Nikaya Tâm HọcCon đường tuệ giác
Nikaya Tâm HọcKinh điển, nghiên cứu và các khu vực chính
Kinh sáchKinh điển, sách và tài liệu học Phật
Danh mục đầy đủ
Thời Phật Tại ThếBản đồ, Cuộc đời Đức Phật và Album ảnh
Bỏ qua menu, tới nội dung chính
Nikaya Tâm HọcKinh điển • Đức Phật • Nghiên cứu
TB Nikaya.Quyển II.Tập 1.Thiên Cung 083 : Lâu Ðài Của Vị Thiên Tử Ðeo Vòng Tai Sáng Chói (Mattakundalì-Vimàna)
Bài viết chuyên đề

TB Nikaya.Quyển II.Tập 1.Thiên Cung 083 : Lâu Ðài Của Vị Thiên Tử Ðeo Vòng Tai Sáng Chói (Mattakundalì-Vimàna)

Bấy giờ, đức Thế Tôn trú tại Sàvatthi, ở Kỳ Viên. Có một Bà-la-môn sống tại đó rất giàu nhưng không có lòng tin vào đạo và không bao giờ bố thí cho ai vật gì cả, nên được đặt danh hiệu Người Không bao giờ Bố thí.

293 lượt xem #397 mã dữ liệu 03.11.2023 ngày khởi tạo 14.09.2026 cập nhật
Khám phá theo quan hệ: Bài viết Nhân vật Địa danh Sitemap tri thức
TB Nikaya.Quyển II.Tập 1.Thiên Cung 083 : Lâu Ðài Của Vị Thiên Tử Ðeo Vòng Tai Sáng Chói (Mattakundalì-Vimàna)

Thông tin căn bản

ID dữ liệu
397
Bộ / nhóm
Chuyện Thiên cung và ngã quỷ ( Tiểu Bộ Nikaya)
Ngày khởi tạo
03/11/2023
Số lần chỉnh sửa
0
Tên gọi / ký hiệu khác

Bấy giờ, đức Thế Tôn trú tại Sàvatthi, ở Kỳ Viên. Có một Bà-la-môn sống tại đó rất giàu nhưng không có lòng tin vào đạo và không bao giờ bố thí cho ai vật gì cả, nên được đặt danh hiệu Người Không bao giờ Bố thí.

NGHE & XEM

Media liên quan

Hiển thị toàn bộ media đang liên kết với bài kinh, không chỉ vị trí Audio số 1.

AudioADDG

1452.014_chuyen-thien-cung-p7-sunikkhitta

Audio

1452.014_chuyen-thien-cung-p7-sunikkhitta.mp3

AudioADDG

1452.015_chuyen-thien-cung-p7-sunikkhitta-tt

Audio

1452.015_chuyen-thien-cung-p7-sunikkhitta-tt.mp3

NỘI DUNG

TB Nikaya.Quyển II.Tập 1.Thiên Cung 083 : Lâu Ðài Của Vị Thiên Tử Ðeo Vòng Tai Sáng Chói (Mattakundalì-Vimàna)

Chế độ đọc tối ưu Nội dung giữ nguyên từ database Nghe / xem media
Nội dung bài viết

TB Nikaya.Quyển II.Tập 1.Thiên Cung 083 : Lâu Ðài Của Vị Thiên Tử Ðeo Vòng Tai Sáng Chói (Mattakundalì-Vimàna)

9. (83) Chuyện thứ chín – Lâu Ðài Của Vị Thiên Tử Ðeo Vòng Tai Sáng Chói (Mattakundalì-Vimàna)

Bấy giờ, đức Thế Tôn trú tại Sàvatthi, ở Kỳ Viên. Có một Bà-la-môn sống tại đó rất giàu nhưng không có lòng tin vào đạo và không bao giờ bố thí cho ai vật gì cả, nên được đặt danh hiệu Người Không bao giờ Bố thí.

