-giả nghiã là
người siêng làm việc lành; (2) tức-giả, nghiã là người ngưng làm
tất cả việc ác; (3) bần-giả, nghiã là người cam chịu nghèo-khó
để tu-tập đến ngày
được hoàn-toàn giác-ngộ và
giải-thoát.

2.- Trọng-điểm của Kinh
Sa-môn quả
là: đức Phật giảng tỉ-mỉ về
(a) các
giới-luật mà vị Sa-môn phải tuân theo suốt
đời; (b) đường-lối tu-hành
theo Chánh-pháp mà vị Sa-môn tập-luyện để
lần-lượt thâu-lượm được các lợi-ích thiết-thực ngay trong hiện-đời.

3.- Lời Phật giảng trong Kinh nầy tóm lại chỉ có ba
điều: Giới,
Định, Huệ.
Nhờ giữ giới
đầy-đủ, thân-tâm an-lạc nên sớm đắc
định-lực. Nhờ có định-lực, vị
Sa-môn lần-lượt chứng các thần-thông, đồng thời Trí-huệ
chiếu sáng lên, cắt đứt các phiền-não,
dẹp xong các lậu-hoặc mà được
hoàn-toàn giải-thoát.

 

4.Có hai điểm phụ nhưng cũng nên lưu-ý khi
đọc Kinh Sa-môn quả:

a.- Vua A-xà-thế ”sợ-hãi, kinh-hoàng, tóc dựng lên” khi
đi đến gần vườn xoài, nơi
đức Phật và các vị Tỳ-kheo ngụ: một
sự im-lặng tuyệt-đối ”giữa một
đại-chúng gần một ngàn hai trăm
năm mươi vị
, mà không có một tiếng
đằng-hắng
, không có một tiếng ho, không có một tiếng ồn”.

Một cảnh-tượng tu-hành thật trang-nghiêm và vi-diệu !

b.- Trước mặt đức Phật, Vua
A-xà-thế thú-tội đã giết vua-cha
để giành ngôi. Theo Kinh-sách,
đây là tội ngũ-nghịch, phải sa vào
điạ-ngục, sau khi chết. Nhưng
đức Phật đã từ-bi mà ”chứng-minh
sự thú-tội đúng với Chánh-pháp”.

Sau khi vua A-xà-thế vừa ra về, đức Phật
bảo các Tỳ-kheo
: ”Tâm vua ấy rất
ăn-năn… nếu vua ấy chẳng hại mạng cha
, thì tại ngay chỗ ngồi
này, vua ấy đã chứng
được pháp-nhãn thanh-tịnh, không
cấu-uế.”

 

(TN, Mtl, 2006-02-14).

 

-ooOoo-

 

3. KINH AMBATTHA.

 

027. TRONG TRƯỜNG-HỢP NÀO ĐỨC PHẬT GIẢNG
KINH AMBATTHA?

 

Vào một thời kia, đức Phật và các
Tỳ-kheo du-hành sang nước Câu-tát-la (Kosala) và ngụ tại khu rừng
làng Icchànankala. Nghe tiếng đồn
tốt-đẹp về Tôn-giả Gotama l
à bực A-la-hán, Chánh-đẳng-giác,
có vị Bà-la-môn giàu-sang, thông-thái, tên là Pokkharasàdi sai người
đệ-tử giỏi, thanh-niên Ambattha,
đến yết-kiến đức Phật để xem coi Ngài
đủ ba mươi hai tướng của bực đại-nhân
chăng. Ambattha quá ngạo-mạn về giai-cấp B
à-la-môn và dòng-dõi
danh-tiếng của mình, đã tỏ ra
xấc-xược với đức Phật. Trong một cuộc
tranh-luận rất h
ào-hứng, đức Phật đã
chứng-minh nguồn-gốc hạ-tiện của dòng-họ của Ambattha mặc dầu thuộc
giai-cấp Bà-la-môn; và ”những vị nào giới-hạnh và trí-tuệ
đầy-đủ mới chiếm điạ-vị tối-thắng giữa Trời
v
à Người.”

Sau khi dùng thần-thông khiến cho Ambattha thấy rõ nơi Ngài có
đủ ba mươi hai tướng tốt của bậc đại-nhân,
đức Phật giảng cho Ambattha hiểu thế-nào
các cấp giới-luật, thế nào là vô-thượng trí-huệ.
Khi trở về gặp lại sư-phụ, Ambattha bị thầy quở trách nặng-nề. Bà-la-môn
Pokkharasàdi liền đến chiêm-bái
đức Phật, tạ lỗi và
được nghe đức Phật giảng Chánh-Pháp,
rồi sau đó xin quy-y ngôi Tam-Bảo.

 

028. NỘI-DUNG KINH AMBATTHA.

 

A.- Ý chánh: Kinh Ambattha dạy ta chớ nên quá hãnh-diện
về dòng họ, giai-cấp
của mình.

B.- Phân-đoạn: Kinh
Ambattha
khá dài mà phần quan-trọng nói về các giới-luật và
đường-lối tu-hành
thì lại
được người kết-tập Kinh qui-chiếu về Kinh
Sa-Môn Quả. Kinh Ambattha có thể phân làm ba phần:

1.- Cuộc tranh-luận giữa đức Phật và
Ambattha về dòng-họ Thích-ca và dòng-họ Kanhàyanà của Ambattha

2.- Đức Phật giảng về việc
thành-tựu giới-đức và trí-huệ

cho Ambattha nghe.

 

3.- Bà-la-môn Pokkharasàdi đến nghe Phật
thuyết-giảng về Chánh-Pháp v
à xin quy-y ngôi Tam-Bảo.

 

029. CUỘC TRANH-LUẬN VỀ NGUỒN-GỐC CỦA HAI DÒNG-HỌ THÍCH-CA VÀ
KANHÀYANÀ.

 

Để bác-bỏ việc Ambattha miệt-thị dòng-họ Thích-ca và việc anh ta quá
tự-cao về dòng-họ Kanhàyanà của mình, đức
Phật n
êu rõ:

(1) ông Tổ dòng Thích-ca là vua Okkàka, vì muốn truyền ngôi cho người
con yêu, nên đuổi các vị hoàng-tử
khác ra khỏi nước. Họ đến sống tại một khu
rừng lớn
, bên hồ nước tại sườn núi Hy-mã-lạp-sơn, thành-lập một
quốc-gia hùng-mạnh. Vua Okkàka khi nghe biết việc
đó, mới khen các vị hoàng-tử
đó là những Sakya (= cứng như
lõi cây sồi).

(2) Vua Okkàka có một nữ-tì tên Disà sanh ra một người con da
đen, gọi là Kanha;
đó là vị tổ-phụ của dòng họ
Kanhàyanà sau nầy. Như thế, Ambattha là con cháu của người nữ-tì hầu-hạ
dòng Thích-ca.

Bị đức Phật gạn hỏi ba lần, có
phải đúng như vậy chăng, Ambattha
đành thú-nhận
đã có nghe các vị trưởng-lão tôn-túc
nói ”nguồn-gốc của dòng họ Kanhàyanà
đúng như lời Tôn-giả Gotama đ
ã nói.”

 

030. HỌC KINH AMBATTHA NÊN LƯU-Ý NHỮNG GÌ?

 

1.- Kinh Ambattha đặc-biệt nhấn mạnh đến sự dẹp bỏ tánh
kiêu-mạn
về dòng-dõi và giai-cấp. Bực
đáng tôn-trọng chính l
à những vị đã
thành-tựu giới-đức
vô-thượng trí-huệ.

 

2.- Đừng tưởng hễ ”học thuộc
lòng những chú-thuật của các ẩn-sĩ ngày xưa… mà có thể
được xem là một ẩn-sĩ hay
đã chứng
điạ-vị của ẩn-sĩ…”.
Còn phải
thực-hành đúng nếp sống theo giới-luật và
thành-tựu được Trí-huệ vô-thượng nữa !

 

Như vậy, ngày nay khi học Kinh Phật, cố công học cách
đọc-tụng lên trầm xuống bổng nghe
cho êm tai, hấp-dẫn, và việc nỗ-lực tìm hiểu ý-nghiã lời
đức Phật dạy để áp-dụng vào
đời sống hằng ngày; hai
điều ấy,
điều nào quan-trọng và cấp-thiết
hơn?

 

(TN, Mtl 2006-02-15)

 

-ooOoo-

 

4. KINH SONADANDA

 

031. TRONG TRƯỜNG-HỢP NÀO ĐỨC PHẬT GIẢNG
KINH SONADANDA?

 

Vào một thời kia, đức Phật du-hành
tại xứ Ương-già (Anga), cùng với các Tỳ-kheo
đến ngụ bên bờ hồ Gia-già liên-trì (Gaggara).
Lúc bấy giờ, có một vị Bà-la-môn tên là Sonadanda, giàu-sang, danh-vọng,
nghe tiếng đồn tốt-đẹp về Sa-môn Gotama,
mới cùng với các đệ-tử và Bà-la-môn
khác đến yết-kiến đức Phật.

