Layout Options

Header Options

  • Choose Color Scheme

Sidebar Options

  • Choose Color Scheme

Main Content Options

  • Page Section Tabs
  • Light Color Schemes
Kinh Tạp A Hàm-TA 187 - KINH 187. THAM DỤC
Kinh Tạp A Hàm-TA 187 - KINH 187. THAM DỤC
Tìm kiếm nhanh
student dp

ID:3690

Các tên gọi khác

Kinh Tạp A Hàm-TA 187 - KINH 187. THAM DỤC

General Information

Danh sách : Liên quan
:
Kinh Tạp A Hàm-TA 187 - KINH 187. THAM DỤC

KINH 187. THAM DỤC
Tôi nghe như vầy

Một thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo: 

“Vì thành tựu một pháp, nên không có khả năng nhận biết sắc là vô thường; biết thọ, tưởng, hành, thức là vô thường. Một pháp được thành tựu là pháp nào? Tham dục, một pháp được thành tựu, nên không có khả năng nhận biết sắc là vô thường; biết thọ, tưởng, hành, thức là vô thường

“Thành tựu một pháp gì[93]? Đó là thành tựu pháp không tham dụcPháp không tham dục, có khả năng nhận biết sắc là vô thường; biết thọ, tưởng, hành, thức là vô thường.”

Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.

 

Như thành tựu và không thành tựu, đối với biết và không biết, gần và không gần, sáng và không sáng, hiểu và không hiểu, quan sát và không quan sát, suy lường và không suy lường, che giấu và không che giấu, gieo trồng và không gieo trồng, đè nén và không đè nén, che mờ và không che mờ lại cũng như vậy. Biết (tri) như vậy, thức như vậy, hiểu rõ (giải) như vậy, chấp nhận (cho), mong cầu, biện biệttiếp xúc, nhận thật lại cũng như vậy.

Như tham, đối với nhuế, si, sân, hận, mắng chưởi, chấp chặtganh ghétkeo kiệt, lừa dối, không hổ, không thẹn, mạn, mạn mạn, tăng mạn, ngã mạntăng thượng mạntà mạn, ty mạn, kiêu mạnbuông lungkiêu căngcống caoquanh cohình thức dối trá, dụ lợi, ác lợi, muốn nhiều, muốn thường không cung kính, miệng ác, tri thức ác, không nhẫn, tham đắm, hạ tham, ác tham; thân kiếnbiên kiếntà kiếnkiến thủgiới thủdục áisân nhuế, thùy miên, trạo hối, nghi, hôn túy, quanh quẹo, mạnh bạo, lười biếng, loạn tưởng, nhớ nghĩ không đúng, thân nhơ, không ngay thẳng, không dịu dàng, không khác; tầm cầu dục (dục giác), tầm cầu sân (sân giác), tầm cầu hại, tầm cầu thân thuộc, tầm cầu bờ cõi, tầm cầu nhẹ dễ, tầm cầu yêu nhà người, sầu ưu, não khổ. Đối với những thứ này tất cả cho đến: “bị che mờ, không có khả năng tác chứng sự đoạn diệt sắc. Pháp ấy là pháp nào? Là pháp khổ não, vì khổ não che mờ nên không có khả năng tác chứng sự đoạn diệt sắc, không có khả năng tác chứng sự đoạn diệt thọ, tưởng, hành, thức. Có một pháp không che mờ, nên có khả năng tác chứng sự đoạn diệt sắc và có khả năng tác chứng sự đoạn diệt thọ, tưởng, hành, thức. Pháp ấy là pháp nào? Là pháp khổ não, vì pháp này không che mờ nên có khả năng tác chứng sự đoạn diệt sắc và cũng có khả năng tác chứng sự đoạn diệt thọ, tưởng, hành, thức.

Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật đã dạy, vui mừng thực hành theo.

*
 

--------------------------------------------------------------------------------

[1]. Đại Chánh, quyển 7. Phật Quang, kinh 141.

[2]. Xem kinh 133.

[3]. Trong bản Hán: khởi cầu 起求, kinh 133: cầu đắc 求得, Pāli: pattam pariyesitam.