Ông lại thường dạy bảo con trai là Mattakundalin đừng đến gần đức Thế Tôn hay các đệ tử của Ngài. Chàng tuân lệnh. Khi chàng lâm bệnh, ông cha cũng không cung cấp thuốc thang gì cho đến khi chàng nguy kịch, các thầy thuốc được mời đến đều bảo bệnh đã vô phương cứu chữa.

Bấy giờ bậc Ðạo Sư vừa xuất định Ðại bi, thấy Ngài có thể cứu độ cả hai cha con, bèn đến gần nhà họ và phóng hào quang. Chàng trai rúng động toàn thân vì hoan hỷ, đảnh lễ Ngài và nằm xuống.

Ngay sau khi đức Thế Tôn ra đi, chàng từ trần và được tái sanh vào một Lâu đài mười hai dặm trong hội chúng cõi trời Ba mươi ba. Ngày hôm sau tang lễ, ông cha ra nghĩa địa vừa khóc than vừa gọi tên con.

Chàng Thiên tử thấy ông cha, liền xuất hiện trước mặt ông như chàng Mattakundalin đang khóc với hai tay chắp lại vì đau buồn, vừa kêu: ‘Ôi mặt trăng! Ôi mặt trời!’.

Vị Bà-la-môn liền hỏi:

1. Mang chuỗi hoa, vòng tai điểm trang,

Làn da tẩm phấn bột chiên-đàn,

Chàng than khóc với đôi tay chắp,

Sầu khổ vì sao ở giữa rừng?

Chàng Thiên tử đáp lại ông:

2. Bằng vàng đúc, sáng rực huy hoàng,

Xuất hiện ngày xưa xe của con,

Ðôi bánh xe này con chẳng thấy,

Do buồn khổ ấy, muốn lìa trần.

Vị Bà-la-môn lại nói với chàng:

3. Ðúc bằng hồng ngọc, bạc, hay vàng,

Hãy nói cho ta biết rõ ràng,

Nam tử Bà-la-môn quý mến,

Ta đi tìm cặp bánh cho chàng.

Thanh niên Bà-la-môn ấy muốn hạ lòng tự cao của vị Bà-la-môn đã không mua thuốc thang gì cho chàng, liền nói:

– Hẳn chúng lớn bằng mặt trăng mặt trời kia.

Và chàng yêu cầu ông như sau:

4. Nam tử La-môn nói với ông:

‘Ðôi vòng nhật nguyệt vẫn thường trông,

Xe con vàng đúc thường bừng sáng

Với cặp bánh này giữa cõi không!’

Vị Bà-la-môn bảo:

5. Chàng La-môn quả thật điên khùng,

Chàng kiếm thứ đồ chẳng thể mong,

Ta chắc rồi đây chàng sẽ chết,

Vì chàng không thể được trời, trăng!

Thanh niên Bà-la-môn đáp:

– Thế ai điên khùng hơn ai, người khóc đòi vật có thể thấy được hay người khóc đòi vật không thể thấy?

6. Ta thường thấy lặn, mọc, trời, trăng,

Ðặc tính, sắc màu lúc chuyển luân,

Song kẻ mạng chung nào thấy được,

Giữa ta, ai khóc thật điên khùng?

Nghĩ rằng chàng nói có lý, vị Bà-la-môn bảo chàng:

7. Quả chàng nói đúng, Bà-la-môn,

Than khóc vầy, ta ngu xuẩn hơn,

Ta khóc than vì người đã chết,

Khác nào con trẻ khóc đòi trăng?

Và vị Bà-la-môn không còn buồn khi ngâm vần kệ trên, ông lại ngâm các vần kệ tán thán chàng thanh niên Bà-la-môn ấy:

8. Lòng ta thiêu đốt nóng bừng,

Như là sữa lạc đổ trong lửa đào,

Nay vừa được tưới nước vào,

Và đang lắng dịu biết bao khổ sầu.

9. Quả chàng nhổ mũi tên đau

Nỗi buồn kia đã cắm sâu vào lòng,

Xua tan mọi mối thương tâm

Của người cha đã đau buồn vì con.