 

Đoán biết tâm-trạng lo-ngại của Sonadanda sợ bị hỏi về các điều ông
ta chẳng am-tường, đức Phật mới hỏi ông về
các đức-tánh cần có của một vị B
à-la-môn xứng-đáng
với danh-hiệu đó. Sonadanda kể ra năm đức-tánh
: (1) huyết-thống
bảy đời thanh-tịnh, (2) thông-thuộc
các chú-thuật (3) thấu-suốt văn-nghiã
của ba tập Kinh Vệ-đà, (4)
đầy-đủ giới-hạnh, (5) học rộng
sáng-suốt, và là người đệ nhứt trong các
người cầm muỗng tại buổi lễ tế-thần. Được đức Phật gạn hỏi kỹ th
êm,
trong năm đức-tánh đó, có thể bỏ qua
đức-tánh nào, và còn lại
đức tánh nào quan-trọng nhứt mới
xứng-đáng danh-nghiã Bà-la-môn,
Sonadanda đáp: giới-hạnh cao-dày và
trí-huệ sâu-rộng.

Thể theo lời yêu-cầu của Sonadanda, đức
Phật giảng r
õ thêm thế nào là giới-hạnh
đầy-đủ
trí-huệ tối-thắng.

 

032. NỘI-DUNG KINH SONADANDA .

 

A. Ý chánh: Kinh Sonadanda nhấn mạnh việc xứng-đáng
danh-nghi
ã Bà-la-môn, chẳng phải chỉ ở sự thông-thuộc ba
tập Kinh Vệ-đà, mà còn phải có
giới-hạnh đầy-đủ và trí-huệ
sáng-suốt.

 

B. Phân-đoạn: Kinh nầy chia
ra ba phần:

1. Các Bà-la-môn bàn-cãi: nên yết-kiến Phật không.

2. Sonadanda kể năm đức-tánh căn-bản
xứng-danh l
àm Bà-la-môn; nhưng khi
được Phật gạn hỏi lại
, ông chỉ giữ lại hai
đức-tánh: giới-đức
trí-huệ.

 

3. Đức Phật giảng rõ thế nào là
giới-đức đầy-đủ (xem tiểu,
trung, đại-giới,
Kinh
Phạm-Võng), và trí-huệ tối-thắng (xem các cấp Thiền, Kinh
Sa-Môn Quả).

 

033. SỰ LIÊN-HỆ VỀ TẦM QUAN-TRỌNG GIỮA GIỚI-ĐỨC
V
À TRÍ-HUỆ.

 

Đây, đoạn Kinh quan-trọng về Giới Huệ:

 

... Trí-huệ được giới-hạnh làm
cho thanh-tịnh, giới-hạnh được trí-huệ làm
cho thanh-tịnh. Chỗ nào có giới-hạnh, chỗ ấy có trí-huệ; chỗ nào có
trí-huệ, chỗ ấy có giới-hạnh; người có giới-hạnh nhứt
định có trí-huệ; người có trí-huệ nhứt định
có giới-hạnh. Giới-hạnh v
à trí-huệ
được xem l
à tối-thắng ở trên đời….
Cũng nh
ư lấy bàn tay rửa bàn tay, lấy bàn chơn
để rửa bàn chơn, … trí-tuệ
được giới-hạnh làm cho thanh-tịnh;
giới-hạnh được trí-huệ làm cho
thanh-tịnh…

 

(TN. Mtl, 2006-02-16)

 

-ooOoo-

 

5 . KINH KÙTADANTA

 

034. TRONG TRƯỜNG-HỢP NÀO ĐỨC PHẬT GIẢNG
KINH KÙTADANTA?

 

Vào một thời kia, đức Phật du-hành
tại nước Ma-kiệt-đà (Magadha),
đến ngụ tại vườn Ambalatthika ở làng
Khànumata. Tại đây có một vị Bà-la-môn
tên là Kùtadanta muốn thiết-lập một tế-đàn
với nhiều thú-vật sẽ bị giết, để cúng-tế
cầu phước. K
ùtadanta nghe nói đức
Phật biết r
õ ”ba tế-pháp và mười sáu tế-vật”, nên muốn
đến thưa hỏi.

 

Nhơn đó,
đức Phật giảng Kinh nầy, chỉ rõ các
nguyên-tắc hướng-dẫn sự cúng-tế, chẳng cần giết chóc thú-vật, mà cũng có
thể đem lại nhiều phước-báo. Rồi đức Phật
giảng th
êm về sự bố-thí thường-xuyên, tứ-sự cúng-dường, sự
dâng-cúng một tu-viện cho Tăng-già,
sự quy-y ngôi Tam-Bảo, sự thọ-trì các giới-luật, sự tu-tập các cấp
thiền-định… ”là những tế-đàn
ít phiền-tạp, ít nhiễu-hại mà mang lại nhiều kết-quả lợi-ích hơn
.

 

035. NỘI-DUNG KINH KÙTADANTA.

 

A. Ý chánh: Kinh Kùtadanta chỉ dạy cách cúng-tế, chẳng cần
giết thú-vật để tế, mà lại
đưa đến nhiều phước-báo.

 

B. Phân đoạn: Kinh rất dài
thuật cách tế-lễ thời xưa, có thể chia ra làm bốn phần:

1.- Kùtadanda bàn-luận với các Bà-la-môn về
đại-danh và
đức-độ của đức Phật, trước khi
đến yết-kiến;

 

2.- Đức Phật giảng 3 tế-pháp
và 16 tế-vật
.

3.- Các tế-đàn ít phiền-tạp mà
nhiều quả-báo hơn.

 

4.- Kùtadanda xin quy-y Tam-Bảo và được
đức Phật giảng cho nghe Chánh-pháp.

 

036. THẾ NÀO LÀ 3 TẾ-PHÁP VÀ 16 TẾ-VẬT?

 

Trong Kinh nầy, đức Phật thuật lại
lễ tế-đàn của Vua
Mahàvijita, ở kiếp quá-khứ, theo đúng 3
tế-pháp v
à 16 tế-vật.

Vị Bà-la-môn chủ-tế khuyên nhà Vua trước khi thiết-lễ, nên mở kho
cung-cấp vật-liệu, tiền-của, cho các tầng-lớp dân chúng
để họ làm
ăn yên-ổn, khiến cho nước hết
tai-ương và trở nên hùng-cường. Sau đó,
thông-báo việc tế-lễ đến bốn đại-chúng
(đại-thần
, Sát-đế-lợi,
hoàng-tộc, gia-chủ) để họ biết mà
tán-thành.

Vị chủ-lễ giảng: Trước khi, trong khi và sau khi lễ tế-đàn,
nhà Vua chớ để tâm hối-tiếc
của-cải bị tiêu-hao. Đó là ba
tế-pháp
được làm tại buổi lễ tế.

 

Trong khi làm lễ tế, vị chủ-lễ bằng mười sáu cách đã
khuyến-giáo, khích-lệ, khiến tâm nhà Vua
được
hoan-hỷ: từ việc làm cho dân-chúng
được an-vui và quốc-gia hùng-mạnh,
sự tán-thành của bốn tầng-lớp xã-hội, cho
đến mười đức-tánh cao-qúi của nh
à Vua và bốn
đức-độ cao-dày của vị chủ-lễ.
Đó là các
điểm được xem như mười sáu món
tế-vật
đem ra hiến-cúng.

 

037. THẾ NÀO LÀ CÁC TẾ-ĐÀN
KHÁC, ÍT PHIỀN-TẠP MÀ ĐEM LẠI NHIỀU
PHƯỚC-BÁO
?

 

Dụng-ý của Kinh Kùtadanta là, nhơn việc giết thú-vật
để cúng-tế, giảng rõ các pháp-tu
trong đạo Phật được xem như những
phẩm-vật qúi-báu đem dâng-hiến
, để
được nhiều phước-báo
, vừa ít phiền-tạp, tránh
được sát-sanh,

đem lại nhìều lợi-ích thiết-thực
cho đường tu.

 

Theo thứ-tự từ thấp đến cao, kể
ra trong Kinh:

– hạnh bố-thí: thường-xuyên hiến-tặng của-cải, công-sức, lời an-ủi
đến kẻ nghèo-khó cần sự giúp-đỡ;

– tứ-sự cúng-dường: hiến-cúng cho các tu-sĩ: (1) thực-phẩm; (2)
quần-áo; (3) thuốc-men; (4) chỗ ở;

– dâng-hiến tịnh-xá, tu-viện cho Tăng-Ni-đoàn;

– quy-y ngôi Tam-Bảo;

– thành-tựu giới-hạnh thanh-tịnh;

 

– chứng và an-trú trong các cấp thiền-định.

 

038. ĐIỂM CẦN CHÚ-Ý KHI HỌC KINH
KÙTADANTA.

 

Kinh Kùtadanta nhằm phá bỏ cổ-tục cúng-kiến
để cầu phước. Sự giết hại sanh-vật để
cúng-tế thần-linh cầu xin ban phước l
à một hình-thức hối-lộ
thần-thánh, gây thêm tội sát-sanh. Nếu biết thực-hành
đúng theo Chánh-Pháp, thành-tâm giữ
GIỚI-đức đầy-đủ, siêng tu thiền-ĐỊNH,
phát-triển trí-HUỆ,
thì việc được
giác-ngộ và giải-thoát và chứng-đắc
Niết-bàn an-tịnh mới thật là các ”phẩm-vật” qúi-báu
đem dâng-hiến ngôi Tam-Bảo.

 

(TN. Mtl, 2006-02-17).