[4]. Phi thử thế ngã, phi thử thế ngã sở 非此世我, 非此世我所, xem kinh 133: phi thử ngã, phi thử ngã sở .

[5]. Nguyên trong bản Hán: tam-bồ-đề 三菩提.

[6]. Phật Quang, kinh 144. Pāli, S. 22. 150. Etaṃ mam; 24. 2. Etaṃ mama.

[7]. Pāli: ahaṃkāra-mamāṃra-mānābusaya, ngã, ngã sở, mạn tùy miên.

[8]. Phật Quang, kinh 147.

[9]. Phật Quang, kinh 148. Pāli, S. 22. 149. Ajjhattikṃ; 35. 105. Upādāya.

[10]. Phật Quang, kinh 149.

[11]. Tám thế pháp: đắc, thất, vinh, nhục, khen, chê, khổ, lạc.

[12]. Phật Quang, kinh 151. Pāli, S. 35. 108. Seyyo.

[13]. Phật Quang, kinh 152.

[14]. Phật Quang, kinh 153.

[15]. Phật Quang, kinh 154. Pāli, S. 22. 151. Esottā; 24. 3. So attā.

[16]. Quốc Dịch, tụng 1, tương ưng 3, phẩm iii, Phật Quang, kinh 155.

[17]. Hán: bỉ 彼, đây chỉ Đại Phạm thiên 大梵天; theo triết học Veda-Upanishad, ta và Brahman là một.

[18]. Pāli, S. 24. 5. Natthi (phần đầu).

[19]. Tức không có kết quả phước báo của sự bố thí. Pàli: natthi dinnaư.

[20]. Hán: hội 會, chỉ đại hội tế lễ. Pāli: yiṭṭham.

[21]. Hán: thuyết 說. Pāli: hutaṃ, vật cúng thần, con vật hy sinh; cũng chỉ lễ hiến tế hy sinh.

[22]. Nguyên Hán: chánh đáo chánh thú 正到正趣, chỉ các Thánh giả hữu học. Pāli: na’tthi loke samaṇa-brāmanā sammaggata sammā-paṭipannā ye imañ ca lokaṃ parañ ca lokaṃ sayaṃ abhiññā saccahikatvā pavedenti, trong đời này không có Sa-môn hay Bà-la-môn nào là những vị chánh hành, chánh hướng mà tự thân chứng nghiệm thế giới này hay thế giới khác.

[23]. Chủ trương tà kiến, không tin nhân quả. Một phần trong thuyết hư vô của Ajito Kesakambalī, một trong Lục sư ngoại đạo. Phần sau, nói ở kinh 158. Xem D. 2. Sāmañña-phala-sutta.

[24]. Pāli, S. 24. 7. Hetu (nhân).

[25]. Một phần trong chủ trương của Makkhali-Gosālo, một trong Lục sư ngoại đạo; xem Sāmañña-phala-sutta: (…) sabbe sattā (…) avasā abalā avīriyā niyati-saṅgati-bhāva-pariṇatā chass’evābhijātisu sukha-dukkha paṭisaṃvedenti, tất cả chúng sanh… không tự chủ, bất lực, không nghị lực, bị chi phối bởi định mệnhchuyển biến theo bản tánh, để mà thọ khổ hay lạc trong sáu chủng loại. 

[26]. Pàli, S. 24. 5. Natthi (phần sau).

[27]. Phần sau trong chủ trương đoạn diệt của Ajita Kesa-kambali; phần đầu nói trong kinh trên. D.i.55.

[28]. Tham chiếu Pāli: (…) bhassantāhutiyo; dattu-paññattaṃ yad idaṃ danaṃ, tesaṃ tucchaṃ musā vilāpo ye keci atthika-vādaṃ vadanti, vật cúng thành tro, bố thí là chuyện bày đạêt của người ngu; nói sau khi chết còn tồn tại là dối trá.

[29]. Pāli, S. 24. 7. Hetu.

[30]. Chủ trương của Makkhali-Gosāla, xem Sāmañña-phala-sutta (D.i.53): na’tthi hetu n’atthi paccayo sattānaṃ saṃkilesāya, không có nhân, không có duyên cho sự nhiễm ô của chúng sanh.