10. Giờ đây mát lạnh, dịu lòng,

Mũi tên đã nhổ, ta không còn buồn,

Ta không còn phải khóc than,

Sau khi nghe nói, hỡi chàng La-môn!

Sau đó vị Bà-la-môn hỏi chàng:

– Thế chàng là ai?

và ngâm kệ tiếp:

11. Có phải chàng Thiên tử, Nhạc thần,

Sak-ka Thiên chủ đại danh lừng,

Thi ân hào phóng, trang nam tử,

Con của ai, ta muốn biết chàng?

Chàng liền nói với ông về bản thân mình:

12. Con là nam tử của ngài đây,

Ngài hỏa thiêu con nghĩa địa này,

Ngài đã khóc than và khổ não,

Còn con làm thiện nghiệp riêng tây,

Nay lên cộng trú cùng Thiên chúng

Tam thập tam thiên lạc thú đầy.

Vị Bà-la-môn hỏi:

13. Cúng dường lớn nhỏ ở trong nhà,

Ta chẳng thấy đâu, trước đến giờ,

Hoặc giữ giới hay ngày Bố-tát,

Làm sao con đạt cõi Băm-ba?

Thanh niên Bà-la-môn đáp:

14. Xưa con bệnh hoạn ở trong phòng,

Ðau đớn ngập tràn cả tấm thân,

Con thấy Phật-đà vô lậu hoặc,

Ðoạn nghi, Thiện Thệ, trí viên toàn.

15. Tâm con tràn ngập nỗi hân hoan,

Ðảnh lễ Như Lai với tín tâm,

Khi thiện sự con vừa thực hiện,

Con lên cộng trú chúng Thiên thần.

Khi chàng đang nói vậy, toàn thân vị Bà-la-môn tràn đầy nhiệt tình và ông nói:

16. Thật là hy hữu, diệu kỳ thay,

Ðây kết quả hành động chắp tay,

Ta cũng hân hoan, tâm tín ngưỡng,

Quy y đức Phật tự ngày nay.

Sau đó vị Thiên tử muốn khuyên ông quy y và nhận Ngũ giới, lại ngâm hai vần kệ:

17. Ngay tự hôm nay với tín tâm

Ngài quy y Phật, Pháp cùng Tăng,

Hành trì Ngũ giới, chuyên tu tập,

Giữ trọn vẹn không có lỗi lầm.

18. Từ nay ngài tránh sát muôn loài,

Không lấy vật chi chẳng tặng ngài,

Không uống rượu nồng, không nói dối,

Và tri túc với vợ mình thôi.

Khi chàng Thiên tử đã khuyên ông nhận Tam quy và Ngũ giới như vậy, vị Bà-la-môn đồng ý với lời chàng và bảo:

19-20. Chàng muốn an lạc, Dạ-xoa,

Chàng mong hạnh phúc với ta mà,

Ta tuân lời dặn, này Thiên tử,

Chành chính là thầy giáo của ta,

Ta sẽ quy y vào Phật, Pháp.

Và quy y hội chúng Tăng-già.

21. Từ nay ta tránh sát muôn loài,

Không lấy các tài vật của ai,

Không uống rượu nồng, không nói dối,

Và tri túc với vợ mình thôi.

DATABASE-FIRST

Liên hệ dữ liệu của bài kinh

Chỉ hiển thị những quan hệ thực sự có trong dữ liệu hiện tại; không tự suy diễn thêm.

Tài nguyên đã liên kết
0 menu nhóm kinh 2 media
Tiếp tục khám phá

Đọc tiếp & nội dung liên quan

Chuyện Thiên cung và ngã quỷ ( Tiểu Bộ Nikaya) →
Đánh giá nội dungBài này hữu ích với bạn?/5 · 0 đánh giá
ĐIỀU HƯỚNG TỪ DATABASE

Mạng liên kết nội dung

Liên kết bên dưới được dựng phía server từ các quan hệ đang có trong cơ sở dữ liệu Nikaya Tâm Học.

13liên kết

Chủ đề / nhóm bài

1 mục

Mở danh sách nội dung cùng nhóm đã có của website.