 

-ooOoo-

 

6. KINH MAHÀLI
7. KINH JÀLIYA

 

039. TRONG TRƯỜNH-HỢP NÀO PHẬT GIẢNG KINH MAHÀLI?

 

Vào một thời kia, đức Phật và các
Tỳ-kheo ngụ tại nước Tỳ-xá-ly (Vesali), nơi giảng-đường
Tr
ùng-Các, rừng Đại-Lâm. Trong số
những người đến yết-kiến đức Phật lúc bấy giờ
, có Mahàli, người
xứ Licchavi, trình-bày sự thắc-mắc của người bạn tu-tập thiền-định,
thấy được các thiên-sắc, nhưng chẳng
nghe được các thiên-âm. Mahàli hỏi
đức Phật, các thiên-âm có thật
không?

Đức Phật bảo, các thiên-âm có thật và nhơn
đó, Ngài giảng về sự
đắc thiên-nhãn khi tu thiền
nhứt-hướng, còn người tu thiền nhị-hướng mới
đắc được cả hai thiên-nhãn-thông và
thiên-nhĩ thông. Sau đó, Ngài còn
giảng thêm về Bát-Chánh-Đạo, con
đường tám ngành,
đưa đến sự chứng-ngộ các pháp còn
cao-thượng và thù-thắng hơn.

 

040. NỘI-DUNG KINH MAHÀLI ( VÀ KINH JÀLIYA).

 

Kinh Mahàli tương-đối ngắn hơn
các bản Kinh khác trong
Trường-Bộ Kinh, nhưng nội-dung lại
chứa đến hai bản Kinh: kinh
Mahàli
và kinh Jàliya (Trường-Bộ Kinh chỉ ghi tên
của Kinh Jaliya, mà chẳng ghi nội-dung
đầy-đủ). Có thể chia ra làm
ba phần:

1.- Các vị Bà-la-môn và Mahàli ngồi đợi
đức Phật ra tiếp-kiến.

 

2.- Đức Phật giải-đáp thắc-mắc của Mahàli
về các thiên-âm. Ngoài việc chứng-đắc các
thần-thông
: thiên-nhãn và thiên-nhĩ,
đức Phật còn giảng thêm về ba
quả-vị
đầu-tiên của hàng Thanh-văn nữa, bằng cách diệt-trừ năm
hạ-phần kết-sử.

 

3.- Nhắc đến Bát-Chánh-Đạo,
đức Phật thuật lại bài pháp
đã giảng cho du-sĩ ngoại-đạo
Jàlika về vấn-đề
mạng-căn và thân-thể là một hay
khác.
(đây là nội-dung của Kinh
Jàlika).

 

041. CÁC THẦN-THÔNG THIÊN-NHÃN, THIÊN-NHĨ.

 

Giải-đáp thắc-mắc của Mahàli về
thiên-âm, đức Phật xác-nhận các thiên-âm
có thật, chỉ những người tu-tập thiền-định
nhị-hướng mới vừa thấy các thiên-sắc (=hình-sắc ở cõi
Trời) và các thiên-âm (= âm-thanh ở cõi Trời). Tu
định nhứt-hướng là khi nhập-định,
hành-giả chỉ hướng-dẫn tâm, hoặc đến các
thi
ên-sắc, hoặc đến các thiên-âm;
còn người tu định nhị-hướng
mới đắc cả hai thần-thông: thiên-nhãn
và thiên-nhĩ.

 

042. BỐN QUẢ-VỊ Ở CẤP THANH-VĂN.

 

Thanh-văn, tiếng Pali là
Sàvaka,
là các đệ-tử Phật, sống
gần đức Phật, tu-tập theo pháp
Tứ-diệu-đế,
dẹp bỏ hết các
phiền-não và lần-lượt chứng-đắc bốn
quả-vị:

 

– Quả-vị thứ nhứt là Tu-đà-huờn
(Pali: Sotàpanna), còn gọi là Dự-lưu (được
dự v
ào giòng Thánh) hay là Thất-lai (chỉ còn phải
tái-sanh lại bảy lần ở cõi người);

Quả-vị thứ hai là Tư-đà-hàm
(Pali: Sakadàgàmi), còn gọi là Nhứt-lai (chỉ còn phải
tái-sanh lại cõi người một lần nữa thôi);

Quả-vị thứ ba là A-na-hàm (Pali: Anagàmi), còn
gọi là Bất-lai (chẳng phải sanh lại cõi người, chỉ tái-sanh ở cõi
Trời, tiếp-tục tu để đạt quả-vị cuối-cùng).

Quả-vị cao nhứt là A-la-hán (Pali: Arahant),
có ba nghiã: (1) sát tặc (diệt xong các phiền-não,
được xem như ”giặc”), (2)
ứng-cúng
(xứng-đáng nhận sự cúng-dường
của người v
à Trời), (3) vô-sanh (chẳng còn phải tái-sanh
nữa, thoát khỏi Luân-hồi, chứng Niết-bàn).

 

043. NĂM HẠ-PHẦN KẾT-SỬ LÀ GÌ?

 

Kết-sử (Pali: Sanyojana): kết là ràng-buộc, sử
là sai-khiến; đó là các
phiền-não ràng-buộc và sai-khiến phải hành-động
theo nẻo dữ. Có mười kết-sử
, chia ra:

– năm hạ-phần kết-sử, còn
gọi là năm độn-sử: (1) tham,
(2) sân, (3) thân-kiến, (4) giới-cấm-thủ, (5) nghi.

– năm thượng-phần kết-sử,
còn gọi là năm lợi-sử: (6)
sắc-ái, (7) vô-sắc-ái, (8) trạo, (9) mạn, (10) vô-minh.

Năm hạ-phần kết-sử thường gặp nơi các
người có căn-cơ thấp-kém
, nên gọi là
độn-sử. Ba kết-sử tham-lam
, sân-hận (giận hờn) và nghi-ngờ thì dễ
hiểu. Thân-kiến là một tà-kiến cố-chấp lấy thân và tâm nầy, cho
đó chính là bản-ngã, là Ta.
Giới-cấm-thủ
là sự nắm giữ các điều
răn-cấm theo m
ê-tín dị-đoan. Dẹp
xong năm độn-sử th
ì chứng đến quả-vị
thứ ba A-na-h
àm.

Bực A-la-hán đã tiêu-trừ hết cả
mười kết-sử.

 

044. THÂN-THỂ VÀ MẠNG-CĂN LÀ MỘT
HAY KHÁC?

 

Phàm-phu (người thường) hay thắc-mắc về việc sau khi chết, thân-thể
nầy còn sống lại nữa không, đó là
vấn-đề: thân-thể và mạng-căn
(= sự sống). Trong Kinh Jàliya (tức phần III của Kinh
Mahàli), sau khi tu chứng bốn cấp thiền-định
v
à hướng tâm đến Trí-huệ tối-thượng,
hành-giả sẵn-sàng đề-cập đến vấn-đề nầy.
Nhưng đối với Phật
, Ngài chẳng quan-tâm
đến và ”chẳng nói mạng-căn
v
à thân-thể là một hay là khác.”

 

Theo Kinh-sách Phật-học, thân-tâm con người sau khi chết, năm
uẩn đều tan-rả
, nhưng còn có nghiệp-lực (ảnh-hưởng của
hành-động gây nghiệp lúc còn sống),
sẽ lôi-kéo sự tái-sanh trong vòng Luân-hồi.

 

045. HỌC KINH MAHÀLI, NÊN LƯU-Ý
ĐIỂM N
ÀO?

 

So với các bản Kinh khác trong Trường-Bộ Kinh, Kinh Mahàli
ngắn hơn, có vẻ ít quan-trọng. Nhưng nếu suy-gẫm kỹ, có thể nêu lên
hai điểm đáng lưu-tâm:

1.- Tại sao, sau khi giải-đáp thắc-mắc
của Mah
àli về thiên-nhĩ-thông, đức
Phật c
òn giảng thêm về các pháp cao thượng hơn, thù-thắng hơn?
Đó là vì Ngài muốn chỉ rõ
điều quan-trọng hơn: ngoài
thần-thông ra, còn có Giới, Định,
Huệ
mới đưa đến giải-thoát cho
thân-phận con người ra khỏi cảnh khổ của Luân-hồi.

 

2.- Tại sao đức Phật chẳng nói
thân-thể và mạng-căn là một hay khác
?
sống hay chết ít quan-trọng hơn là biết cách thoát cảnh khổ
của tái-sanh Luân-hồi
.

 

(TN. Mtl, 2006-02-17).

 

-ooOoo-

 

8. KINH KASSAPA

 

046. TRONG TRƯỜNG-HỢP NÀO ĐỨC PHẬT GIẢNG
KINH KASSAPA?

 

Vào một thời kia, đức Phật ngụ tại vườn
nai Kannakatthala
, xứ Uy-nhã-quốc (Ujunnà). Có tu-sĩ
loã-thể Kassapa (Ca-diếp) đến gặp
đức Phật v
à hỏi, có phải đúng như
lời ông nghe nói
, Sa-môn Gotama đã
mạt-sát tất cả mọi khổ-hạnh và chỉ-trích
đường-lối tu-h
ành khổ-hạnh chăng?
Đức Phật đáp,
đó là sự xuyên-tạc, vì với
thiên-nhãn, Ngài đã nhìn thấy trong
số tu-sĩ khổ-hạnh, có người tái-sanh vào
đường l
ành, có kẻ phải sa vào nẻo ác, thì sao Ngài lại chỉ-trích
tất cả lối tu khổ-hạnh.