[31]. Pāli, S. 24. 5. Hetu.

[32]. Chủ trương của Makkhali-Gosāla, xem Sāmañña-phala-sutta (D.i.53): na’tthi hetu n’atthi paccayo sattānaṃ visuddhiyā, không có nhân, không có duyên cho sự thanh tịnh của chúng sanh.

[33]. Pāli, S. 24. 7. Hetu.

[34]. Phật Quang, kinh 162.

[35]. Pāli, S. 24. 8. Mahādiṭṭhi; tham chiếu Sāmañña-phala-sutta, D.i.56.

[36]. Chủ trương của Pakudha Kaccāyana.

[37]. Pāli, 24. 6. Karoto.

[38]. Chủ trương của Pūraṇa Kassapa, xem Sāmañña-phala-sutta, D.i.52.

[39]. Quốc Dịch, phẩm iv, quyển 7. Pāli, S. 24. 8. Mahādiṭṭhi.

[40]. 14 x 100 x 1.000 = 1.400.000 sanh môn, cửa thọ sanh hay sanh loại. Pāli: yoni-pamukkha, cửa thọ sanh hàng đầu, hàng ưu sinh.

[41]. Câu này, trong bản Hán, vì được dịch sát theo tiếng Phạm, nên cần chấm câu lại để dịch cho đúng. So sánh Pāli: imāni yoni-pamukkha-satasahassāni saṭṭthiñ ca satāni cha ca satāni: có một triệu bốn trăm (1.400.000) sanh môn tối thượng và sáu ngàn và sáu trăm (sanh môn khác nữa).

[42]. Bản Pāli: pañca ca kammuno satāni pañca ca kammāni, có năm trăm loại nghiệp và có năm nghiệp…

[43]. Pāli: dvaṭṭhi paṭipadā, có sáu mươi hai đường lối hành đạo.

[44]. Pāli: antara-kappa: kiếp trung giantrung kiếp.

[45]. Nê-lê 泥黎, tức địa ngục. Pāli: tiṃse niriya-sate, ba ngàn địa ngục.

[46]. Pāli: vīse indriya-sate, hai ngàn căn.

[47]. Pāli: Chattiṃsa rajo-dhātuyo, ba mươi sáu trần giới (cõi vi trần); bản Hán đọc là rāga-dhātuyo: tham giới 貪界.

[48]. Pāli: ekūna-paññāsa paribbājaka-sate, bốn ngàn chín trăm du sĩ (xuất giangoại đạo.

[49]. Pāli: satta saññī-gabbhā satta asaññī-gabbhā, 7 tưởng thai và 7 vô tưởng thai. Trong bản Hán, đọc là (a)saññī-kappā (kiếp có tưởng).

[50]. Pāli: satta sarā, bảy hồ nước lớn.

[51]. Pāli: chābhijātiyo, sáu sanh loại ưu thắng, chỉ sáu giai cấp.

[52]. Pāli: sandhāvitvā saṃsaritvā dukkhass’ antaṃ karissanti, lưu chuyển luân hồi (qua tất cả thời gian và chủng loại kể trên, cuối cùng mới) sẽ cứu cánh khổ biên, hoàn toàn chấm dứt khổ.

[53]. Trên đây là một phần trong thuyết “Luân hồi tịnh hóa” (Pāli: saṃsāra-suddhiṃ) của Makkhali-Gosala. Tham chiếu Sāmañña-phala-sutta, D.i.53-54.

[54]. Pāli, S. 22. 24. 1, 19, 45. Vātā.

[55]. Pāli: na candimasūriyā udenti vā apenti vā esikaṭṭhayiṭṭhitā ti, mặt trăng và mặt trời không mọc hay lặn, mà đứng một chỗ như trụ đá.

[56]. Phật Quang, kinh 167. 

[57]. Pāli, S. 24.. 37-44. Rūpī attā, v.v…

[58]. Pāli: rūpī attā hoti arogo paraṃ maraṇā ti, tự ngã có sắc, sau khi chết không bệnh.

[59]. Phật Quang, kinh 169.

[60]. Xem cht.58, kinh 166.