Kassapa liền trình-bày các lối tu khổ-hạnh, thu-thúc thân-xác trong
việc ăn, mặc,
đi,
đứng
, ngồi, nằm, v.v… sẽ đưa đến
quả-vị Sa-môn
, Bà-la-môn. Đức Phật
chỉ r
õ chỗ thiếu-sót trong việc tu ép-xác, vì ngoài việc tiết-chế
cách sống, còn có các sự giữ giới
đầy-đủ
, tu-tập thiền-định,
phát-triển trí-huệ tối-thượng, mới
đưa tới quả-vị
Sa-môn chơn-chánh.

 

047. NỘI-DUNG KINH KASSAPA.

 

A. Ý chánh: Kinh Kassapa chỉ rõ sự thiếu-sót
trong việc tu-hành ép-xác
và nêu lên
đường-lối tập-luyện theo Giới-Định-Huệ trong Chánh-Pháp
, mới
đạt được quả-vị chơn-chánh của
Sa-môn
.

 

B. Phân đoạn: Kinh Kassapa
có thể chia làm ba phần:

1.- Phần I: Lối tu khổ-hạnh:

Đức Phật đính-chánh việc cho rằng Ngài
đã mạt-sát tất cả các lối tu
khổ-hạnh;

– Tu-sĩ loã-thể Kassapa trình-bày các lối tu-hạnh sẽ
đưa đến quả-vị Sa-môn, Bà-la-môn
chơn-chánh;

Đức Phật nêu các thiếu-sót của
lối tu khổ-hạnh.

2.- Phần 2: Hạnh Sa-môn chơn chánh:

Đức Phật bác-bỏ, khi Kassapa
nói hạnh Sa-môn khó hành, khó biết;

Đức Phật lần-lượt giảng: giới cụ-túc,
hộ-trì các căn, tu-tập bốn cấp
thiền-định, hướng tâm
đến trí-huệ vô-thượng. (giống hai Kinh
Phạm-Võng, Sa-Môn Quả).

3.- Phần 3: Tu-sĩ ngoại-đạo
Kassapa xin quy-y
ngôi Tam-Bảo và tu chẳng bao lâu
đắc được quả A-la-hán.

 

048. KASSAPA TRÌNH-BÀY CÁC LỐI TU KHỔ-HẠNH.

 

Kassapa kể các lối tu khổ-hạnh được
công-nhận l
à đưa đến Sa-môn và
Bà-la-môn quả”:

 

– sống loã-thể (thân-thể trần-trụi, chỉ có khố che bộ-phận
sinh-dục), đứng khi đại-tiện, liếm
tay cho sạch,

– chẳng nhận đồ ăn của đàn-bà có
thai (sợ đứa con trong bụng bị thiệt-thòi),
chỉ ăn một bữa trong một ngày, hay
hai, ba, bảy ngày; ăn gạo lức, trái
cây rụng …

– mặc vải gai thô, áo vỏ cây … ,

– theo hạnh thường đứng chẳng ngồi,
nằm trên đất cát, một
đêm tắm ba lần (để
gột sạch tội-lỗi) …

 

Các lối tu khổ-hạnh nầy bị đức Phật
bác-bỏ v
ì thiếu-sót, ”chẳng chứng
được giới cụ-túc, tâm cụ-túc và huệ
cụ-túc, vì thế còn cách rất xa Sa-môn-vị.”

 

049. HỌC KINH KASSAPA NÊN CHÚ-Ý
ĐIỂM N
ÀO?

 

1. Trong Kinh Chuyển Pháp-luân, bản Kinh
đầu-tiên
đức Phật giảng tại vườn Lộc-uyển cho năm
anh em ông Kiều-trần-như nghe
, đức
Phật có đề-cập đến hai
cực-đoan
(= điều quá mức):
”Một là đắm-say trong các dục hạ-liệt,
đê-tiện…không liên-hệ
đến mục-đích Hai là tự hành khổ
mình, khổ đau, không liên-hệ
đến mục-đích …”
Lối tu
khổ-hạnh chính là cực-đoan thứ hai,
cần tránh. Con đường ở giữa hai cực-đoan đó,
chính là Bát-Chánh-Đạo,
tám ngành, từ chánh-kiến đến chánh-định.
Vì thế, người học Kinh nầy nên biết tránh các lốì tự hành-xác, chẳng có
ích-lợi thiết-thực nào đến đường tu cả.

 

2. Cũng như khi học các Kinh Phạm-Võng, Sa-Môn Quả, học Kinh
Kassapa nầy nên đặc-biệt lưu-tâm đến
các đoạn văn đức Phật tr
ình-bày tỉ-mỉ về giới, về định
và về huệ. Đó là đường-lối tu-hành căn-bản trong Chánh-Pháp
của Phật-giáo.

 

(TN. Mtl, 2006-02-18).

 

-ooOoo-

 

9. KINH POTTHAPÀDA

 

050. TRONG TRƯỜNG-HỢP NÀO ĐỨC PHẬT GIẢNG
KINH POTTHAPÀDA?

 

Vào một thời kia, đức Phật ngụ tại chùa
Kỳ-viên (Jetavana), vườn ông Cấp-cô-độc
(
Anàthapindika), nước Xá-vệ (Sàvatthi). Sáng sớm
hôm đó, khi
đi khất-thực, thấy còn sớm, Ngài ghé
qua vườn hoa của hoàng-hậu Mallika, và gặp du-sĩ Potthapàda
đang bàn phiếm với các tu-sĩ ngoại-đạo
khác. Potthap
àda thỉnh đức Phật
giải-đáp về vấn-đề tận-diệt của các tư-tưởng.

 

Nhơn đó,
đức Phật giảng rõ tư-tưởng sanh-khởi
và diệt-tận đều có nhân-duyên;
đó là ”do sự học-tập mà một loại
tưởng sanh, cũng do học-tập mà một loại tưởng diệt.”
Ngài chỉ dạy,
qua sự học-tập về Giới-Định-Huệ,
hành-giả khi đắc các cấp thiền-định,
làm khởi sanh và rồi diệt tận được các
tưởng về dục, hỉ, lạc, xả-niệm thanh-tịnh, v.v… cho
đến mức diệt-tận-định
thì mọi tư-tưởng được chấm dứt
hẳn.

 

Sau đó, Potthapàda hỏi các vấn-đề
về
tự-ngã, sinh-mạng thân-thể là một hay
khác, thế-giới thường-hằng hay vô-thường, vô-biên hay
hữu-biên, Như-Lai có tồn-tại sau khi chết hay không, v.v…
đức Phật bảo Ngài không trả lời
dứt-khoát các vấn-đề đó vì chúng
chẳng liên-quan đến mục-đích chánh là
sự giải-thoát, và chỉ trả lời về ”các pháp căn-bản
của phạm-hạnh
, … đưa đến giác-ngộ,
Niết-bàn”.
Rồi Ngài ra về.

Vài hôm sau, Potthapàda cùng với Citta Hatthi-sàriputta lại
đến yết-kiến đức Phật và hỏi thêm
tại sao có vấn-đề chẳng được Phật trả lời
dứt-khoát
, như vấn-đề T_-NGÃ
chẳng hạn, ”sau khi chết, tự-ngã hoàn-toàn hạnh-phúc, vô bệnh?”
Đức Phật đáp, tự-ngã có ba
hình-thức: (1) thô-phù, (2) do ý sở-thành, và (3) do tưởng sở-thành,
đều chỉ là ”danh-tự thế-gian”,
nên Ngài dùng chúng nhưng chẳng chấp-trước chúng
. Và những pháp mà
Ngài tuyên-thuyết, trình-bày một cách dứt-khoát chính là
để diệt-trừ các hình-thức
ngã-chấp
đó, hầu đưa đến sự
giải-thoát.

 

Sau khi nghe đức Phật giảng Kinh nầy,
Potthapàda và Citta xin được xuất-gia,
và chẳng bao lâu, tu-chứng được quả-vị
A-la-hán.

 

051. NỘI-DUNG KINH POTTHAPÀDA.

 

A.- Ý chánh: Trong phần đầu của Kinh
Potthapàda, đức Phật dạy: mọi tư-tưởng khởi lên và
tiêu-diệt đi đều có nhân-duyên,
đó là do sự học-tập. Tu-tập
các cấp thiền-định cho
đến mức diệt-tận-định,
hành-giả chấm-dứt hẳn được các tưởng.
Trong phần sau của Kinh
, đức Phật
dạy cách phá-trừ
ngã-chấp.

B.- Phân đoạn: Kinh
Potthapàda
có thể phân ra làm hai phần:

1.- Phần đầu:
Đức Phật giảng sự khởi-sanh của các
tư-tưởng v
à sự diệt-tận của chúng.

 

– các tu-sĩ ngoại-đạo bàn phiếm;

– tu-sĩ Potthapàda thỉnh Phật giảng về tưởng;

 

– do sự học-tập mà tưởng sanh ra rồi diệt
đi;

– sự tu-tập thiền-định đến
mức diệt-tận-định mới chấm
dứt hẳn mọi tư-tưởng.

– Potthapàda hỏi về các vấn-đề
tự-ngã, thế-giới, sanh-mạng và thân-thể, Như-lai có tồn-tại không,
v.v…

Đức Phật bảo, Ngài chẳng trả
lời dứt-khoát các câu hỏi đó, vì
chúng chẳng liên-quan đến mục-đích chánh
của việc tu-h
ành là sự giải-thoát.

2.- Phần sau: Các pháp được đức Phật
tuy
ên-thuyết một cách dứt-khoát, đều
có li
ên-hệ đến đích giải-thoát.

 

Đó là các pháp về: Khổ, Tập,
Diệt, Đạo.

 

– Về câu nói của tu-sĩ ngoại-đạo:
”Sau khi chết, TỰ-NGÃ hoàn-toàn hạnh-phúc, vô bịnh”, đức Phật
vạch rõ các lý-do chứng-minh ”lời nói
đó không chính-xác
, hợp-lý”.

 

– (Khởi lên tưởng về tự-ngã rồi chấp chặt lấy,
đó là ngã-chấp). Phật nói, có
ba loại ngã-chấp, và Ngài chỉ dạy cách diệt-trừ chúng.
Đấy là những pháp mà Phật
tuyên-thuyết, trình-bày một cách dứt-khoát.

 

052. DO NHÂN-DUYÊN NÀO CÓ SỰ SANH-KHỞI VÀ SỰ TẬN-DIỆT CỦA CÁC
TƯỞNG?

 

Đức Phật nói: Các Sa-môn, Bà-la-môn nào bảo, không nhân, không duyên,
các tưởng của con người sinh và diệt, đã
sai-lạc ngay từ ban đầu. Vì sao vậy?
Chính vì có nhân, có duyên, các tưởng của con người mới
sinh và diệt. Chính do sự học-tập, một loại tưởng sanh,
chính do sự học-tập, một loại tưởng diệt…

 

Sự học-tập ấy là gì? Đó là:
giới-hạnh thanh-tịnh,… hộ-trì các căn,
… xả-ly năm triền-cái, … và
tu-tập các cấp thiền-định
(Xem lại Kinh Sa-Môn Quả).

– tại cấp Sơ-thiền, trong trạng-thái hỷ-lạc do ly-dục sanh,
lìa được các dục-tưởng xưa
kia và làm khởi sanh lên tưởng hỷ-lạc do ly-dục;

 

– tại cấp Nhị-thiền, trong trạng-thái hỷ-lạc do
định sanh, lià
được các tưởng do ly dục sanh trước kia,
và làm khởi sanh lên tưởng hỷ-lạc do
định;

 

– tại cấp Tam-thiền, tưởng hỷ-lạc diệt và tưởng ”xả-niệm
lạc-trú”
sanh;

– tại cấp Tứ-thiền, tưởng xả-niệm lạc-trú diệt, tưởng
”xả-niệm thanh-tịnh”
sanh;

– tại cấp Không vô-biên-xứ định,
tưởng xả-niệm thanh-tịnh diệt, tưởng Không vô-biên xứ sanh;

– tại cấp Thức vô-biên-xứ định,
tưởng hư-không diệt, tưởng Thức vô-biên xứ sanh;

– tại cấp Vô-sở-hữu-xứ định,
tưởng thức vô-biên diệt, tưởng Vô-sở-hữu xứ sanh;

– tại cấp Phi-tưởng, phi phi-tưởng
định
,
tưởng vô-sở-hữu diệt, tưởng phi-tưởng phi phi-tưởng
sanh;

– tại cấp Diệt-thọ-tưởng định,
tiếp-tục đi từ tưởng nầy đến tưởng khác
cho đến
tưởng tột đỉnh,
rồi diệt luôn tưởng đó, chấm dứt hẳn mọi tưởng.

 

053. CÁC LOẠI NGÃ-CHẤP.

 

Ngã-chấp là gì? Đó là một
tà-kiến, một ảo-tưởng, do con người quá cố-chấp ôm chặt lấy, nên bị
ràng-buộc. Cần phải diệt-trừ hẳn tất cả các loại tưởng về
ngã-chấp.

 

Đức Phật dạy: Có ba loại ngã-chấp: (1) thô-phù ngã-chấp,
(2) ý sở thành ngã-chấp, (3) vô-sắc ngã-chấp. Thế nào
là thô-phù ngã-chấp? Có sắc, do bốn đại hình-thành,
do đoàn-thực nuôi-dưỡng là thô-phù
ngã chấp. Thế nào là ý sở thành ngã-chấp? Có sắc,
đầy-đủ các căn và các chi-tiết, do ý
sở thành. Thế nào là vô-sắc ngã-chấp? Không có sắc, do tưởng sở thành.

Ngài bảo, Ta thuyết pháp để diệt-trừ
thô-ph
ù ngã-chấp, … ý sở thành ngã-chấp, … vô-sắc ngã-chấp.
Nếu các người thực hành theo pháp nầy thời nhiễm-pháp
được diệt-trừ, tịnh-pháp
được tăng-trưởng, và ngay hiện-tại,
tự mình giác-ngộ, với thắng-trí, chứng đạt
v
à an trú trí-huệ sung-mãn, quảng-đại

 

054. NÊN HỌC KINH POTTHAPÀDA NHƯ THẾ NÀO?

 

Trọng-điểm của Kinh
Potthapàda
là sự diệt-trừ hẳn mọi tư-tưởng cố-chấp để tâm và
trí được giải-thoát. Vì thế, người học Kinh nầy, phải nên
đọc lướt qua các đoạn nói dài-dòng
về những vấn-đề mà
đức Phật không trả lời dứt-khoát,
và chú-tâm đến các đoạn nói rõ
về sự khởi-sanh và sự diệt-tận của mọi loại tưởng qua sự
học-tập
về các cấp Thiền-định.

 

Cần suy-gẫm kỹ về cách diệt-trừ hẳn ba loại ngã-chấp
được xem là những pháp mà
đức Phật tuyên-thuyết, trình-bày MỘT
CÁCH DỨT-KHOÁT,
thuộc về đích
giải-thoát
, đưa đến giác-ngộ và
Niết-bàn.

 

(TN. Mtl, 2006-02-23).

 

-ooOoo-

 

10. KINH SUBHA

 

055. TRONG TRƯỜNG-HỢP NÀO KINH SUBHA ĐƯỢC THUYẾT-GIẢNG?

 

Vào một thời kia, sau khi đức Phật đã
nhập Niết-bàn, Đại-đức A-nan (Ànanda)
ngụ tại chùa Kỳ-viên (Jetavana), vườn ông Cấp-cô-độc
(
Anàthapindika), thuộc nước Xá-vệ (Sàvatthi). Bấy
giờ có thanh-niên Bà-la-môn tên là Subha (Tu-bà) muốn
đến thỉnh hỏi Ngài A-nan, vị thị-giả
sống gần bên đức Phật, biết rõ các
pháp nào được đức Phật tán-thán và
khuyến-khích mọi người tuân theo. Nhơn đó,
Ngài A-nan tới nhà Subha để giảng Kinh nầy,
nhắc lại đầy-đủ các chi-tiết về các pháp
Giới, Định, Huệ, đã
được đức Phật giảng rõ trong Kinh Sa-Môn Quả.

 

056. NỘI-DUNG KINH SUBHA.

 

Kinh Subha tương-đối ngắn hơn các
Kinh khác thuộc Trường-Bộ Kinh. Nội-dung nhắc lại lời Phật giảng về
Giới, Định, Huệ trong
hai bản Kinh Phạm-Võng Sa-Môn Quả.

A.- Ý chánh: Kinh Subha trình-bày về: thánh-giới-uẩn,
thánh-định-uẩn, và thánh-huệ-uẩn,
đã được
đức Phật tán-thán v
à khuyến-khích nên tuân theo.

 

B.- Phân đoạn: Kinh
Subha
chia ra làm hai phần:

1.- Thanh-niên Bà-la-môn Subha thỉnh ngài A-nan
đến nhà
để cúng-dường v
à nghe giảng pháp.

2.- Ngài A-nan giảng về ba thánh-uẩn:

 

a.- Thánh-GIỚI-uẩn gồm có tiểu-giới, trung-giới,
đại-giới,
(được
Phật nói r
õ trong Kinh {Phạm-Võng),
để được giới-hạnh đầy-đủ.

b.- Thánh-ĐỊNH-uẩn gồm có
việc hộ-trì các căn, dẹp năm
triền-cái v
à tu-tập các cấp Thiền-định
(được Phật nói r
õ trong Kinh Sa-Môn Quả) khiến cho nội-tâm
định-tĩnh.

 

c.- Thánh-HUỆ-uẩn hướng tâm
định-tĩnh đến
lậu-tận-trí, tuệ-tri như thật thế nào là
Khổ,
nguyên-nhân của Khổ, sự diệt-tận Khổ và con
đường đưa đến diệt-khổ, cùng các
lậu-hoặc.

 

Đó là các pháp được Phật khích-lệ, khuyên mọi người tuân theo. Chẳng
còn pháp nào cao-thượng hơn cần phải hành-trì.