[61]. Pāli, S. 24. 9-18. Sassato loko v.v…

[62]. Đoạn này tương đương Pāli, S. 24. 9-10. Sassato loko v.v…

[63]. Đoạn này tương đương Pāli, S. 24. 11-12. Antavā v.v…

[64]. Pāli, S. 23. 13-14: taṃ jīvaṃ taṃ sarīraṃ.

[65]. Pāli, S. 24. 15-18: hoti tathāgato v.v…

[66]. Phật Quang, kinh 171.

[67]. Phật Quang, kinh 172.

[68]. Phật Quang, kinh 173.

[69]. Quốc Dịch, phẩm v. Ấn Thuận, “36 Tương ưng Tri” (Đại Chánh kinh 172-187). Phật Quang, kinh 174.

[70]. Phật Quang, kinh 175.

[71]. Phật Quang, kinh 176.

[72]. Ấn Thuận liệt kê một trăm mười tám kinh.

[73]. Từ “Đoạn” đến “Xả” có tất cả sáu kinh.

[74]. Thí dụ chữa lửa đang cháy trên đầu. Quốc Dịch, phẩm vi.

[75]. Tất cả tám kinh. 

[76]. Ấn Thuận liệt kê bốn trăm bảy mươi hai kinh (từ 2937-3408).

[77]. An trụ nơi thân quán. Phật Quang, kinh 178.

[78]. Tức tu tập bốn Niệm xứ.

[79]. Ấn Thuận phân tích thành một trăm mười tám kinh.

[80]. An trụ với sự quán thân.

[81]. Quốc Dịch, phẩm vii.

[82]. Phật Quang, kinh 181.

[83]. Bốn Như ý túc hay bốn Thần túc: dục định đoạn hành thành tựu như ý túc, hoặc nói: dục tam-ma-địa thắng hành thần túc, “Như ý túc được thành tựu do không ngưng chuyên cần với (bốn) Chánh đoạn để tập trung (định) trên một ước muốn (đối với một phép thần thông nào đó).” Tiếp theo, tâm tam-muội, tinh tấn tam-muội và tư duy tam-muội, với công thức như dục tam-muội.

[84]. Xem kinh 175. Ấn Thuận liệt kê và phân tích thành một ngàn một trăm ba mươi hai (1132) kinh.

[85]. Xem kinh 175. Ấn Thuận: một ngàn một trăm bốn mươi (1140) kinh.

[86]. Tức niệm giác chi, trong bảy giác chi.

[87]. Ấn Thuận: một ngàn một trăm năm mươi sáu (1156) kinh.

[88]. Ấn Thuận: một ngàn một trăm sáu mươi bốn (1164) kinh.

[89]. Ấn Thuận: một ngàn một trăm ba mươi hai (1132) kinh.

[90]. Bốn pháp cú, hay bốn pháp tích, xem Tập Dị Môn Luận 6. Xem D. 33. Saṅgiti: cattāri dhammapadāni: anabhijjhā dhammapadaṃ, avyāpādo dhammapadaṃ, sammā-sati dhammapadṃ, sammā-samādhi dhammapdaṃ, vô tham pháp tích, vô sân pháp tích, chánh niệm pháp tích, chánh định pháp tích.

[91]. Ấn thuận: một ngàn một trăm ba mươi hai (1132) kinh.

[92]. Đoạn này, Ấn Thuận tách thành một kinh riêng.

[93]. Để có khả năng nhận biệt sắc v.v… là vô thường.
 
 

.

© Nikaya Tâm Học 2024. All Rights Reserved. Designed by Nikaya Tâm Học

Giới thiệu

Nikaya Tâm Học là cuốn sổ tay internet cá nhân về Đức Phật, cuộc đời Đức Phật và những thứ liên quan đến cuộc đời của ngài. Sách chủ yếu là sưu tầm , sao chép các bài viết trên mạng , kinh điển Nikaya, A Hàm ... App Nikaya Tâm Học Android
Live Statistics
43
Packages
65
Dropped
18
Invalid

Tài liệu chia sẻ

  • Các bài kinh , sách được chia sẻ ở đây

Những cập nhật mới nhất

Urgent Notifications