 

057. HỌC KINH SUBHA LÀ DỊP ÔN LẠI BA MÔN-HỌC GIỚI,
ĐỊNH, HUỆ.

 

Khi ôn lại ba môn vô-lậu-học Giới,
Định
, Huệ,
cần phải nắm vững các
điều sau đây
:

1.- Về Giới: tiểu-giới có năm
giới
căn-bản và các giới
bát-quan, thập-thiện; trung-giới có các tà-hạnh cần tránh (chẳng
tích-trữ đồ-vật, chẳng du-hí, chẳng
bàn chuyện phiếm…); đại-giới có các tà-mạng
chẳng được dùng làm nghề sanh-sống
(xem bói, xem tướng, làm môi-giới…)

2.- Về Định: phải hộ-trì các căn,
dẹp bỏ năm triền-cái trước, rồi tập
bốn cấp Thiền (từ Sơ-thiền đến
Tứ-thiền)
, và năm cấp
Định (từ Không vô-biên-xứ đến
Diệt-tận-định)
thì nội-tâm mới hoàn-toàn
định-tĩnh.

 

3.- Về Huệ: khi tâm hoàn-toàn
định-tĩnh
, mới hướng tâm đến
trí-huệ tối-thượng, để học-tập, hiểu rõ và noi theo Tứ-Diệu-Đế.

 

Nên ghi nhớ: Tinh-túy của Đạo
Phật chính l
à ba môn học vô-lậu: Giới-ĐỊnh-Huệ.

 

(TN. MTL, 2006-02-23).

 

-ooOoo-

 

11. KINH KEVADDHA

 

058. TRONG TRƯỜNG-HỢP NÀO ĐỨC PHẬT GIẢNG
KINH KEVADDHA?

 

Vào một thời kia, đức Phật ngụ tại vườn
Pav
àri-kamba, làng Nalandà. Bấy giờ có cư-sĩ trẻ tuổi tên
Kevaddha đến thỉnh-cầu đức Phật cho
thi-triển các thần-thông trước mặt đông-đảo dân chúng trong l
àng
nầy, để họ càng kính-tín Thế-tôn
thêm lên.

Đức Phật từ-chối việc cho thi-triển thần-thông trước công-chúng, và
nhơn đó Ngài giảng Kinh nầy, cho
biết có ba loại thần-thông: (1) biến-hoá thần-thông, (2) tha-tâm thông
thần-thông và (3) giáo-hoá thần-thông. Chỉ có loại thần-thông sau cùng
được đức Phật giảng-dạy, tức là
ba môn học vô-lậu: giới, định,
huệ.

 

Sau đó,
đức Phật kể lại chuyện một vị Tỳ-kheo có
thắc-mắc
: chẳng biết bốn đại
(đất, nước, lửa, gió)
sau khi biến-hoại thì đi về đâu?

Tỳ-kheo ấy nhập-định lên Thiên-giới,
lần-lượt hỏi các vị Trời, và sau cùng được
Đại-Phạm Thi
ên-vương mách cho, nên trở lại hỏi Phật.
Đức Phật mới giảng cho vị Tỳ-kheo ấy biết,
khi Thức diệt thì mọi thứ đều diệt-tận.

 

059. NỘI-DUNG KINH KEVADDHA.

 

Kinh Kevaddha khá dài, phần chánh bàn
đến các thần-thông, thì hơi ngắn so
với phần phụ, hơi dài-dòng có liên-quan
đến việc trả lời thắc-mắc về đến
bốn đại.

 

A.- Ý chánh: Trong các loại thần-thông, chỉ có giáo-hoá
thần-thông
được đức Phật chỉ dạy mà
thôi (đó là Giới-Định-Huệ).
C
òn việc đi tìm các bậc có
thể giải-đáp thắc-mắc về sự tồn-tại hay tiêu-diệt
của tứ-đại là ý phụ trong
Kinh.

 

A.- Phân đoạn: Kinh
Kevaddha
có hai phần:

1.- Ba loại thần-thông:

Biến-hoá thần-thông: biến ra nhiều thân;
đi xuyên ngang qua tường, núi; chui
xuống đất rồi trồi lên,
đi trên mặt nước, bay trên
hư-không… bị Phật bác bỏ vì có thể bị hiểu-lầm là do chú-thuật
Gandhàri.

tha-tâm-thông thần-thông: biết rõ các tâm-trạng, các suy-tư
của kẻ khác… cũng bị Phật bác-bỏ vì có thể hiểu lầm là do chú-thuật
Maniko.

giáo-hoá thần-thông: chỉ-dạy sự suy-tư
đứng-đắn, sự trừ-bỏ các
điều ác, sự tu-tập, chứng-đạt
v
à an-trú các cấp thiền-định,
sự giải-thoát… tức là Giới-Định-Huệ
(trong Kinh
Sa-Môn Quả), mới
được đức Phật chấp-thuận
, tuyên-thuyết và thi-triển.

2.- Một vị Tỳ-kheo thắc-mắc về sự tồn-tại hay tiêu-diệt của tứ-đại,
đi tìm các bậc có thể giải-đáp được:

– từ cõi Tứ-Thiên-vương đến cõi
Phạm Thiên: các vị Trời được hỏi,
đều trả lời chẳng biết và mách
đến vị khác cao hơn;

đến cõi Trời
Đại-Phạm, vị
Đại-Phạm Thiên-vương, sau khi
lúng-túng che-dấu sự ”dốt” của ông ta, mới khuyên vị Tỳ-kheo nên trở
về gặp Phật để hỏi;

 

– lời giải-đáp của đức Phật:
”Khi Thức diệt, mọi thứ đều diệt tận”.

 

060. THẾ NÀO LÀ GIÁO-HOÁ THẦN-THÔNG?

 

Đức Phật nói: Thế nào là giáo-hoá thần-thông? Ở
đời, có vị Tỳ-kheo giáo-hoá như sau:
”Hãy suy-tư như thế nầy, chớ có suy-tư như thế kia; hãy tác-ý như thế
nầy, chớ có tác-ý như thế kia; hãy trừ bỏ
điều nầy
, hãy chứng-đạt và
an-trú điều kia.”

 

Rồi đức Phật nhắc lại các lời giảng
trong Kinh
Sa-Môn Quả, về việc giữ giới-hạnh
đầy-đủ, việc hộ-trì các căn, việc
dẹp năm triền-cái, việc tu-tập các
cấp thiền-định, và việc
phát-triển trí-huệ tối thắng để đi
đến sự
giác-ngộ và giải-thoát hoàn-toàn.

 

Đó là sự giáo-hoá thần-thông được đức Phật tự mình giác-ngộ và
tuyên-thuyết.

 

061. HỌC KINH KEVADDHA, NÊN CHÚ-Ý
ĐIỂM N
ÀO?

 

1.- Mục-đích chánh của việc tu-hành
theo đạo Phật là
để được giải-thoát khỏi cảnh
Khổ của Luân-hồi. Người học Đạo còn
sơ-cơ thường hay mong-cầu sớm đắc được các
thần-thông. Ý-nghiã sâu-xa của Kinh Kevaddha dạy ta
phải sớm bỏ sự mong-cầu chẳng chánh-đáng
đó.

 

2.-Việc giáo-hoá thần-thông, như
đ
ã được đức Phật trình-bày
trong Kinh nầy, chính là ba môn học vô-lậu Giới-Định-Huệ,
đưa đến sự giải-thoát hoàn-toàn.

 

(TN. Mtl, 2006-02-24).

 

-ooOoo-

 

12. KINH LOHICCA

 

062. TRONG TRƯỜNG-HỢP NÀO ĐỨC PHẬT GIẢNG
KINH LOHICCA.

 

Vào một thời kia, đức Phật du-hành
tại nước Câu-tát-la (Kosala), ngụ nơi làng Sàlavatikà, cùng với năm
trăm vị Tỳ-kheo. Có vị B
à-la-môn Lohicca (Lộ-già) tuy có
mang ác-kiến nầy: ”Sa-môn, hay Bà-la-môn nào chứng
được thiện-pháp, chẳng nên nói cho
người khác biết, vì có ai lại làm giúp cho ai
được”,
nhưng xin thỉnh
đức Phật đến nhà
để cúng-dường và nghe pháp.

Nhơn đó,
đức Phật giảng Kinh nầy nhằm đả-phá tà-kiến
đó của Lohicca. Và Ngài cho biết có
ba hạng đạo-sư chưa chứng các quả-vị Sa-môn
m
à thuyết pháp dạy đệ-tử, nên
họ đáng bị chỉ-trích. Còn vị
đạo-sư đáng kính-trọng là bậc
đã chứng-đắc
trọn vẹn đạo-quả
, dạy cho các đệ-tử
biết tin-nhận v
à tu-tập theo để đạt
được đạo-quả như m
ình.

 

063. NỘI-DUNG KINH LOHICCA.

 

Kinh Lohicca nhằm phá bỏ ác-kiến ”người chứng
được thiện-pháp chẳng nên chỉ dạy
cho kẻ khác, vì có ai giúp được cho ai”.
Trong Kinh nầy
, đức Phật còn
phân-biệt giữa một vị đạo-sư đáng
kính-trọng với
ba hạng
đạo-sư đáng chỉ-trích
, vì họ còn chưa chứng quả mà lại giảng
pháp cho đệ-tử.

 

A. Ý chánh: Phá bỏ tà-kiến: ”chẳng nên nói pháp cho người
khác”.

B. Phân đoạn: Kinh Lohicca
có ba phần:

1.- Phá bỏ ác-kiến của Lohicca:

– Ác-kiến của Lohicca làm mất cơ-hội của kẻ khác
được nghe giảng Chánh-pháp;

– Bằng phương-pháp vấn-đáp, qua
hai thí-dụ, đức Phật chứng-minh ác-kiến của
Lohicca l
à một tà-kiến, cần dẹp bỏ; nếu không sẽ tái-sanh vào
đường ác.

– Thí-dụ I: Người nào bảo, chỉ để cho
Lohicca hưởng một m
ình mọi sản-phẩm trong làng Sàlavatika, thì
người ấy đã gây chướng-ngại cho các
kẻ khác sống tuỳ-thuộc vào đó; như thế có
hại cho họ. Người có tâm muốn hại kẻ khác l
à kẻ
đang vướng phải tà-kiến.

– Thí-dụ II: cũng giống như thí-dụ I, với các nguồn lợi ở Câu-tát-la,
chỉ để một mình vua Ba-tư-nặc hưởng,
chẳng để cho những kẻ khác cùng
chia-xẻ …

2.- Ba hạng đạo-sư đáng bị
chỉ-trích
:

đạo-sư chưa đắc các quả Sa-môn,
giảng pháp cho đệ-tử nhưng họ không nghe
theo
, và sống trái ngược với giáo-pháp của vị bổn-sư.
Đó cũng như ”người muốn tán-tỉnh
cô gái muốn xa mình.”

 

đạo-sư chưa đắc các quả Sa-môn,
giảng pháp cho đệ-tử được họ tin
nghe và sống đúng theo giáo-pháp của vị bổn-sư. Đó cũng như ”người
bỏ ruộng dưa của mình mà đến nhổ cỏ ruộng
kẻ khác.”

đạo-sư chưa đắc các quả Sa-môn,
giảng pháp cho đệ-tử được họ lắng nghe,
nhưng họ lại sống trái-ngược với giáo-pháp của vị bổn-sư.
Đó cũng như ”người cắt sợi dây
trói buộc cũ, lại tự làm một sợi dây mới.”

 

3.- Bậc đạo-sư đáng kính-trọng:
tự mình đã chứng-đắc
trọn vẹn đạo-quả Sa-môn
, giảng dạy Chánh-pháp cho
đệ-tử được họ tin nghe và tu-tập
theo để đắc quả.

Đức Phật lần-lượt kể lại, theo như trong các Kinh Phạm-Võng,
Sa-Môn Quả,
các giai-đoạn tu-tập: từ
giữ
giới đầy-đủ, hộ-trì các căn,
dẹp bỏ năm triền-cái đến việc tu-chứng các
cấp
thiền-định
phát-triển trí-huệ tối-thắng đưa đến
giác-ngộ và giải-thoát hoàn-toàn.

 

064. ĐỨC PHẬT GIÚP LOHICCA DẸP BỎ TÀ-KIẾN.

 

Sau đây là trích-đoạn
Kinh-văn nói về cách đức Phật giúp Lohicca gạt bỏ được

tà-kiến,
bằng phương-pháp vấn-đáp:

 

(…) Nầy Lohicca, có thật chăng
Người khởi l
ên ác-kiến như sau: ”Ở
đời
, có vị Sa-môn hay Bà-la-môn chứng
được thiện-pháp, sau khi chứng
được thiện-pháp, không nên nói cho
người khác biết, vì có ai lại làm giúp cho ai
được?…

– Vâng phải, Tôn-giả Gotama.

– Nầy Lohicca, Ngươi nghĩ thế nào? Có phải Ngươi ở tại Sàlavatikà?

– Vâng phải, Tôn-giả Gotqma.

– Nếu có người nói: ”Lohicca sống ở Sàlavatikà. Hãy
để Lohicca hưởng một mình mọi
sản-phẩm của Sàlavatikà, không cho một ai khác.” Người nói như vậy là
người gây chướng-ngại cho ai sống tùy-thuộc vào Ngươi, có phải không?

– Là người gây chướng-ngại, Tôn-giả Gotama.

– Nầy Lohicca, đã là người gây
chướng-ngại, người ấy có phải là người có từ-tâm, nghĩ
đến lợi-ích cho những người kia?

– Là người không có từ-tâm nghĩ đến
lợi-ích cho kẻ khác
, Tôn-giả Gotama.

Đã không có từ-tâm nghĩ
đến lợi-ích của kẻ khác, người ấy
an-trú từ-tâm hay an-trú hại-tâm?

– Hại-tâm, Tôn-giả Gotama.

– Khi an-trú hại-tâm, như vậy là chánh-kiến hay tà-kiến?

– Là tà-kiến, Tôn-giả Gotama.

– Nầy Lohicca, Ta nói rằng, một người có tà-kiến sẽ sanh vào một
trong hai ác-thú sau đây:
điạ-ngục hay súc-sanh. (…)

 

065. NÊN CHÚ-Ý ĐIỂM NÀO KHI HỌC
KINH LOHICCA?

 

1.- Học Kinh Lohicca nên chú-ý
đến hai điểm:

 

a)- Phá bỏ cái tà-kiến ”chẳng muốn giảng Chánh-pháp cho kẻ khác
biết” để tu-tập và
đắc quả như mình;

b)- Chỉ giảng Chánh-pháp khi nào tự mình
đ
ã chứng quả và khiến cho người nghe biết tin theo
để tu-tập.

 

2.- Kinh Lohicca, cũng như các Kinh khác trong Trường-Bộ
Kinh,
nhắc lại ba môn Học Vô-Lậu: Giới-Định-Huệ,
được nói rõ ở hai Kinh Phạm-Võng,
Kinh Sa-Môn Quả ở trước. Đó là
cốt-tủy của Đạo Phật mà người học
Kinh cần phải nghiền-ngẫm, hiểu thật rõ và thực-hành thật bền chí, cho
đến ngày giác-ngộ.

 

(TN. Mtl, 2006-02-25).

 

-ooOoo-

 

13. KINH TEVIJJA .

 

066. TRONG TRƯỜNG-HỢP NÀO ĐỨC PHẬT GIẢNG
KINH TEVIJJA?

 

Vào một thời kia, đức Phật du-hành
ở nước Kosala (Câu-tát-la), cùng với năm
trăm vị Tỳ-kheo
, ngụ tại vườn xoài bên bờ sông Aciravati. Lúc bấy
giờ có hai thanh-niên Bà-la-môn, Vàsettha và Bhàradvàja,
đến yết-kiến đức Phật và nhờ Ngài
giải-quyết sự tranh-chấp của họ về con
đường tu-tập n
ào thẳng-tắp đưa đến cõi
Phạm-Thiên. Cả hai đều cho rằng chỉ có lời
chỉ-dạy của ri
êng thầy mình mới là
đúng nhứt.

 

Nhơn đó,
đức Phật mới giảng Kinh Tevijja
nầy. Trước hết, đức Phật bảo,
chẳng có vị thầy Bà-la-môn nào thấy được
đức Đại-Phạm Thi
ên-vương cả, cũng chẳng ai biết rõ con
đường tu-tập đưa tới cõi Phạm-thiên;
họ ”như một chuỗi người mù ôm lưng nhau, người trước không
thấy, người giữa không thấy, người cuối cùng cũng không thấy.”
Kế
đó, Ngài vạch rõ các vị thầy
Bà-la-môn đang chìm-đắm
trong vũng lầy của năm dục-lạc
, còn bị ràng-buộc bởi năm
triền-cái
, thì làm sao họ biết được,
thấy được, con
đường đưa tới cõi Phạm-thiên. Sau
cùng, Ngài giảng cho hai thanh-niên đó con
đường chơn-chánh đưa thẳng đến Phạm-thi
ên-giới:
đó là con
đường của Giới,
Định, Huệ, Từ, Bi, Hỉ, Xả,
được
tuyên-thuyết trong Chánh-Pháp.

 

067. NỘI-DUNG KINH TEVIJJA.

 

Kinh Tevijja nhằm phá bỏ lối chỉ-dạy sai-lầm của tu-sĩ
Bà-la-môn về con đường đưa tới cõi
Phạm-Thiên và dạy rằng, ba môn học vô-lậu Giới,
Định, Huệ
trong Chánh-Pháp mới
đưa các vị Tỳ-kheo chứng quả đến an-trú nơi
c
õi Trời Phạm.

 

A.- Ý chánh: Sự sai-lầm của đạo Bà-la-môn
và sự đúng-đắn của đạo Phật, (với ba
môn học Giới-Định-Huệ),
về con đường đưa tới cõi
Phạm-Thiên.

 

B.- Phân đoạn: Kinh
Tevijja
chia ra hai phần:

1.- Sự sai-lầm trong lời dạy của Bà-la-môn về con
đường dẫn đến sự an-trú nơi cõi
Phạm-Thiên:

 

– Vàsettha và Bhàradvàja tranh-biện nhau về lời chỉ-dạy của mỗi vị
thầy Bà-la-môn của họ về con đường dẫn đến
”cộng-trú với Phạm-Thiên.”

 

Đức Phật cho rằng, các vị thầy
Bà-la-môn đó và cả các bực tôn-sư
của họ, chẳng ai thấy tận mặt vị Phạm-Thiên, và cũng chẳng biết con
đường nào
đưa tới Phạm-thiên-giới cả, mà lại
dạy đệ-tử về con đường ấy.

– Với các thí-dụ cụ-thể, Đức Phật vạch rõ
chỗ sai-lầm trong thái-độ của các vị thầy Bà-la-môn
cũng như: (a) cầu-khẩn, tán-thán chỗ mặt trăng
mọc v
à lặn đâu có đưa đến việc
cộng-trú với mặt trăng; (b) như khi nước sông Aciravati bị tr
àn
ngập, kẻ đứng ở bờ bên nầy, cứ kêu
gọi mãi bờ bên kia hãy sang đây, thì
có bao giờ sang sông cho được…

 

Đức Phật chỉ rõ: các vị thầy
Bà-la-môn còn đang chìm-đắm trong năm món dục-lạc, còn bị năm
triền-cái ngăn-che
, trong khi đấng
Phạm-thi
ên chẳng có tham-ái, chẳng có nhiễm-tâm, luôn luôn
tự-tại, thì làm sao mà họ có thể cộng-trú với vị Phạm-Thiên
được.

2.- Đức Phật chỉ dạy con đường đưa đến sự cộng-trú với Phạm-Thiên:

– Sau khi nghe được Chánh-Pháp,
thì xuất-gia làm Tỳ-kheo, từ bỏ gia-đình,
tài-sản và quyến-thuộc, sống dưới sự chế-ngự của Giới-bổn (Pàtimokkha);

– giữ giới-hạnh cụ-túc (xem lại Kinh Sa-Môn Quả);

– hộ-trì các căn, dẹp năm
triền-cái
, tu-tập Thiền-định
(xem lại Kinh Sa-môn Quả);

tu-tập bốn tâm vô-lượng: Từ, Bi, Hỉ, Xả.

 

– Như thế, ”Tỳ-kheo sau khi thân hoại mạng chung sẽ cộng-trú với
Phạm-Thiên”
.

 

068. TRÍCH ĐOẠN PHẦN VẤN-ĐÁP GIỮA ĐỨC
PHẬT V
À VÀSETTHA, VẠCH RÕ LỐI DẠY THIẾU CHÂN-THẬT CỦA CÁC VỊ
ĐẠO-SƯ BÀ-LA-MÔN.

 

”- Nầy Vàsettha, Ngươi nghĩ thế nào? Ngươi có nghe những Bà-la-môn
niên cao lạp trưởng, tôn-sư và đại tôn-sư
(của họ) c
ùng nhau nói chuyện không? Phạm-Thiên có dục-ái hay
không có dục-ái?

– Tôn-giả Gotama, không có dục-ái.

– Có hận-tâm hay không có hận-tâm?

– Tôn-giả Gotama, không có hận-tâm.

– Có nhiễm-tâm hay không có nhiễm-tâm?

– Tôn-giả Gotama, không có nhiễm-tâm.

– Có tự-tại hay không có tự-tại?

– Tôn-giả Gotama, có tự-tại.

– Nầy Vàsettha, Ngươi nghĩ thế nào? Các Bà-la-môn tinh-thông ba tập
Kinh Vệ-đà có dục-ái hay không có
dục-ái?

– Tôn-giả Gotama, có dục-ái.

– Có hận-tâm hay không có hận-tâm?

– T ôn-giả Gotama, có hận-tâm.

– Có sân-tâm hay không có sân-tâm?

– Tôn-giả Gotama, có sân-tâm.

– Có nhiễm-tâm hay không có nhiễm-tâm?

– Tôn-giả Gotama, có nhiễm-tâm.

– Có tự-tại hay không có tự-tại?

– Tôn-giả Gotama, không có tự-tại.

– Nầy Vàsettha, Ngươi nói rằng các Bà-la-môn tinh-thông ba tập Vệ-đà
là có tham-ái, Phạm-Thiên không có tham-ái. Giữa các Bà-la-môn
tinh-thông ba tập Vệ-đà là có
tham-ái với Phạm-Thiên không có tham-ái, có thể có một sự cộng-hành,
cộng-trú không?

– Tôn-giả Gotama, không thể có được.

– Lành thay, Vàsettha ! Nầy Vàsettha, những Bà-la-môn tinh-thông ba
tập Vệ-đà có dục-ái ấy sau khi thân
hoại mạng chung sẽ cộng-trú với Phạm Thiên?

– Thật không thể có sự-kiện ấy…”

 

069. HỌC KINH TEVIJJA NÊN CHÚ-Ý
ĐIỂM N
ÀO?

 

1.- Thường-nhơn khi tu-hành thường mong-cầu
được sanh lên ”Thiên-đàng”,
để được sống sung-sướng. Đó là
tâm-trạng của hai thanh-niên Bà-la-môn nói trong Kinh nầy, quá tin-tưởng
vào lời thầy họ đã chỉ-dạy sai-lầm
con đường đưa thẳng đến cõi
Phạm-Thiên. Đức Phật giảng rõ tu-tập
như thế nào mới được sanh lên cõi
Trời. Nhưng mục-đích chánh của Phật-học là
việc giải-thoát khỏi cảnh Khổ sanh, già, bịnh, chết, chấm dứt
vĩnh-viễn việc tái-sanh vào sáu nẻo Luân-hồi,
để chứng được cõi Niết-bàn an-vui,
tịch-tĩnh. Người học Kinh Tevijja nên ghi nhớ kỹ mục-đích
đó.

2.- Mỗi bản Kinh Phật đều khởi đầu bằng
một
tên Kinh. Trước khi đức
Phật chấm dứt lời thuyết-giảng
, các vị
đệ-tử thường hỏi đức Phật đặt tên
Kinh
là gì, cùng cách thọ-trì Kinh ấy.

Tên Kinh thường là:

tên người đương-cơ (người thỉnh
Phật giảng b
ài Kinh đó), như
Kinh Mahàli, Kinh Kassapa:

tên một pháp-tu, như Kinh Sa-môn Quả;

tên một thí-dụ, như Kinh Phạm-Võng, lấy thí-dụ cái
lưới (Phạm-Võng) tóm thâu hết 62 kiến-chấp vào trong
đó, chẳng gì thoát ra khỏi.

Trường-hợp tên của Kinh Tevijja rất lạ.
Đọc suốt bản Kinh, chẳng thấy có ai
mang tên Tevijja, chẳng có pháp-tu nào gọi là Tevijja, cũng chẳng thấy
chữ Tevijja dùng làm thí-dụ, cũng chẳng thấy có
đoạn nào nhắc
đến chữ Tevijja, ngoài cái
tên ở đầu Kinh.

Tra-cứu lại trong quyển Kinh Trường A-Hàm thuộc Hán-tạng nơi
bản Kinh Tam-Minh (tương-đương với
Kinh
Tevijja thuộc Hệ Pali), có
đoạn như sau:

 

…”Sở dĩ có cuộc tranh-luận đó,
là vì Bà-la-môn Tam-Minh đưa ra ba con
đường: con đường tự-tại dục
, con
đường tự-tác v
à con đường Phạm-Thiên.
Ba con đường nầy đều đưa đến Phạm-Thiên…”

 

Tra-cứu Từ-điển Pali-Việt, chữ
Tevijja
có nghiã: Te là ba; Vijjà là sự hiểu-biết,
kiến-thức.

Mặc dầu thắc-mắc về Tên Kinh chẳng quan-trọng bằng việc tìm
hiểu nội-dung lời Phật dạy trong Kinh, nhưng cũng xin
đề-nghị nên tạm hiểu như vầy:
Kinh Tevijja
lấy tên của vị Bà-la-môn Tam-Minh, để đặt tên
cho Kinh, vì vị nầy có đưa ra ba đường-lối
tu-tập đưa đến việc tái-sanh l
ên cõi Phạm-Thiên. Hai thanh-niên
Vàsettha và Bhàradvàja đã tranh-luận
nhau vì mỗi người cho rằng con đường của vị
thầy m
ình mới là con đường
thẳng-tắp nhứt đưa tới cõi Trời Phạm.

 

(TN. Mtl 2006-02-27).

 

-ooOoo-

Tham khảo:
Trường Bộ Kinh
, Hòa thượng Minh Châu dịch
Việt.

Ðầu
trang
| Phần I | Phần II
| Phần III

 

Chân thành cám ơn đạo hữu
Thiện Nhựt đã gửi tặng bản vi tính (Bình Anson, 09-2006).


[Trở
về trang Thư Mục
]


last updated:
10-10-2006

 

 

.

© Nikaya Tâm Học 2024. All Rights Reserved. Designed by Nikaya Tâm Học

Giới thiệu

Nikaya Tâm Học là cuốn sổ tay internet cá nhân về Đức Phật, cuộc đời Đức Phật và những thứ liên quan đến cuộc đời của ngài. Sách chủ yếu là sưu tầm , sao chép các bài viết trên mạng , kinh điển Nikaya, A Hàm ... App Nikaya Tâm Học Android
Live Statistics
43
Packages
65
Dropped
18
Invalid

Tài liệu chia sẻ

  • Các bài kinh , sách được chia sẻ ở đây

Những cập nhật mới nhất

Urgent Notifications